Cải thiện tình hình tài chính và khả năng thanh toán của Công ty xây dựng và phát triển nông thôn - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường vấn đề cạnh tranh ngày càng trở nên ngay
gắt, để doanh nghiệp có thể tồn tại và đứng vững trên thương trường yêu cầu
các hoạt động sản xuất kinh doanh phải ổn định. Tuy nhiên hoạt động tài
chính là hoạt động cốt lõi đảm bảo cho việc sản xuất kinh doanh được thực
hiện. Nghiên cứu tình hình tài chính không chỉ là mối quan tâm của nhiều
đối tượng như các nhà quản lý, các nhà đầu tư, chủ ngân hàng, nhà cung cấp
và bạn hàng vì thông qua phân tích tài chính cho phép người sử dụng thu
thập, xử lý các thông tin, từ đó đánh giá tình hình tài chính, khả năng tiềm
lực và hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro và tiềm năng trong tương lai.
Đồng thời công tác nghiên cứu tài chính nhằm đưa ra một hệ thống các
thông tin toàn diện phù hợp với trình độ, mục đích của mọi đối tượng cần
quan tâm, nghiên cứu tình hình tài chính để từ đó có những giải pháp nhằm
cải thiện tình hình tài chính, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tài sản và nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các giải pháp khác
như đầu tư, lợi nhuận, cạnh tranh.
Xuất phát từ những vấn đề trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài "Một
số ý kiến nhằm cải thiện tình hình tài chính và khả năng thanh toán của
Công ty xây dựng và phát triển nông thôn"
Nội dung của bai luận văn gồm:
Chương I. Một số lý luận về quản trị tài chính và khả năng hạch toán
của Công ty xây dựng và phát triển nông thôn
Chương II. Tình hình quản trị tài chính ở Công ty xây dựng và phát
triển nông thôn
Chương III. Một số giải pháp nhằm cải thiện quản trị tài chính của
Công ty xây dựng và phát triển nông thôn
1
CHƯƠNG I
MỘT SỐ NỘI DUNG LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH VÀ KHẢ
NĂNG HẠCH TOÁN CỦA CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN

phương pháp sau:
- So sánh trực tiếp các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả tài chính
của dự án.
- Phân tích độ nhạy cảm của dự án theo các chỉ tiêu phản ánh mặt tài
chính trong điều kiện bất định của các yếu tố có liên quan đến đầu vào và
đầu ra của dự án.
Chúng ta biết rằng mục tiêu cụ thể của các dự án rất đa dạng (tạo việc
làm, sản xuất hàng xuất khẩu, tăng năng suất lao động, tăng lợi nhuận và tỷ
suất lợi nhuận...) trên góc độ xem xét mặt tài chính và lựa chọn các phương
án đầu tư chúng ta sử dụng các độ đo hiệu quả tài chính như chi phí nhỏ
nhất, thời hạn thu hồi vốn ngắn nhất, thời hạn thu hồi vốn đầu tư tăng thêm
≤ định mức, điểm hoà vốn nhỏ nhất, IRR > IRR định mức và lớn nhất; IRR
của vốn đầu tư tăng thêm ≥ IRR định mức, RR ≥ RR định mức và lớn nhất,
hoặc RR vốn đầu tư tăng thêm ≥ RR định mức.
Trình tự các bước so sánh lựa chọn phương án như sau:
Đưa ra đầy đủ các phương án có thể có.
Xác định thời kỳ phân tích so sánh (TKPT).
Ước lượng các khoản thu, chi trong thời kỳ phân tích của từng phương
án.
Xác định các hệ số tính kéo (1 + r)
n
hoặc chiết khấu
n
)r1(
1
+
để tính
chuyển các khoản thu, chi phát sinh ở các năm khác nhau về cùng một mặt
bằng thời gian.
3

biến dạng chuyển từ hình thái hiện vật này sang hình thái hiện vật khác.
Chúng tham gia toàn bộ và tham gia một lần vào quá trình sản xuất, giá trị
của chúng được chuyển hoá toàn bộ vào giá thành sản phẩm, nó được bù đắp
khi sản phẩm được tiêu thụ, thu được tiền hàng.
Vốn lưu động vận động không ngừng qua các giai đoạn khác nhau, ở
mỗi giai đoạn vốn lưu động biểu diễn các hình thái khác nhau:
+ Giai đoạn 1: Đó là vốn để mua nguyên vật liệu phụ tùng... từ tiền
chuyển thành vật chất được dự trữ cho sản xuất.
+ Giai đoạn 2: Đưa nguyên vật liệu dự trữ vào sản xuất sản phẩm dưới
dạng bán thành phẩm, vốn ở đây chuyển thành vốn sản xuất.
+ Giai đoạn 3: Là giai đoạn tiêu thụ sản phẩm và thu hồi vốn, vốn đã
chuyển từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ.
Trong cùng một thời gian vốn lưu động của doanh nghiệp phân bố
khắp ở các giai đoạn luân chuyển. Sự vận động của vốn lưu động trong
doanh nghiệp là sự vận động của vật tư hàng hoá, lượng vốn tăng trưởng thể
hiện lượng vật tư hàng hoá luân chuyển hiệu quả, tiết kiệm hay lãng phí.
Cải tiến cơ cấu vốn kinh doanh chính là cải tiến sự thu hút bằng nhiều
hình thức từ các thành phần kinh tế. Trong nền kinh tế để hình thành các quỹ
tiền tệ phục vụ sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng và phát triển kinh tế xã
hội, cải biến cơ cấuq vốn là chức năng quan trọng làm việc luân chuyển vốn
từ người cung cấp đến người sử dụng được tiện lợi và trôi chảy.
3. Xác định tốc độ chu chuyển của vốn lưu động
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh vốn lưu động vận động
không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất đó
là giai đoạn dự trữ sản xuất lưu thông đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của vốn
lưu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
5
Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động người ta thường sử
dụng các chỉ tiêu sau:

nhuận do doanh thu tiêu thụ sản phẩm mang lại. Công thức xác định:
6
Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu = Lợi tức sau thuế x 100%
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này thể hiện cứ 100 đồng doanh thu thuần thì sinh ra bao
nhiêu đồng lợi tức sau thuế. Tuy nhiên để đánh giá đúng đắn ta cần phải
xem xét kết hợp bản chất của ngành kinh doanh và điều kiện kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Hệ số quay vòng của tài sản:
Là chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả của tài sản đầu tư thể hiện qua
doanh thu thuần sinh ra từ tài sản đầu tư đó. Thông qua đó đánh giá được
khả năng sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Công thức xác định:
Hệ số quay vòng tài sản =
Doanh thu thuần
Tài sản vốn bình quân
Hệ số càng cao thì doanh nghiệp sử dụng tài sản càng có hiệu quả.
Tuy nhiên khi đánh giá hệ số quay vòng tài sản phải kết hợp xem xét bản
chất của ngành kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động.
- Tỷ suất lợi nhuận/vốn sử dụng.
Là sự kết hợp của hai chỉ tiêu lợi nhuận/doanh thu với hệ số quay
vòng tài sản. Công thức xác định:
Tỷ suất lợi nhuận/vốn sử dụng =
Lợi tức sau thuế
Vốn sử dụng bình quân
Tỷ suất này phản ánh cứ 100 đồng vốn hoạt động bình quân trong kỳ
sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ suất này càng lớn chứng
tỏ vốn sử dụng có hiệu quả cao và ngược lại.
- Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định.
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định được tính toán bằng nhiều chỉ tiêu
song phổ biến nhất là:

doanh. Những khái niệm này được đánh giá bằng các chỉ tiêu sau đây:
+ Tỷ suất nợ =
Nợ phải trả
Nguồn vốn
+ Tỷ suất tự tài trợ =
Vốn sở hữu
Nguồn vốn
Tổng hai chỉ tiêu là 100% hay K
nợ
= 1 - K
tài trợ
Vì nợ phải trả và vốn chủ sở hữu là hai yếu tố cấu thành nguồn vốn.
Tỷ suất nợ còn phản ánh tỷ lệ vốn vay trong tổng số vốn của doanh nghiệp.
Tỷ suất tài trợ phản ánh tỷ lệ vốn riêng của doanh nghiệp trong tổng số vốn.
Trên cơ sở tính toán tỷ tự tài trợ thấy được mức độ độc lập hay phụ
thuộc của doanh nghiệp đối với các chủ nợ, mức độ tài trợ của doanh nghiệp
8
đối với vốn kinh doanh của mình. Tỷ suất này càng lớn càng thể hiện số vốn
doanh nghiệp tự có lớn, tính độc lập cao với các chủ nợ do đó không bị ràng
buộc hoặc bị sức ép của các khoản nợ vay.
Căn cứ vào các tỷ suất này mà nhà cho vay quyết định cho vay hay
không. Họ thường mong muốn tỷ suất này càng cao càng tốt, tỷ suất tài trợ
càng cao thì mức độ rủi ro các chủ nợ sẽ ít hơn.
2. Khả năng thanh toán
Trong kinh doanh vấn đề làm cho các nhà kinh doanh lo ngại là các
khoản nợ nần dây dư, các khoản phải thu không có khả năng thu hồi, các
khoản phải trả không có khả năng thanh toán. Vì vậy doanh nghiệp phải duy
trì một mức vốn luân chuyển hợp lý để đáp ứng kịp thời các khoản nợ ngắn
hạn, duy trì các loại hàng tồn kho để đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh thuận lợi. Tại các nước trên thế giới theo cơ chế thị trường căn

tế tình hình của doanh nghiệp song nếu hệ số k bé < 0,5 thì doanh nghiệp sẽ
gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ và trong điều kiện của các khoản nợ
đã đến hạn trả thì doanh nghiệp buộc phải dùng các biện pháp bất lợi để đủ
tiền thanh toán.
- Hệ số quay vòng của khoản phải thu.
Là tỷ số giữa doanh thu thuần của các khoản phải thu của khách hàng.
Hệ số này phản ánh tốc độ chu chuyển đối với các khoản phải thu thành tiền
mặt của doanh nghiệp. Các khoản phải phải thu của khách hàng được thu
bao nhiêu lần trong kỳ. Công thức xác định:
H =
Doanh thu thuần
Bình quân các khoản phải thu
Hệ số quay vòng các khoản phải thu biểu hiện bình quân cứ 1 đồng
các khoản phải thu trong năm thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
Hệ số H càng cao chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh,
điều này tốt vì doanh nghiệp không phải đầu tư vào các khoản phải thu
nhiều. Tuy nhiên nếu hệ số H quá cao tức kì hạn thanh toán ngắn, do đó có
ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ, không hấp dẫn khách hàng.
- Kỳ thu bình quân của doanh nghiệp bán chịu:
10
Phản ánh số ngày cần thiết bình quân để thu hồi các khoản phải thu
trong kỳ.
N =
Bình quân các khoản phải thu của khách
Tổng doanh thu
Theo nguyên tắc chung thì kỳ bình quân của doanh thu bán chịu ở một
doanh nghiệp không vượt quá 1 + 1/3 ngaỳ của kỳ hạn thanh toán. Tuy
nhiên nếu phương thức thanh toán có ấn định kỳ hạn được hưởng chiết khấu
thì số ngày chưa thu không được vượt quá 1 + 1/3 số ngày của kỳ hạn hưởng
chiết khấu.

phép thu thập xử lý thông tin kế toán và các thông tin khác trong doanh
nghiệp nhằm quản lý tình hình tài chính và khả năng tiềm lực và hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp cũng như rủi ro và triển vọng trong tương lai.
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế vấn đề nổi lên là làm thế nào để
hoạt động kinh doanh trở lên hiệu quả. Vì vậy cải tiến quản trị tài chính
càng trở nên có ý nghĩa, giúp cho người ra quyết định lựa chọn phương án
kinh doanh tối ưu và đánh giá thực trạng tiềm năng của doanh nghiệp.
12
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Ở CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
1. Lịch sử hình thành
Công ty xây dựng và phát triển nông thôn là một doanh nghiệp nhà
nước thuộc Liên hiệp xí nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn nay là
Tổng công ty xây dựng nông nghiệp và phát triển nông thôn, được thành lập
theo quyết định số 188 NN/TCCB/QĐ ngày 24 - 3 -1993 của bộ Nông
nghiệp và Công nghiệp thực phẩm. Tiền thân của Công ty là xí nghiệp khảo
sát thiết kế nông nghiệp theo quy chế của nhà nước về thành lập và giải thể
nông nghiệp. Trên cơ sở hợp nhất của 3 Xí nghiệp: Xí nghiệp xây lắp 10, Xí
nghiệp khảo sát thiết kế nông nghiệp theo quyết định 313 NN/TCCB/QĐ
ngày 10 - 3 - 1991 và Xí nghiệp vận tải thi công cơ giới theo quyết định 222
NN/TCCB/QĐ ngày 1-8-1992 Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm.
2. Quá trình phát triển
Từ khi thành lập Công ty xây dựng và phát triển nông thôn là một
doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
thực hiện chế độ hạch toán độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân, có tài
khoản mở tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn và chịu trách
nhiệm trước Nhà nước theo luật định. Tên giao dịch của Công ty: "Công ty
xây dựng và phát triển nông thôn", Công ty đặt trụ sở chính ở Đống Đa - Hà

Hiện tính đến tháng 12 - 2000 cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty
được thông qua biểu sau:
14
Biểu 1: Cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty
Tên tài sản Số lượng Giá trị còn lại
1. Máy ủi DT 75 1 18.000.000
2. Trụ sở làm việc 1 74.210.000
3. Bộ đầu Video 1 1.416.000
4. Ôtô tải Kamaz 1 31.600.000
5. Ôtô Honđa 1 318.125.000
6. Máy trộn bê tông máy nổ 3 24.540.000
7. Đầm bàn Japan 1 2.689.000
8. Văn phòng đại diện tại Vinh 1 1.447.731.376
9. Máy trộn bê tông 10 116.400.000
10. Máy lọc nước 1 5.915.000
11. Máy vi tính 1 20.574.760
12. Điện thoại di động 1 7.875.000
13. Máy photo coppy 1 33.247.500
14. Máy Fax Canon 1 8.482.500
Tổng 2.110.788.436
Trong tổng số tài sản hiện có của công ty phần lớn được đầu tư từ
nguồn vốn tự bổ sung thêm chiếm 1.741.398.317đ trong tổng tài sản, một
phần được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách cấp bao gồm máy ủi trị giá 15
triệu đồng, trụ sở làm việc 74.210.000đ một phần giá trị ôtô và trụ sở tại
Vinh cũng được đầu tư từ nguồn vốn này. Tổng tài sản được đầu tư từ ngân
sách ciếm 369.390.119 đồng trong tổng tài sản.
3. Đặc điểm về lao động
Công ty xây dựng và phát triển nông thôn là một đơn vị xây lắp nên
việc tổ chức bộ máy quản lý và công nhân lao động của Công ty chịu sự ảnh
hưởng trực tiếp của ngành xây lắp. Công ty dựa vào những tính chất, đặc

Đội xây
dựng 22
- Phòng kỹ thuật tổng hợp: Có trách nhiệm xây dựng kế hoạch sản
xuất, lập các hồ sơ dự thầu, tính toán xây dựng các công trình tham gia dự
thầu, lập hạn mức và tổ chức mua vật liệu đáp ứng nhu cầu cho các đội khi
được giám đốc giao phó, theo dõi giám sát tình hình thi công của các công
trình trúng thầu. Đồng thời có chức năng giúp đỡ giám đốc trong quản lý và
điều hành sản xuất kinh doanh.
Hiện này Công ty có tổng số công nhân viên là 596 người trong đó 93
người có trình độ đại học, 203 công nhân kỹ thuật, 57 trung cấp, còn lại là
côn nhân xây dựng bậc thấp và lao động phổ thông. Trong đó có 13 nhân
viên quản lý gồm 1 giám đốc và 1 phó giám đốc, 5 nhân viên phòng tài vụ, 5
nhân viên phòng kỹ thuật tổng hợp và nhân viên phòng tổ chức. Hiện nay
Công ty có 22 đội sản xuất, mỗi đội có thể hợp đồng sản xuất một hay nhiều
công trình.
III. THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH Ở CÔNG TY XÂY
DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Để biết được thực trạng đầu tư của Công ty ta nghiên cứu và phân tích
hoạt động đầu tư trong 3 năm gần nhất trở lại đây thông qua biểu.
1. Tình hình đầu tư
Biểu 2: Tình hình đầu tư ở Công ty xây dựng và phát triển nông thôn
Chỉ tiêu 1998
1999 2000 Tốc độ
phát triển
∆ ±∆ ∆ ±∆
Tỷ suất đầu tư % 4,81 7,43 2,62 8,43 1 132,39
Tỷ suất tự tài trợ
tài sản cố định
(lần)
2,386 1,552 -0,834 1,754 0,202 86,4

Năm 2000 tỷ suất tự trài trợ tài sản cố định là 1,754 lần tăng 0,202 lần
so với năm 1999 do tốc độ giảm tài sản cố định mạnh hơn tốc độ giảm vốn
chủ sở hữu. Công ty có đủ vốn chủ sở hữu để đầu tư cho các loại hình tài
sản cố định mà không phải đi vay ngân hàng để đầu tư.
18

Trích đoạn Đẩy mạnh tốc độ thu hồi các khảon thu, giảm kỳ hạn bán chịu MỘT SỐ KIẾN NGHỊ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 1 Kiến nghị đối với Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status