Môc lôc
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Nội dung
1 TSLĐ Tài sản lưu động
2 ĐTTC Đầu tư tài chính
3 ĐT Đầu tư
4 TSCĐ Tài sản cố định
5 TSHH Tài sản hữu hình
6 TSVH Tài sản vô hình
7 CFXDCB Chi phí xây dựng cơ bản
8 CF Chi phí
9 KH-TT Kế hoạch - tiêu thụ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay trong cơ chế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhất là khi nước ta
ra nhập tổ chức thương mại quốc tế ( WTO ). Cơ hội và thách thức đối với các doanh
nghiệp ngày càng nhiều. Để tồn tại và phát triển lâu dài các doanh nghiệp Việt Nam
phải thường xuyên đổi mới, đổi mới về mẫu mã sản phẩm, chất lượng sản phẩm, đổi
mới cơ cấu tổ chức của công ty và phải biết linh hoạt với sự biến đổi của thị trường.
Nói cách khách để làm được những điều đó thì doanh nghiệp phải tiêu thụ được sản
phẩm mình sản suất ra, tiêu thụ là khâu cuối cùng trong công tác sản xuất và kinh
doanh của doanh nghiệp, nó quyết định sự sống còn của công ty, vì có tiêu thụ được
sản phẩm công ty mới có thể quay vòng vốn và tiếp tục tái sản xuất kinh doanh.
Công ty cổ phẩn Cồn Rượu Hà Nội đã ra đời, tồn tại và phát triển hơn 100 năm
nay, trải qua nhiều khó khăn thử thách công ty dần dần khẳng định mình trên thị
trường. Trong những năm gần đây công ty không ngừng nâng cao đổi mới chất lượng
sản phẩm, và ngày càng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, sản phẩm của công ty
rất phong phú đa dạng, được nhiều người tiêu dùng biết đến đặc biệt là sản phẩm
rượu Vodka. Rượu Vodka Hà Nội ra đời năm 2001 sản phẩm này ngày càng chiếm
được sự ưa chuộng tại thị trường nội địa, sản lượng tiêu thụ tăng đột biến qua các
năm, rượu Vodka chiếm tỉ trọng lớn nhất trong cơ cấu số lượng sản phẩm của công ty
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1. Khái quát chung về sự ra đời và phát triển của công ty cổ phần Cồn Rượu
Hà Nội.
1.1. Thông tin chung về doanh nghiệp.
Tên doanh nghiệp: Công ty cổ phần Cồn Rượu Hà Nội.
Tên tiếng anh: Hanoi Liquor Company.
Tên giao dịch: HALICO
Hình thức pháp lý: Công ty cổ phần
Địa chỉ: 94 Lò Đúc – Hai Bà Trưng – Hà Nội.
Điện thoại: (04)8213147 / 9713249
Fax: (04) 9783575
Email: [email protected]
Website: www.halico.com.vn
Tài khoản: 1500.311.000007 Ngân hàng Nông Nghiệp Thành Phố Hà Nội.
Mã số thuế: 0100102245.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty.
Công ty cổ phần Cồn Rượu Hà Nội trước đây là nhà máy Rượu Hà Nội. Nhà máy
Rượu Hà Nội là nhà máy rượu Fontaine của thực dân Pháp được xây dựng vào năm
1898 ( hãng Fontaine còn có nhà máy rượu ở Hải Dương, Nam Định (Bắc Kỳ), Bình
Tây
( Nam Kỳ)). Diện tích toàn bộ 4,2 ha, tường bao quanh ở 4 mặt phố Lò Đúc – Hòa
Mã – Ngô Thì Nhậm và Nguyễn Công Trứ.
Các giai đoạn phát triển của công ty được chia làm các giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Từ năm 1989 – 1945
Trong thời gian này nhà máy sản xuất ra các loại rượu, cồn thô dùng để pha chế
các loại rượu trắng và một số loại rượu màu, rượu thuốc. Người Pháp dùng gạo sản
xuất ra cồn không tinh chế mang tính chất đầu độc dân ta, tới năm 1939 thì sản xuất
( do thế lực của Pháp bị giảm trước Nhật, năm 1941 thì ngừng hẳn ). Trong thời gian
này mỗi năm nhà máy sản xuất được 4 – 5 triệu lít còn và khoảng 10 triệu lít rượu các
loại.
Năm 1975 khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhà máy cử một đoàn cán bộ đi
thực tập ở Liên Xô về thiết bị và công nghệ rượu. Khi trở về đoàn có phương án đề
xuất nhập thiết bị tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của nhà máy. Năm
1978, bộ công nghiệp thực phẩm cho phép nhập hệ thống tháp chưng cất của Pháp do
hãng Sodecial chế tạo, việc xây lắp đến đầu năm 1985 thì hoàn thành và năm 1986
Tống Thị Kim Oanh Lớp: Công nghiệp 45A
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đưa vào sử dụng. Năm 1982 Nhà máy rượu cùng với Nhà máy Bia Hà Nội, Nhà máy
Thủy Tinh Hải Phòng và phòng nghiên cứu rượu bia sát nhập thành xí nghiệp Liên
hiệp Rượu – Bia – Nước giải khát I. Năm 1989, theo quyết định 217 của bộ công
nghiệp thực phẩm, nhà máy đã tách thành một đơn vị hạch toán độc lập tự chủ trong
hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong thời gian này, hoạt động xuất khẩu của nhà
máy bị đình trệ do ảnh hưởng của sự biến động chính trị ở Liên Xô và các nước
Đông Âu.
Giai đoạn 4: Từ năm 1990 đến nay.
Năm 1990, do sự tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật và công nghệ trên
thế giới, Nhà máy đã áp dụng phương pháp lên men trực tiếp. Với phương pháp này,
Nhà máy đã giảm được lao động nặng nhọc cho người lao động, tiết kiệm chi phí, tạo
cho người lao động một cuộc sống ổn định hơn.
Năm 1991, Nhà máy phải thực hiện luật thuế tiêu thụ đặc biệt cho sản phẩm rượu
bia do Nhà nước ban hành làm cho giá sản phẩm tăng lên từ 1,5 đến 2 lần dẫn đến
việc tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, sản xuất bị đình trệ, công nhân phải nghỉ chờ việc.
Năm 1992 Nhà máy thực hiện một số biện pháp để khắc phục khó khăn như: Đầu tư
tiền để lắp đặt xây dựng dây chuyền sản xuất bia với công suất 3000 – 5000 lít / ngày
phục vụ nhu cầu hàng ngày của người dân và tìm cách nghiên cứu, phát triển những
sản phẩm mới, tận dụng những nguyên vật liệu có sẵn trong nước.
Năm 1993 do một phần Nhà nước điều chỉnh luật thuế tiêu thụ đặc biệt, tránh đánh
thuế trùng nên đã làm cho giá thành sản phẩm giảm xuống, sản lượng tiêu thụ tăng
lên phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và được thị trường chấp nhận.
2. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của công ty.
2.1. Đặc điểm sản phẩm.
Rượu là một mặt hàng đặc biệt, Nhà nước cấm quảng cáo bởi đây là mặt hàng gây
hại cho sức khỏe cho con người nếu người sử dụng không biết cách dùng. Rượu là
một chất kích thích thần kinh gây nghiện nếu con người sử dụng cùng một lúc và
thường xuyên thì về lâu dài gây ảnh hưởng đến sức khỏe, con người không làm chủ
được hành động của bản thân mình, gây ra những hậu quả khó lường cho chính bản
thân, cho người xung quanh và cho xã hội. Rượu là một mặt hàng có tính hai mặt,
nếu biết cách dùng thì nó là chỉ là một thứ đồ uống, thuận tiện trong các buổi tiệc,
trong các cuộc tiếp khách. Ngoài ra, sản phẩm để chế biến rượu chính là cồn, đây là
một sản phẩm quan trọng trong ngành y để sát trùng vết thương. Cồn và Rượu còn là
dung môi quan trọng của một số ngành công nghiệp khác. Tuy nhiên, do rượu là mặt
Tống Thị Kim Oanh Lớp: Công nghiệp 45A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hàng nhạy cảm nên để hạn chế tác hại của nó nên Nhà nước nghiêm cấm quảng cáo
các loại sản phẩm này trên các phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động sản xuất
kinh doanh của ngành rượu luôn được Nhà nước quản lý chặt chẽ do đó ngành rượu
là một ngành chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.
Sản phẩm của công ty rất phong phú và đa dạng, nhiều mẫu mã và chủng loại khác
nhau, điển hình là một số loại rượu sau:
- Rượu Nếp Mới và Lúa Mới được nấu từ loại ngũ cốc giàu tinh bột. Rượu đạt độ
tinh khiết cao, trong suốt và không có vẩn đục lạ.
- Rượu Whisky Halico được sản xuất từ cốt Whisly của sứ Scotland. Rượu
Whisky Hà Nội được người tiêu dùng ưa thích và sử dụng rộng rãi.
- Vang chát Hà Nội là loại vang đỏ
- Champagne đã được bằng khen tại hội chợ quốc tế hàng công nghiệp Việt Nam,
đạt giải cao tại các cuộc thi rượu vang quốc tế các năm 2002, 2003.
- Rượu Anh Đào là loại rượu nhẹ, rượu của phụ nữ, rượu có màu đỏ.
- Thanh Mai là một loại rượu chiết suất từ một loại bơ.
thuật cơ
điện.
Kế
toán
trưởng
Trưởng phòng tổ
chức Lao Động
Tiền Lương.
Trưởng phòng hành
chính
Trưởng phòng vật
tư.
Trưởng phòng kế
hoạch tiêu thụ.
Giám đốc xí nghiệp
sản xuất rượu mùi.
Giám đốc xí nghiệp
sản xuất cồn.
Giám đốc xí nghiệp
phục vụ.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Theo mô hình người đứng đầu công ty là Giám đốc: Giám đốc là người chịu trách
nhiệm phụ trách chung, chỉ đạo toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và
là người đại diện hợp pháp của công ty.Dưới giám đốc chính là:
- Phó giám đốc: Gồm có phó giám đốc kinh doanh, phó giám đốc kỹ thuật, là
người tham mưu cho giám đốc trong mọi lĩnh vực sản xuất, kỹ thuật và hoạt động
kinh doanh của công ty.
- Kế toán trưởng: Phụ trách chung hoạt động tài chính cho công ty, là người
tham mưu cho giám đốc
Giám đốc và các phó Giám đốc tùy theo chức năng nhiệm vụ phụ trách các bộ
Chuyên kiểm tra công nghệ sản xuất rượu, kiểm tra chất lượng sản phẩm rượu,
kiểm tra cấp bậc công nhân, cải tiến bao bì mẫu mã, chỉ đạo kỹ thuật sản xuất rượu,
quản lý bảo đảm giống men và hóa chất
Phòng kỹ thuật công nghệ
Kiểm tra, nghiên cứu biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm, vệ sinh công nghệ
thực phẩm.
Phòng kỹ thuật cơ điện
Quản lý các kỹ thuật cơ điện, lên các định mức kinh tế kỹ thuật cơ khí, lập kế
hoạch sửa chữa, lập các phương án cải tạo, quản lý thiết bị điện nước, quản lý máy
móc nhà xưởng.
Các xí nghiệp thành viên.
- Xí nghiệp rượu mùi: Là một xí nghiệp sản xuất chính có nhiệm vụ sản xuất các
loại rượu mùi như rượu cam, rượu nho, nếp cẩm, lúa mới… Bộ máy của xí nghiệp
gồm có 6 người trong đó có 1 giám đốc xí nghiệp làm nhiệm vụ chung, 1 phó giám
đốc nhiệm vụ điều hành sản xuất trc tiếp rượu mùi và rượu vang, 2 đốc công, 1 kỹ sư
và 1 nhân viên.
- Xí nghiệp cồn: Là xí nghiệp sản xuất chính có nhiệm vụ sản xuất cồn, vừa tham
gia sản xuất các loại sản phẩm khác vừa đem tiêu thụ trên thị trường. Bộ máy quản lý
xí nghiệp gồm 7 người, trong đó có 1 giám đốc, 1 phó giám đốc, 2 kỹ sư và 3 đốc
công.
- Xí nghiệp phục vụ: Là xí nghiệp phụ trợ có nhiệm vụ phục cho các xí nghiệp sản
xuất chính như sửa chữa máy móc thiết bị, đảm bảo hệ thống điện toàn công ty. Bộ
máy quản lý xí nghiệp gồm 3 người trong đó có 1 giám đốc, 1 phó giám đốc và 1 kỹ
sư.
2.3. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm rượu Vodka Hà Nội.
Tống Thị Kim Oanh Lớp: Công nghiệp 45A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Để sản xuất sản phẩm có chất lượng cao thì quy trình công nghệ đóng vai trò hết
sức quan trọng. Một quy trình công nghệ hợp lý không những tạo ra sản phẩm đảm
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất rượu Vodka Hà Nội.
Chỉ tiêu chất lượng.
Chỉ tiêu cảm quan:
- Trạng thái: Chất lỏng trong suốt, không có vẩn đục và tạp chất lạ
- Màu sắc: Không màu
- Mùi vị: Có mùi và vị đặc trưng của rượu lên men từ ngũ cốc.
Chỉ tiêu lý, hóa: Mức đăng ký.
Hàm lượng etanola ở 20
0
40 +- 0,5% V
Hàm lượng axit chuyển ra axit axetic 1 lít rượu 100
0
<= 12 mg/l
Hàm lượng aldehyd chuyển sang aldehyd acetic <= 8 mg/l
trong 1 lít rượu 100
0
Hàm lượng este chuyển ra este etylacetat trong 1 lít rượu 100
0
<= 50 mg/l
Hàm lượng rượu bậc cao theo tỉ lệ hỗn hợp. <=50 mg/l
Hàm lượng metanola <= 0,03% V
Hàm lượng Fucfurol 0
Với quy trình công nghệ sản xuất rượu Vodka như trên thì có thể thấy rằng để sản
xuất được sản phẩm đưa ra thị trường và được người tiêu dùng chấp nhận thì người
sản xuất phải là những người am hiểu và giàu kinh nghiệm. Tuy công nghệ sản xuất
không mấy khó khăn nhưng nó đòi hỏi người sản xuất phải rất cẩn thận vì chỉ một sơ
xuất nhỏ là sản phẩm bị hỏng hoặc là không đạt chất lượng. Quy trình công nghệ để
sản xuất ra rượu Vodka rất quan trọng vì nếu sản phẩm đưa ra thị trường mà có một
như vậy là do công ty đã thực hiện bước chuyển đổi từ công ty Rượu Hà Nội sang
công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Rượu Hà Nội và nay đổi
thành công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội.
2.4.2. Đặc điểm khách hàng của công ty.
Các nhóm khách hàng của công ty rất phong phú đa dạng, vì thế để đáp ứng nhu
cầu của từng loại khách hàng khác nhau công ty đã cho ra các loại sản phẩm khác
nhau phù hợp với thu nhập của các khách hàng.
Phân loại khách hàng theo thu nhập.
- Đối với nhóm khách hàng có thu nhập khá cao: Công ty đưa ra các dòng sản
phẩm có mức giá tương đối cao, chất lượng lại tốt như: Whisky, Vodka xanh, Vodka
đỏ.
Tống Thị Kim Oanh Lớp: Công nghiệp 45A
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Đối với nhóm khách hàng có thu nhập trung bình: Công ty đưa ra các dòng sản
phẩm có mức giá vừa phải như: Lúa mới, Nếp mới 45
0,
Nếp mới 40
0
. Nếp cẩm 25
0
.
- Đối với nhóm khách hàng có thu nhập thấp: Công ty có dòng sản phẩm với mức
giá phù hợp như: Nếp mới nước 35
0
, Hà Nội nước 35
0
.
Phân loại khách hàng theo giới tính.
- Đối với nhóm khách hàng nữ giới: Công ty có dòng sản phẩm rượu có nồng độ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
10 Đường ngâm quả Tấn Nội địa
11 Ketcarton Bộ Nội địa
12 Nhãn các loại Bộ Nội địa
13 Hương cam Lít Nhập ngoại
14 Nút nhôm Cái Nhập ngoại
15 Emzim Kg Nhập ngoại
16 Chai Cái Nội địa
( Nguồn: Phòng vật tư)
Từ bảng số liệu trên ta thấy rằng, nguyên vật liệu để sản xuất rượu của công ty
chủ yếu là từ trong nước vì Việt Nam là một nước nông nghiệp, nguyên vật liệu để
sản xuất rượu rất lớn, dồi dào và sẵn có do đó nguyên liệu của công ty hầu như trong
nước, nhập khẩu là rất ít. Tuy nhiên, không phải lúc nào công ty cần nguyên vật liệu
thì thị trường cũng đáp ứng tốt và đầy đủ đảm bảo đúng số lượng và chất lượng. Do
đó, để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty được diễn ra liên tục
không bị gián đoạn thì công ty cần làm tốt khâu thu mua nguyên vật liệu, dự trữ vừa
đủ nguyên vật liệu để mỗi khi nhu cầu rượu trên thị trường tăng cao nhất là trong dịp
tết thì công ty sẽ có đủ nguyên liệu để đáp ứng kịp thời nhu cầu cầu của thị trường.
Nếu không làm tốt khâu thu mua, bảo quản nguyên vật liệu sẽ có ảnh hưởng rất lớn
đến công tác tiêu thụ, nguyên vật liệu không được bảo quản tốt dẫn đến khi đem vào
sản xuất chất lượng rượu không được tốt, từ đó sản phẩm khó tiêu thụ, hoặc có tiêu
thụ được thì khách hàng cũng không hài lòng và có thể dẫn đến tình trạng mất khách
hàng. Hiện nay công việc thu mua nguyên liệu của công ty do phòng vật tư đảm
nhiệm, phòng vật tư ngoài nhiệm vụ đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất còn làm
nhiệm vụ lập kế hoạch thu mua mua, tìm kiếm khai thác nguồn nguyên liệu mới cho
công ty. Đảm bảo duy trì tốt mối quan hệ giữa công ty và các nhà cung ứng nguyên
liệu đầu vào.
2.6. Đặc điểm lao động và tiền lương của công ty.
BẢNG 3: CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO TRÌNH ĐỘ CỦA CÔNG TY
Đơn vị: Người
Trình độ đại học
Trình độ cao đẳng, trung cấp
Công nhân được thi nâng bậc
220
105
295
35,48
16,94
47,58
170
100
208
35,56
20,92
43,52
184
116
175
38,74
24,42
36,84
( Nguồn: Phòng tổ chức lao động tiền lương)
Từ bảng số liệu 2 ta thấy, tổng số lượng lao động giảm dần qua các năm, điều này
chứng tỏ công ty đã thực hiện biện pháp tinh giảm lao động, cụ thể như sau:
Năm 2004 lao động trực tiếp là 420 người chiếm 67,74%, lao động gián tiếp là
200 người chiếm 32,26 %. Năm 2005 lượng lao trực tiếp giảm xuống còn 300 người
chiếm 62,76%, lao động trực tiếp giảm xuống còn 178 người chiếm 37,24 %. Điều
này cho thấy rằng lao động trực tiếp giảm nhiều hơn lao động gián tiếp, nguyên nhân
có thể là do công nhân được đi học nâng cấp bậc, hoặc là một số công nhân nghỉ việc
do họ tìm được công việc mới, hoặc là do công nhân phải nghì chờ việc. Đến năm
( Nguồn: phòng tổ chức lao động tiền lương)
Nhìn vào bảng 4 ta thấy, luơng bình quân của cán bộ công nhân viên trong công
ty đã tăng dần qua các năm. Nếu như năm 2004 mức lương bình quân là 1,3 triệu
đồng thì đến năm 2005 mức lương tăng lên là 2 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng so với
năm 2004 là 53,85%. Sở dĩ có điều này là do năm 2005 số lượng lao động giảm đi
nhiều so với năm 2004, do đó đời sống của cán bộ công nhân viên được cải thiện.
Năm 2006 mức lương bình quân là 2,6 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng so với năm
2005 là 30%. Tuy vậy, tốc độ tăng trưởng của mức lương bình quân năm 2006 không
bằng năm 2005. Nguyên nhân là số lượng lao động của năm 2006 giảm ít hơn năm
2005. Cụ thể, từ năm 2004 đến năm 2005 tổng số lượng lao động của công ty giảm từ
620 người xuống còn 478 người, tức là giảm 142 người. Trong khi đó, từ năm 2005
đến năm 2006 tổng số lượng lao động giảm từ 478 người xuống còn 475 người, tức
là giảm 3 người. Một con số quá nhỏ so với mức giảm của năm 2005.
Nhìn lại một cách tổng quát về số lượng lao động cũng như mức lương bình quân
của cán bộ công nhân viên công ty cổ phần Cồn Rượu Hà Nội ta thấy được rằng.
Công ty đã có những biện pháp tinh giảm số lượng lao động để nâng cao đời sống
của cán bộ công nhân viên. Điều này phản ánh rõ nét hiệu quả sản xuất kinh doanh
của công ty, trong đó công đầu tiên là nhờ trong vài năm gần đây rượu Vodka của
công ty được tiêu thụ tốt dẫn đến lợi nhuận của công ty tăng đáng kể.
2.7. Đặc điểm về tài chính của công ty.
BẢNG 5: BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Tống Thị Kim Oanh Lớp: Công nghiệp 45A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đơn vị : triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm
2004
Năm
2005
118,81
103,79
127
76,62
142,89
110,45
110,84
115,44
110,28
93,11
129,35
TSCĐ và ĐT dài hạn
- TSCĐ
+ TSHH
+TSVH
- ĐTTC dài hạn
- CFXDCB dở dang
- CF trả trước dài hạn
10.587
5.334
3.904
1.430
2.452
2.178
623
12.465
6.307
4.942
1.365
3.148
1.670
7.867
5.452
-
2.415
7.101
5.098
-
2.003
99,08
126,94
-
144,61
90,26
93,51
-
82,94
Vốn chủ sở hữu
-Vốn kinh doanh
-Quỹ và dự trữ
19.792
9.180
10.612
22.852
10.921
11.931
28.729
12.971
15.758
174,51
sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Cồn Rượu Hà Nội.
1.1. Vài nét về đặc điểm rượu Vodka Hà Nội.
Vodka là loại mạnh không màu, Vodka mang hai loại nhãn đó là xanh và đỏ, thể
hiện đôi chút khác biệt. Vodka xanh được chưng cất từ gạo còn Vodka đỏ được nấu
từ ngũ cốc và ngô. Vodka thường được cất từ các hạt mễ cốc nghiền nhừ, lên men và
lọc bằng than để khử mùi. Vodka không nhất thiết phải qua khâu ủ, nhưng cần được
xử lý nhằm loại bỏ hương vị và màu sắc để trở thành trong suốt, không mùi. Đây loại
rượu dễ bay hơi có thể pha chế với nhiều trái cây và các hỗn hợp đồ uống khác.
Vodka vốn được sản xuất ở Nga và Ba Lan từ thế kỷ 12. Loại Vodka trung tính
rất được giới pha cocktail ưa chuộng, vì nó không mang mùi hương nên khi pha vào
đồ uống không làm mất vị quả, mà lại gia tăng độ rượu cho đồ uống. Vodka có khả
năng kích thích tiêu hóa và làm ấm cơ thể, lại rất tinh khiết nên ít gây tác dụng phụ.
1.2. Hoạt động tiêu thụ rượu Vodka của công ty cổ phẩn Cồn Rượu Hà Nội.
Tống Thị Kim Oanh Lớp: Công nghiệp 45A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
“Tiêu thụ là tổng thể các biện pháp về mặt tổ chức, kinh tế và kế hoạch nhằm thực
hiện việc nghiên cứu và nắm nhu cầu thị trường, tổ chức sản xuất, tiếp nhận sản
phẩm, chuẩn bị hàng hóa và xuất bán theo yêu cầu của khách hàng với chi phi kinh
doanh là nhỏ nhất.” ( giáo trình quản trị chức năng thương mại của doanh nghiệp
công nghiệp- ĐH KTQD)
Hiện nay công tác tiêu thụ sản phẩm của công ty cổ phần Cồn Rượu Hà Nội do
phòng kế hoạch tiêu thụ đảm nhận. Trong một vài năm gần đây công tác tiêu thụ
được đặc biệt chú trọng hơn vào sản phẩm rượu Vodka, vì đây là sản phẩm mà hiện
nay được người tiêu dùng ưa chuộng và đánh là là sản phẩm có chất lượng cao. Dưới
đây là mô hình của phòng kế hoạch tiêu thụ.
Sơ đồ 3: Tổ chức phòng kế hoạch tiêu thụ
Phòng kế hoạch tiêu thụ gồm có 1 trưởng phòng phụ trách chung và 1 phó phòng
phụ trách việc xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, quản lý thị trường và đại lý, 1
nhân viên quản lý kho thành phẩm, 1 nhân viên viết hóa đơn bán hàng, 2 nhân viên
Qua đó, công ty có thể xây dựng kế hoạch sản xuất tiêu thụ cho năm tiếp theo. Bên
cạnh đó, Phòng KH-TT làm nhiệm vụ tiếp các khách hàng- các đại lý, các cửa hàng
tiêu thụ sản phẩm của công ty. Các nhân viên thị trường lập hợp đồng mua bán với
khách hàng, tiếp xúc, tìm hiểu về khách hàng trong thị trường mình quản lý.
Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm rượu nói chung và rượu Vodka Hà Nội nói riêng được
công ty chia ra làm các giai đoạn như sau:
BẢNG 4: CÁC GIAI ĐOẠN TIÊU THỤ RƯỢU VODKA CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN CỒN RƯỢU HÀ NỘI
1.Giai đoạn trước bán
hàng
- Nghiên cứu thị trường và khách hàng
- Xây dựng chiến lược và chính sách tiêu thụ
- Hoạch định chương trình bán hàng
- Chuẩn bị về hàng hóa, về tổ chức và về nhân sự.
2. Giai đoạn bán hàng
- Tìm kiếm khách hàng
- Thương lượng và đàm phán với khách hàng
- Thực hiện thỏa thuận với khách hàng.
- Thực hiện các hoạt động hỗ trợ bán hàng.
3. Giai đoạn sau bán
hàng
- Thực hiện các dịch vụ sau bán hàng
- Làm báo cáo về tiêu thụ và tổng kết về tiêu thụ
(Nguồn: Phòng kế hoạch tiêu thụ)
Tống Thị Kim Oanh Lớp: Công nghiệp 45A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong 3 giai đoạn trên thì công ty đã chú trọng nhất vào giai đoạn 1 ( giai đoạn
trước bán hàng). Vì, doanh nghiệp phải đưa ra sản phẩm mà thị trường cần chứ
không phải cái doanh nghiệp có, hoạt động sản xuất kinh doanh thì bất cứ doanh
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đánh là là sản phẩm có chất lượng cao nhất, do vậy mà sản lượng tiêu thụ sản phẩm
này chiểm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số các sản phẩm được công ty đem ra bán trên
thị trường. Vì vậy, hoạt động tiêu thụ sản phẩm rượu Vodka có vai trò rất quan trọng
đối với công ty cổ phần Cồn Rượu Hà Nội. Trong vài năm gần đây nhờ tiêu thụ dòng
sản phẩm này mà công ty đã tăng doanh thu và lợi nhuận một cách đáng kể, đời sống
của cán bộ công nhân viên trong côn ty được cải thiện, thêm vào đó công ty đã có
điều kiện đổi mới một số máy móc trang thiết bị đã cũ.
Ngoài ra, công tác tiêu thụ sản phẩm là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu
dùng, thông qua hoạt động tiêu thụ rượu Vodka mà công ty có thể biết được người
tiêu dùng đánh giá sản phẩm của mình đến mức độ nào và từ đó công ty có thể đưa ra
kế hoạch sản xuất kinh doanh cho chu kỳ tiếp theo để luôn làm hài lòng người tiêu
dùng.
1.3.2. Vai trò đối với xã hội.
Công tác tiêu thụ sản phẩm nói chung và công tác tiêu thụ rượu Vodka Hà Nội nói
riêng nó có vai trò làm cân đối giữa cung và cầu trên thị trường, nhằm làm thỏa mãn
nhu cầu của người tiêu dùng. Mặt khác, nó là điều kiện để từ đó doanh nghiệp thực
hiện tái sản xuất kinh doanh. Nhờ hoạt động tiêu thụ sản phẩm tốt doanh nghiệp có
thể mở rộng thị phần và từ đó tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động.
2. Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm rượu Vodka tại công ty cổ phần
Cồn Rượu Hà nội.
2.1. Điều tra nghiên cứu thị trường về rượu Vodka Hà Nội
Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung và công ty cổ phần Cồn
Rượu nói riêng việc nghiên cứu thị trường là quan trọng và cần thiết trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty. Nghiên cứu thị trường để biết được nhu cầu và thị
hiếu của người tiêu dùng. Ngoài ra, nghiên cứu thị trường để doanh nghiệp có thể lên
được kế hoạch tiêu thụ sản phẩm và định giá bán sản phẩm.
Kết quả công tác điều tra nghiên cứu thị trường về nhu cầu sử dụng sản phẩm
rượu Vodka của công ty cổ phần Cồn Rượu Hà Nội như sau:
- Chủ yếu giành cho những người có thu nhập cao
nguyên liệu tốt hơn ngô vì vậy giá nguyên vật liệu nhập vào của gạo đắt hơn ngô.
Điều này dẫn đến giá bán của rượu Vodka xanh đắt hơn Vodka đỏ đôi chút.
2.3. Kênh tiêu thụ sản phẩm rượu Vodka Hà Nội của công ty.
Tống Thị Kim Oanh Lớp: Công nghiệp 45A
24
Đại lý bán buôn
Bán buôn
Đại lý bán lẻ
Bán buôn
Bán lẻ
Người
tiêu
dùng
cuối
cùng
Công
ty
cổ
phần
Cồn
Rượu
Hà Nội
Công ty xuất nhập
khẩu ngoài nước
Công ty xuất nhập
khẩu trong nước