Website
Website
:
:
Email
Email
:
:
Tel
Tel(
(
: 0918.775.368
: 0918.775.368
Phân tích tài chính và khả năng trả nợ của dự án
liên doanh sản xuất bia sài gòn - Bình định
Phần I - Những vấn đề lý luận chung
Phân tích tài chính dự án là một nội dung kinh tế quan trọng trong quá trình soạn
thảo dự án. Phân tích tài chính là nhằm đánh giá tính khả thi của dự án về mặt tài chính.
Thông qua phân tích tài chính, chúng ta xác định đợc quy mô đầu t, cơ cấu các loại
vốn, nguồn tài trợ cho dự án, tính toán các khoản thu chi, những lợi ích thiết thực mà dự
án sẽ đem lại cho nhà đầu t. Trên cơ sở đó ta sẽ đánh giá đợc hiệu quả về mặt tài chính
của dự án.
Kết quả của quá trình phân tích này là căn cứ để chủ đầu t quyết định có nên hay
không nên đầu t vào dự án này bởi vì mối quan tâm chủ yếu của các tổ chức và cá nhân
đầu t là liệu họ có đầu t vào dự án mang lại lợi nhuận thích đáng hoặc đem lại nhiều lợi
nhuận hơn so với việc đầu t vào các dự án khác hay không. Ngoài ra, phân tích tài chính
còn là cơ sở để tiến hành phân tích kinh tế xã hội.
Để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này, ta hãy cùng xem xét một dự án cụ thể - Dự án
Việc ớc tính tổng mức vốn đầu t một cách chính xác trớc khi thực hiện dự án là rất
quan trọng và cần thiết. Nếu nh con số này đợc dự tính quá lớn, nó sẽ gây ảnh hởng tới
chỉ tiêu hiệu quả, làm sai lệch khả năng phản ánh chính xác hiệu quả tài chính của dự án.
Ngợc lại, nếu dự tính mức vốn vày quả nhỏ, tiến độ thực hiện dự án sẽ bị ảnh hởng, thâm
chí trong nhiều trờng hợp càn không thể thực hiện đợc dự án.
Theo nh ớc tính, tổng số vốn đầu t vào dự án Bia liên doanh Sài Gòn - Bình Định lên
tới 148456 triệu đồng, trong đó vốn cho kiến thiết cơ bản và dự phòng là 10358 triệu, vốn
xây lắp là 12037 triệu, vốn cho máy mó thiết bị và vốn lu động hàng năm lần lợt là
121199 và 4862 triệu đồng.
Tổng số vốn này đợc huy động từ nhiều nguồn khác nhau. Cụ thể là:
Vốn điều lệ đợc các bên tham gia đóng góp dới dạng chuyển giao công
nghệ và tiền thuê đất: 5000 tr.đ.
Vốn góp thêm từ các bên liên doanh: 6729 tr.đ.
Vốn huy động từ các nguồn ký quỹ của các đại lý tiêu thụ: 4389 tr.đ.
Vốn đi vay: 16960 tr.đ.
Vốn mua thiết bị: 110516 tr.đ.
Vốn lu động: 4862 tr.đ.
Trong đó:
Vốn đi vay gồm vốn vay tín dụng kế hoạch của Nhà nớc tại Ngân hàng Đầu
t và Phát triển với lãi suất 9,72%/năm với số vốn là 3000 tr.đ, phần còn lại
là 13960 tr.đ vay từ các nguồn khác của Ngân hàng với lãi suất 9,72%/năm.
Các nguồn này phải trả hết trong 4 năm kể từ năm thứ 5 khi dự án đi vào
hoạt động.
Vốn mua thiết bị nớc ngoài theo hợp đồng sẽ chia làm 2 khoản:
2
F
đđ
Website
Website
:
thiết bị mua ngoài có thể đi vay đợc nhng tiềm lực tài chính của chủ đầu t còn yếu kém,
có thể gây khó khăn cho quá trình thực hiện dự án.
I. Tình hình vay và trả lãi.
Từ những điều kiện ràng buộc trên, ta có đợc một phơng án trả nợ cả gốc lẫn lãi nh
trong bảng 1 Tình hình vay và trả lãi, gốc vốn vay của dự án.
II. Tính chi phí sản xuất hàng năm của dự án (Xem bảng 2).
Chi phí sản xuất của một dự án ở một thời kỳ nào đó là toàn bộ tiêu hao vật chất và
sức lao động ở khâu sản xuất trực tiếp và ở các khâu khác đợc biểu hiện dới hình thức tiền
tệ để sản xuất ra sản phẩm hay dịch vụ của thời kỳ đó.
Về phân loại chi phí sản xuất, có rất nhiều cách phân loại tuỳ thuộc vào từng góc độ
xem xét. ở đây, chúng ta sẽ đứng trên phơng diện tính cố định của chi phí. Từ góc độ
này, chi phí sản xuất có hai loại: chi phí cố định và chi phí biến đổi.
1. Chi phí cố định.
Chi phí cố định của một dự án (còn gọi là định phí hay chi phí bất biến) trong một
thời đoạn nào đó là chi phí luôn luôn giữ một mức không đổi trong suốt thời đoạn đó
không phụ thuộc vào khối lợng sản phẩm làm ra trong suốt thời đoạn đó là bao nhiêu.
3
F
đđ
Website
Website
:
:
Email
Email
:
:
Tel
Tel
Ngoài nớc thi công
= 121199 + 7183 = 128382 tr.đ.
4
F
O S
(1)
Hình 1
O
F
đđ
S
(2)
Hình 2
Website
Website
:
:
Email
Email
:
:
Tel
Tel(
(
: 0918.775.368
: 0918.775.368
- Ikt-dp là vốn kiến thiết cơ bản và dự phòng (10358 tr.đ). Số vốn này đợc
5
Website
Website
:
:
Email
Email
:
:
Tel
Tel(
(
: 0918.775.368
: 0918.775.368
1.8. Chi phí bảo hiểm tài sản.
Chi phí bảo hiểm tài sản là một khoản đợc tính trong chi phí cố định. Nh ta đã biết,
một trong những đặc điểm cơ bản của đầu t là mang tính rủi ro rất cao do sự tác động của
rất nhiều yếu tố. Chính vì vậy, ngay từ khi có ý định hình thành dự án, chủ đầu t đã phải
tính toán xem làm thế nào để tránh rủi ro và khi gặp rủi ro thì sử dụng những biện pháp gì
để hạn chế sự tác động của chúng. Để đề phòng trờng hợp trên xảy ra, mỗi năm chủ đầu t
đã để ra một khoản cố định để dành cho bảo hiểm tài sản. Chi phí này tính bằng 0,3% giá
trị tài sản. Con số cụ thể đợc ghi ở bảng 2 (phần II.8).
1.9. Khấu hao thiết bị.
Khấu hao thiết bị là khoản tiền đợc trích ra từ doanh thu hàng năm của dự án để bù
vào hao mòn của thiết bị hàng năm. Khi thời gian khấu hao kết thúc nghĩa là lúc đó chúng
có đủ số tiền cần thiết để đầu t thay thế thiết bị cũ không đợc tiếp tục sử dụng phục vụ cho
dự án.
:
Tel
Tel(
(
: 0918.775.368
: 0918.775.368
nh trên, sau 11 năm kể từ khi dự án đi vào vận hành sản xuất kinh doanh, dự án đã khấu
hao hết phần máy móc thiết bị.
1.10. Khấu hao giá trị xây lắp.
Tơng tự nh trong khấu hao máy móc thiết bị, ta tính đợc khấu hao giá trị xây lắp
(với giá trị xây lắp: Ivoxl = 14316 + 10358 x 10% = 15351,8 tr.đ.) với các kết quả đợc ghi
trong bảng 2 (phần II.10).
Cộng các khoản chi phí trên lại ta có tổng chi phí cố định từng năm. Trong các
khoản chi phí này, ta nhận thấy, chi phí khấu hao thiết bị chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
tổng chi phí cố định, biểu hiện ở con số cụ thể là:
Năm 3,4 = 11016,34/22946,84 = 0,48 = 48%.
Năm 5,6,7 = 12393,38/22222,66 = 0,5577 = 55,77%.
Điều này chứng tỏ dự án này cần một số lợng vốn rất lớn để đầu t vào mua sắm
trang thiết bị.
2. Chi phí biến đổi.
Khác với chi phí cố định, chi phí biến đổi (còn gọi là chi phí khả biến hay biến phí)
là loại chi phí thay đổi tỷ lệ với khối lợng sản phẩm lamg ra trong thời đoạn đang xét.
Chi phí biến đổi bao gồm các loại chi phí, ví dụ chi cho vật liệu, nhân công, điện, n-
ớc... Lợng tăng lên tăng lên của tổng chi phí toàn dự án của một thời đoạn nào đó bằng
chính lợng tăng lên của tổng chi phí biến đổi của thời đoạn đó.
Cần chú ý rằng chi phí biến đổi tính theo một khối lợng sản phẩm nào đó của thời
đoạn đang xét thì thay đổi nhng nếu tính chi một đơn vị sản phẩm thì lại không đổi.