Phân tích kết quả tiêu thụ sản phẩm xi măng ở Công ty cổ phần Constrexim Bình Định - Pdf 32

1
Lôøi noùi ñaàu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tất cả các hoạt động bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế quốc dân
thì công tác tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Điều đó chứng tỏ rằng chỉ có tiêu thụ sản phẩm thì các hoạt động khác của doanh
nghiệp mới có thể diễn ra một cách liên tục, đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện được các
chỉ tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho doanh nghiệp đứng vững và phát
triển trên thị trường vốn đầy tính cạnh tranh.
Hoạt động trong cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước mỗi doanh nghiệp
đều trở thành một chủ thể kinh tế của quá trình tiêu dùng. Nếu không có quá trình lưu thông
thì không có quá trình tiêu dùng và không có quá trình sản xuất. Mặt khác môi trường kinh
doanh mà doanh nghiệp hoạt động luôn biến động không ngừng, thị trường luôn vận động
theo những quy luật vốn có của nó, do vậy doanh nghiệp phải nắm bắt xu thế vận động của
thị trường, đưa ra các chiến lược, quyết định sản xuất kinh doanh phù hợp với sự thay đổi
của thị trường nói riêng và môi trường kinh doanh nói chung. Thì doanh nghiệp mới có cơ
hội thành công trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế
thị trường, các doanh nghiệp không những có nhiệm vụ sản xuất ra sản phẩm mà còn có
nhiệm vụ tổ chức tiêu thụ sản phẩm đó. Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá
trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển bền vững nếu họ bám sát và thích ứng với
mọi sự thay đổi của thị trường và có trách nhiệm đến cùng với sản phẩm của mình kể cả
khi sản phẩm đó đang được người tiêu dùng sử dụng. Vì thế chiến lược tiêu thụ sản phẩm
là một bộ phận hợp thành vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu cơ bản của sản
xuất kinh doanh là: Sản xuất ra sản phẩm gì? Sản xuất như thế nào? Bán cho ai? Khi nào?
Để một mặt tăng cường được thế lực của doanh nghiệp trên thị trường, mặt khác có thể
giúp cho doanh nghiệp có thể vận dụng tới mức tối đa các ưu thế về trí tuệ và nguồn lực
của mình, hạn chế rủi ro nhằm đảm bảo kinh doanh có lãi trong doanh nghiệp. Điều này sẽ
đảm bảo cho sự lớn mạnh của doanh nghệp.


vực xi măng…

3
Phương pháp xử lý số liệu: từ số liệu thu thập được, dùng phương pháp so sánh để
đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm xi măng của công ty qua từng năm, dùng phương pháp
diễn dịch để đưa ra nhận xét, dùng đồ thị, biểu đồ để xử lý số liệu….
5. Kết cấu đề tài
Chuyên đề được trình bày gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Chương 2: Thực trạng tình hình tiêu thụ sản phẩm xi măng ở Công ty cổ phần
Constrexim Bình Định.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao mức tiêu thụ sản phẩm xi măng ở Công ty cổ
phần Constrexim Bình Định.
Chương một

4
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
1.1.1. Khái niệm về tiêu thụ
Trên góc độ kinh tế ta hiểu tiêu thụ sản phẩm là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu
và quyền sử dụng hàng hoá tiền tệ giữa các chủ thể kinh tế. Hay tiêu thụ hàng hoá được
chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển vốn sản xuất kinh
doanh của dịch vụ được hình thành. Thực tế cho thấy ứng với mỗi cơ chế quản lý kinh tế,
công tác tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằng các hình thức khác nhau.
Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, nhà nước quản lý kinh tế chủ yếu bằng mệnh
lệnh. Các cơ quan hành chính kinh tế can thiệp rất sâu vào nghiệp vụ sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.
Trong nền kinh tế thị trường, các vấn đề kinh tế cơ bản hoàn toàn do các doanh
nghiệp tự ý quyết định nên hoạt động tiêu thụ sản phẩm được hiểu theo nghĩa rộng hơn:
“Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố

phương tiện vận chuyển, phương thức thanh toán.
- Tăng tài sản vô hình của doanh nghiệp, đó chính là tăng uy tín của doanh nghiệp
nhờ tăng niền tin đích thực của người tiêu dùng đối với sản phẩm của doanh nghiệp.
- Phục vụ khách hàng góp phần vào việc thoả mãn các nhu cầu phát triển kinh tế- xã
hội của đất nước.Yêu cầu này thể hiện một khía cạnh chức năng xã hội của doanh nghiệp
và khẳng định vị trí của doanh nghiệp như một tế bào của hệ thống kinh tế quốc dân.
1.1.3. Vai trò của tiêu thụ sản phẩm trong hoạt động của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp (trừ các doanh nghiệp công ích) lợi nhuận vẫn là mục tiêu
đang đặt lên hàng đầu, nhưng lợi nhuận chỉ có được sau khi đã tiêu thụ được sản phẩm. Vì
vậy, tiêu thụ sản phẩm chính là mục đích của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sản xuất hay
kinh doanh chỉ sau khi sản phẩm được tiêu thụ mới có thể thu hồi được vốn để sản xuất
kinh doanh. Tiêu thụ sản phẩm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được liên tục, là điều
kiện tồn tại và phát triển của xã hội. Công tác tiêu thụ có vai trò rất lớn đối với hiệu quả sử
dụng vốn của các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, đặc biệt là vốn lưu
động.
Công tác tiêu thụ sản phẩm là một mắt xích liên kết giữa người sản xuất và người
tiêu dùng. Đối với người sản xuất thì tiêu thụ sản phẩm giúp cho họ hiểu thêm về sản phẩm

6
của mình từ đó có biện pháp cải tiến làm cho sản phẩm thoả mãn một cách tốt nhất nhu cầu
của người tiêu dùng.
Tóm lại mỗi doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền
kinh tế thị trường nếu thực hiện tốt công tác tiêu thụ sản phẩm sẽ đem lại hiệu quả vô cùng
to lớn. Có cạnh tranh gay gắt thì việc tiêu thụ sản phẩm mới có ý nghĩa quan trọng, quyết
định sự sống còn của các cơ quan sản xuất kinh doanh. Việc tiêu thụ nhanh hay chậm,
nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào thị trường và rất nhiều yếu tố khác.
1.2. Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
1.2.1. Nghiên cứu thị trường
Mọi doanh nghiệp đều quan tâm đến việc quản lý có hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản
phẩm. Muốn vậy trước hết doanh nghiệp cần biết nghiên cứu khả năng của thị trường đối

Quyết định hình thức phân phối là một trong những quyết định quan trọng có ảnh
hưởng lớn đến công tác tiêu thụ sản phẩm. Tuỳ thuộc vào tình hình tài chính, đặc điểm sản
phẩm, ý đồ kinh doanh mà mỗi doanh nghiệp chọn lựa cho mình một hình thức phân phối
phù hợp trong những hình thức phân phối sau:
- Phân phối trực tiếp:

Sơ đồ 1.1: Hình thức phân phối sản phẩm trực tiếp
+Ưu điểm: Doanh nghiệp trực tiếp quan hệ thị trường và khách hàng, từ đó có
thể nắm bắt được những thông tin về nhu cầu của thị trường, về giá cả sản phẩm, về cơ hội
tạo uy tín với người tiêu dùng, hiểu rõ tình hình bán hàng của doanh nghiệp và do đó có
khả năng thay đổi kịp thời theo yêu cầu của thị trường về sản phẩm, phương thức tiêu thụ
cũng như các dịch vụ sau bán hàng.
+ Nhược điểm: Hoạt động phân phối tiêu thụ sản phẩm bị chậm hơn so với
phương pháp tiêu thụ gián tiếp, tốc độ chu chuyển vốn chậm, doanh nghiệp phải quan hệ
với người bán hàng.
- Phân phối gián tiếp:

Người sản
xuất
Lực lượng bán
hàng của người
sản xuất
Người tiêu
thụ
8
Sơ đồ 1.2: Hình thức phân phối sản phẩm gián tiếp
+ Ưu điểm: Doanh nghiệp có thể tiêu thụ sản phẩm trong thời gian ngắn với số
lượng lớn, thu hồi vốn nhanh, tiết kiệm được chi phí bảo quản sản phẩm.
+ Nhược điểm: Không có quan hệ trực tiếp tới người tiêu dùng, không nhận được
các thông tin phản hồi từ người tiêu dùng trực tiếp về sản phẩm của doanh nghiệp, không

 Chính sách giá cả:
Giá cả là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến lượng cung và lượng cầu hàng hoá trên thị
trường. Giá cả là một công cụ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, nghiên cứu giá cả
cho tiêu thụ sản phẩm là vấn đề không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh nói
chung. Mức giá của mỗi loại sản phẩm trong suốt chu kỳ sống của nó cần phải được điều
chỉnh theo sự biến động của cung - cầu và của môi trường kinh doanh. Giá cả trong nhiều
trường hợp phải được sử dụng như một công cụ cạnh tranh đắc lực của doanh nghiệp. Vì
vậy, việc xác lập chính sách giá cả đúng đắn là điều kiện quan trọng đảm bảo cho hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao và phát triển khả năng chiếm lĩnh thị
trường. Tuy nhiên việc xác lập chính sách giá cả phải đảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện
mục tiêu về lợi nhuận hoặc tỉ phần thị trường chiếm lĩnh trong một khoảng thời gian nhất
định.
 Công tác hỗ trợ và xúc tiến tiêu thụ sản phẩm:
Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm rất quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp có
sản phẩm tiêu thụ trên thị trường. Vì vậy để công tác tiêu thụ sản phẩm đạt hiệu quả cao
bên cạnh chiến lược sản phẩm, chính sách giá cả doanh nghiệp còn cần quan tâm đến công
tác hỗ trợ và xúc tiến bán hàng. Hoạt động này chủ yếu là truyền thông tin về sản phẩm và
doanh nghiệp tới khách hàng để thuyết phục họ mua. Một số hình thức thường được các
doanh nghiệp sử dụng trong các chiến lược xúc tiến tiêu thụ sản phẩm là:

10
+ Công tác quảng cáo: quảng cáo là sự truyền thông tin đơn phương của người bán
vào những đối tượng có nhu cầu bằng những phương tiện nhất định nhằm thu hút sự quan
tâm chú ý của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp, thúc đẩy nhanh hơn quá
trình bán hàng, quá trình giới thiệu sản phẩm, tác động một cách có ý thức đến người tiêu
dùng, thuyết phục và động viên họ mua hàng. Quảng cáo sẽ làm cho hàng bán được nhiều
hơn, nhanh hơn, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
Các hình thức quảng cáo:
- Quảng cáo trên báo chí.
- Quảng cáo trên đài.

động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá tiêu thụ. Mức độ cạnh tranh
cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp nói chung và hoạt động tiêu thụ nói riêng. Đặc biệt trong cơ chế thị
trường hiện nay sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp thể hiện ở thực lực và lợi thế của
doanh nghiệp trong việc có thể thoã mãn tốt nhất đòi hỏi của khách hàng về số lượng, chất
lượng, phương thức phục vụ và giá cả. Mức độ cạnh tranh trên thị trường sản phẩm của
doanh nghiệp phụ thuộc vào số lượng doanh nghiệp có sản phẩm cùng cạnh tranh trên thị
trường, quy mô và thế lực của doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp nào có sức mạnh cạnh tranh
cao trên thị trường thì sản phẩm của doanh nghiệp đó được thị trường chấp nhận.
 Quan hệ cung cầu:
Cung sản phẩm là lượng sản phẩm có thể cung ứng trên thị trường bao gồm khối
lượng sản phẩm đang lưu thông trên thị trường, khối lượng sản phẩm sẵn sàng tung ra thị
trường. Cầu sản phẩm là khả năng mua hàng của mỗi người tiêu dùng trong từng thời kỳ
nhất định ở từng khu vực. Trong kinh doanh giá cả là do quan hệ cung - cầu quyết định.
Nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả sẽ cao và ngược lại. Do đó, giá cả hàng hoá có mối quan
hệ chặt chẽ với cung - cầu. Hay nói cách khác, nói tới cung - cầu là nói tới giá cả, cung
- cầu chỉ có nghĩa khi gắn với mặt hàng cụ thể xuất hiện trên thị trường, người sản xuất sẽ
cố gắng tìm cách đáp ứng nhu cầu đó. Bất cứ một biến động nào ảnh hưởng đến cung - cầu
như: giá cả, các yếu tố đầu vào, năng suất lao động, những biến động khác làm ảnh hưởng
đến thu nhập dân cư, những vấn đề chính trị, xã hội, lạm phát, thất nghiệp… đều làm ảnh
hưởng đến số lượng hàng hoá sản xuất và tiêu thụ.

12
 Thị trường người tiêu dùng: Đây là nhân tố mà nhà sản xuất phải quan tâm không
chỉ khi định giá bán tung ra thị trường mà phải xác định ngay từ khi xây dựng chiến lược
kinh doanh, quyết định phương án sản phẩm đảm bảo tiêu thụ nhanh nhiều và có lãi. Trong
nền kinh tế thị trường, khách hàng được coi là “thượng đế”. Nhu cầu, thói quen, tập tính
sinh hoạt…của người tiêu dùng là nguyên nhân tác động trực tiếp đến lượng hàng tiêu thụ,
trong đó mức thu nhập của khách hàng có tính quyết định lượng hàng mua.
1.3.3. Chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước

kinh doanh, một cách tự giác và có ý thức, phù hợp với điều kiện cụ thể và phù hợp với yêu
cầu của các quy luật kinh tế khách quan, nhằm đem lại hiệu quả cao hơn cho doanh nghiệp.
Từ đó, ta có thể hiểu phân tích kết quả tiêu thụ là quá trình nghiên cứu để phân tích
toàn bộ quá trình và kết quả tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp, nhằm làm rõ tình hình hoạt
động tiêu thụ và các nguồn tiềm năng cần được khai thác, từ đó đề ra các phương án và giải
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ ở doanh nghiệp.
1.4.2. Vai trò của phân tích
Để kinh doanh đạt hiệu quả như mong muốn và hạn chế rủi ro xảy ra thì đòi hỏi
doanh nghiệp phải biết tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời dự
toán các hoạt động kinh doanh trong thời gian tới, để vạch ra chiến lược kinh doanh cho
phù hợp. Ngoài việc phân tích các điều kiện bên trong doanh nghiệp về tài chính, lao động,
vật tư…. Doanh nghiệp còn phải quan tâm xem xét các điều kiện tác động ở bên ngoài như
thị trường, khách hàng , đối thủ cạnh tranh…. Trên cơ sở phân tích đó, doanh nghiệp có thể
xác định được rủi ro có thể xảy ra và có kế hoạch phòng ngừa trước khi xảy ra.
Do đó phân tích hoạt động kinh doanh mang nhiều ý nghĩa và vai trò quan trọng như
sau:
- Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng trong những chức năng quản
trị có hiệu quả ở doanh nghiệp.
- Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm năng
trong hoạt động kinh doanh, mà còn là công cụ cải tiến quy chế quản lý trong kinh doanh.
- Phân tích hoạt động kinh doanh cho phép các nhà doanh nghiệp nhìn nhận đúng
đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp của mình. Chính
trên cơ sở này các doanh nghiệp sẽ xác định đúng đắn mục tiêu cùng các chiến lược kinh
doanh có hiệu quả.

14
- Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để ra các quyết định kinh
doanh.
- Phân tích là quá trình nhận thức hoạt động kinh doanh, là cơ sở cho việc ra quyết
định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là các chức năng kiểm tra, đánh giá và điều

hết không phải là sản xuất mà là tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, bởi vì:
- Có tiêu thụ được sản phẩm hàng hoá, doanh nghiệp mới thu hồi được vốn, mới có
quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo và như vậy sản xuất mới có thể ổn định và phát
triển.
- Sản phẩm hàng hoá có tiêu thụ được, mới xác định được kết quả tài chính cuối
cùng của doanh nghiệp là lãi hay lỗ và lãi lỗ ở mức độ nào.
- Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá xác định được đúng đắn những
nguyên nhân, tìm ra những biện pháp tích cực nhằm đưa quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng
hoá của doanh nghiệp đạt được mục tiêu là: tiêu thụ với khối lượng lớn sản phẩm hàng hoá,
giá bán cao, thị trường ổn định và thu được lợi nhuận cao trong kinh doanh.
- Doanh thu bán hàng, lợi nhuận của doanh nghiệp là cơ sở để tính ra các chỉ tiêu
chất lượng, nhằm đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ hoạt
động kinh doanh.
Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp có những yêu cầu
và nhiệm vụ sau:
- Đánh giá đúng tình hình tiêu thụ về mặt số lượng, chất lượng và mặt hàng, đánh
giá tính kịp thời của tiêu thụ.
- Tìm ra những nguyên nhân và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến
tình hình tiêu thụ.
- Đề ra các biện pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng sản
phẩm tiêu thụ cả về mặt số lượng lẫn chất lượng.
Để thực hiện nhiệm vụ của phân tích, có thể sử dụng các phương pháp phân tích
khác nhau và mỗi phương pháp đều có thế mạnh và hạn chế của nó, đòi hỏi phải có trình độ
vận dụng thành thạo mới đạt được những mục đích đã đặt ra. Sau đây là các phương pháp
tính toán kỹ thuật thường dùng trong phân tích hoạt động tiêu thụ:
1.5.1. Phương pháp chi tiết

16
Đây là phương pháp sử dụng rộng rãi trong phân tích hoạt động kinh doanh nói
chung cũng như phân tích tiêu thụ nói riêng. Mọi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thể

cụ thể. Vì vậy để tiến hành so sánh bắt buộc phải giải quyết những vấn đề cơ bản như xác
định số gốc để so sánh, xác định điều kiện so sánh, mục tiêu so sánh.
Số gốc để so sánh: Tuỳ thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích mà ta xác định số
gốc để so sánh và do đó có nhiều dạng so sánh khác nhau.
So sánh các số liệu thực hiện với các số liệu định mức hay kế hoạch giúp ta đánh giá
mức độ biến động so với mục tiêu đã đặt ra.
So sánh số liệu kỳ này với số liệu kỳ trước (năm trước, quý trước, tháng trước) giúp
ta nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của hiện tượng.
So sánh số liệu của thời gian này với số liệu cùng kỳ của thời gian trước giúp ta
nghiên cứu nhịp điệu thực hiện kinh doanh trong từng khoảng thời gian.
So sánh số liệu thực hiện với các thông số kinh tế kỹ thuật trung bình hoặc tiên tiến
giúp ta đánh giá được mức độ phấn đấu của doanh nghiệp.
So sánh số liệu của doanh nghiệp mình với doanh nghiệp tương đương, điển hình
hoặc doanh nghiệp thuộc đối thủ cạnh tranh giúp ta đánh giá được mặt mạnh mặt yếu.
So sánh số liệu thực tế với mức hợp đồng đã ký, tổng nhu cầu,… giúp ta biết được
khả năng đáp ứng của thị trường.
So sánh các thông số kinh tế kỹ thuật của các phương án kinh tế khác nhau giúp ta
lựa chọn được phương án tối ưu.
1.6. Phân tích hoạt động tiêu thụ sản phẩm
1.6.1. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tiêu thụ
Sau mỗi chu kỳ kinh doanh doanh nghiệp cần tiến hành đánh giá lại hiệu quả của
công tác tiêu thụ sản phẩm để từ đó rút ra những ưu nhược điểm và tìm ra nguyên nhân của
thất bại đó, từ đó đề ra cách khắc phục trong thời gian tới để nâng cao hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
Để dánh giá chung tình hình tiêu thụ sản phẩm ta có thể sử dụng thước đo hiện vật
( tấn, cái, mét…) hay thước đo giá trị.
 Về thước đo hiện vật: nhằm so sánh biến động khối lượng tiêu thụ từng sản phẩm
hàng hoá giữa các kỳ phân tích.

18

Lượng thực hiện
từng sản phẩm
Đơn giá cố định
tương ứng
x
Lượng kế hoạch
từng sản phẩm
Đơn giá cố định
tương ứng
x
Khối lượng
tiêu thụ
Khối lượng
tồn kho đầu
kỳ
Khối lượng sản
xuất trong kỳ
Khối lượng
tồn kho cuối
kỳ
= + -
19
Tỷ lệ % hoàn thành kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ yếu (HTKHTTMH):

(1.5) (1.5)
Chỉ tiêu này luôn nhỏ hơn hoặc bằng 100%, nếu tất cả các mặt hàng chủ yếu tiêu thụ
đều bằng hoặc lớn hơn kế hoạch thì chỉ tiêu sẽ là 100%.
1.6.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích hoạt động tiêu thụ sản phẩm
1.6.2.1. Cơ cấu mặt hàng
Với tất cả các doanh nghiệp sản xuất, sự thay đổi cơ cấu mặt hàng đều ảnh hưởng

tương ứng
x
20
khách hàng biết đến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp và tin vào chất lượng đó thì sẽ
mua hàng của doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp không chỉ bán được hàng mà còn mở
rộng thị trường củng cố vị trí của mình trên thị trường. Mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp
là lợi nhuận song để đạt được điều đó thì doanh nghiệp cần tiêu thụ được sản phẩm tức là
được khách hàng chấp nhận muốn vậy ngoài yếu tố giá cả thì doanh nghiệp cần phải chú ý
đến yếu tố chất lượng sản phẩm thì mới tạo nên được vị trí vững chắc trên thị trường chứ
không phải giá cả hay các yếu tố khác. Đồng thời chính chất lượng sản phẩm sẽ thu hút
khách hàng lâu dài bền vững và làm khách hàng trung thành với sản phẩm của doanh
nghiệp.
16.2.3. Giá bán sản phẩm
Giá bán sản phẩm là một nhân tố ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm hàng hoá tiêu
thụ (xét cả về mặt giá trị và hiện vật), ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Giá bán
tăng lên làm doanh thu tăng lên trong điều kiện giả định khối lượng sản phẩm (hiện vật) bán
ra không thay đổi. Tuy nhiên, cần chú ý rằng, khi giá bán tăng lên không những khối lượng
sản phẩm bán ra sẽ giảm do nhu cầu giảm, một khi thu nhập của người tiêu dùng không tăng,
mức độ tăng giảm của khối lượng tiêu thụ còn phù thuộc vào mức đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
của hàng hoá; giá trị sử dụng của hàng hoá. Những sản phẩm thiết yếu cho tiêu dùng như
lương thực, thực phẩm, khối lượng sản phẩm thay đổi ít phụ thuộc vào giá cả. Ngược lại,
những sản phẩm hàng hoá cao cấp, xa xỉ, khối lượng sản phẩm tiêu thụ sẽ giảm nếu giá cả
tăng lên. Vì vậy doanh nghiệp cần quyết định khối lượng sản phẩm tiêu thụ và giá cả thế nào
cho hợp lý nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Chương hai

21
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM XI MĂNG Ở
CÔNG TY CỔ PHẦN CONSTREXIM BÌNH ĐỊNH
2.1. Giới thiệu khái quát chung về công ty

hạn hẹp, mặt khác sự chủ động của doanh nghiệp liên doanh còn rất nhiều điều bất cập, hạn
chế, không thích ứng trong cơ chế thị trường.
2.1.1.2. Quá trình phát triển của công ty
Đầu năm 1996 để chủ động trong sản xuất kinh doanh và nhằm sử dụng có hiệu quả
hơn, được phép của Tổng công ty xi măng Việt Nam, phần góp vốn của Tổng công ty xây
dựng thủy điện Sông Đà, được công ty hoàn trả bằng nguồn vốn vay ngân hàng, tại thời
điểm này doanh nghiệp được đổi tên là: Công ty xi măng Bình Định.
Năm 1997 công ty đã đầu tư cải tạo và nâng cấp dây chuyền I lên 100.000 tấn/năm
chuyển công nghệ sản xuất từ chu trình hở sang nghiền theo chu trình kín nâng cao chất
lượng sản phẩm và đảm bảo vệ sinh môi trường.
Đến năm 2001 công ty đầu tư, mở rộng thêm dây chuyền II đạt công suất 100.000
tấn/năm, nâng tổng công suất lên 200.000 tấn/ năm.
Ngoài sản phẩm chính là xi măng PCB 30, trong những năm gần đây Công ty còn
sản xuất kinh doanh thêm các sản phẩm như: vôi, đá bụi,… Góp phần làm đa dạng hóa sản
phẩm và tăng lợi nhuận cho công ty. Vì vậy Công ty xi măng Bình Định đã đổi tên thành
Công ty sản xuất VLXD và xây lắp Bình Định theo Quyết định số 88/2001 QĐ – UB ngày
10/09/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định.
Ngày 26/08/2003, Bộ trưởng Bộ xây dựng có quyết định số 1150/QĐ – BXD về
việc tiếp nhận Công ty sản xuất VLXD và xây lắp Bình Định về làm công ty con 100% vốn
Nhà nước trong mô hình công ty mẹ - công ty con Constrexim và đổi tên thành Công ty sản
xuất VLXD và xây lắp Bình Định Constrexim. Đến ngày 17/01/2006, Bộ xây dựng có
quyết định số 105/QĐ – BXD “Về việc chuyển công ty sản xuất VLXD và xây lắp Bình
Định thuộc công ty xây dựng và xuất nhập khẩu Việt Nam thành công ty cổ phần” và lấy
tên là công ty cổ phần Bình Định Constrexim. Bắt đầu từ ngày 10/06/2008, Công ty đổi tên
thành Công ty cổ phần Constrexim Bình Định.

23
Trong quá trình hoạt động, Công ty cổ phần Constrexim Bình Định đã không ngừng
lớn mạnh về mọi mặt. Kết quả đạt dược của công ty qua các năm được thể hiện trong bảng
dưới

thoát nước và công trình công cộng; đường dây tải điện và trạm dây biến thế đến 35KW.
Đầu tư kinh doanh phát triển nhà và công trình kỹ thuật hạ tầng. Kinh doanh xuất nhập
khẩu vật tư, thiết bị và nông lâm sản. Kinh doanh kho bãi. Kinh doanh vận tải hàng hóa
bằng đường bộ. Gia công, chế tạo, lắp đặt thiết bị đồng bộ và phi tiêu chuẩn.

24
 Nhiệm vụ:
Công ty cổ phần Constrexim Bình Định thực hiện các nhiệm vụ như sau:
Xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, hoàn thành nghĩa vụ
nộp ngân sách Nhà nước, đảm bảo tự bù đắp chi phí và có lợi nhuận.
Không ngừng nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm, sản xuất, kinh doanh các
loại vật liệu xây dựng nhằm đáp ứng tốt nhu cầu thị trường.
Tăng cường năng lực thi công, xây lắp đảm bảo đủ khả năng thực hiện các công trình
xây dựng lớn.
2.1.3. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh tại công ty
2.1.3.1. Giới thiệu quy trình công nghệ sản xuất
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất xi măng
Mô tả công nghệ:
Bước một, Tiếp nhận và chứa Clinker: Clinker được vận chuyển về nhà máy bằng ôtô
tự đổ và đổ vào phiễu tiếp nhận Clinker trong kho hoặc đổ vào kho chứa. Việc vận chuyển
Clinker từ kho chứa vào phiễu bằng máy xúc gầu lật. Sau khi định lượng bằng cân 2-25 tấn
Clinker được vận chuyển bằng tải tới đầu máy nghiền.
Bước hai, Gia công thạch cao và phụ gia: Bố trí máy kẹp hàm với năng suất 15
tấn/giờ cùng với 2 két chứa (1 cho thạch cao, 1 cho phụ gia). Phụ gia và thạch cao sau khi

Kho
chứa
vật
liệu
Phiễu

cấp với năng suất xử lý chung là 13.000 m
3
/giờ. Cấp 1 là lọc thô bằng 2 Xiclon. Cấp 2 lọc
bụi tĩnh điện CWB6.
Bước bốn, Công đoạn chứa xi măng rời và đóng bao: Xi măng rời được chứa trong
xilo có sẵn với tổng sức chứa là 1200 tấn. Chỉ cần thay vít tải nóc Xilo bằng vít tải có năng
suất 60 tấn/giờ để dùng chung cho cả hai dây chuyền.
Ximăng được tháo ra khỏi xilo bằng 6 tháo liệu cánh xoay(có sẵn) loại điều tốc vô cấp
và qua vít tải (có sẵn) để đưa sang nhà đóng bao. Mấy đóng bao hiện có là máy đóng bao
cơ khí loại 2 vòi, năng suất 30 tấn/giờ. Xi măng được đóng bao có trọng lượng 50Kg và
được băng tải và xe cày đưa vào kho chứa.
2.1.3.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh

Giám đốc
Phó giám đốc
Phân xưởng sản xuất Phòng QCS
Tổ

điện
Tổ đập
nghiền
Tổ đóng
bao
Tổ
bốc
xếp
QCS
cơ lý
QCS
cơ hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status