LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một tế bào kinh tế, là một
đơn vị hạch toán độc lập, tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra các
sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội nhằm
thực hiện các mục tiêu về lợi nhuận. Tối đa hoá lợi nhuận là kim chỉ nam cho
mọi hoạt động của doanh nghiệp. Muốn vậy, doanh nghiệp cần phải có những
quyết sách, chiến lược phù hợp, kịp thời đối với các hoạt động kinh tế của mình.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường đa thành phần, nếu chỉ dựa vào khả năng
của mình và bỏ qua sự hỗ trợ của các nguồn lực bên ngoài, doanh nghiệp khó có
thể đứng vững và phát triển được.
Phân tích tình hình tài chính là một công việc thường xuyên và vô cùng cần
thiết không những đối với chủ sở hữu doanh nghiệp mà còn cần thiết đối với tất
cả các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp có quan hệ về kinh tế và pháp lý với
doanh nghiệp. Đánh giá được đúng thực trạng tài chính, chủ doanh nghiệp sẽ đưa
ra được các quyết định kinh tế thích hợp, sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu
quả vốn và các nguồn lực; Nhà đầu tư có quyết định đúng đắn với sự lựa chọn
đầu tư của mình; các chủ nợ được đảm bảo về khả năng thanh toán của doanh
nghiệp đối với các khoản cho vay; Nhà cung cấp và khách hàng đảm bảo được
việc doanh nghiệp sẽ thực hiện các cam kết đặt ra; các cơ quan quản lý Nhà nước
có được các chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cũng như hỗ trợ cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp và đồng thời kiểm soát được hoạt động của doanh
nghiệp bằng pháp luật.
Báo cáo tài chính kế toán là sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán, tất cả
các thông tin mà kế toán cung cấp đều được thể hiện trên báo cáo tài chính kế
toán cuối kỳ của doanh nghiệp. Chính vì vậy mà chúng ta có thể coi hệ thống báo
cáo tài chính kế toán là một tấm gương phản ánh toàn diện về tình hình tài chính,
khả năng và sức mạnh của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Do đó,
việc trình bày các báo cáo tài chính kế toán một cách trung thực và khách quan sẽ
Trang 1
là điều kiện tiên quyết để phân tích chính xác tình hình tài chính của doanh
nghiệp .
và phân phối, trong đó sự tru chuyển của vốn luôn gắn liền với sự vận động của
vật tư hàng hoá.
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các mối quan hệ kinh tế phát
sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ.
Nói cách khác, trên giác độ kinh doanh vốn, hoạt động tài chính là những quan hệ
tiền tệ gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý
vốn một cách có hiệu quả.
Để nắm được tình hình tài chính của doanh nghiệp mình cũng như tình hình
tài chính của các đối tượng quan tâm thì việc phân tích tài chính là rất quan trọng.
Thông qua việc phân tích tình hình tài chính, người ta có thể sử dụng thông tin
đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro trong tương lai và triển
vọng của doanh nghiệp. Bởi vậy, việc phân tích tình hình tài chính của doanh
nghiệp là mối quan tâm của nhiều nhóm đối tượng khác nhau như Ban giám đốc
Trang 3
(Hội đồng quản trị) các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các nhà cho vay tín
dụng, nhân viên ngân hàng, các nhà bảo hiểm và kể cả cơ quan Nhà nước cũng
như người lao động. Mỗi nhóm người này có nhu cầu thông tin khác nhau, do vậy
mỗi nhóm có những xu hướng tập trung vào các khía cạnh riêng trong bức tranh
tài chính của một doanh nghiệp.
1.2: Các mối quan hệ tài chính chủ yếu của doanh nghiệp:
Hoạt đônag tài chính của doanh nghiệp rất phức tạp, phong phú và đa dạng,
muốn phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp thì trước hết phải hiểu rõ
được các mối quan hệ tài chính chủ yếu của doanh nghiệp:
1.2.1: Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước:
Quan hệ này phát sinh dưới hình thái tiền tệ, theo hai chiều vận động ngược
nhau. Đó là: Ngân sách Nhà nước góp phần hình thành vốn sản xuất kinh doanh
(tuỳ theo mức độ và loại hình sở hữu doanh nghiệp); Ngược lại doanh nghiệp
phải nộp các khoản thuế, phí, lệ phí theo quy định để hình thành Ngân sách Nhà
nước.
Quan hệ này phát sinh khi doanh nghiệp vay, cho vay, trả nợ và đầu tư với
các tổ chức kinh tế nước ngoài.
Tóm lại, thông qua các mối quan hệ trên cho thấy tài chính doanh nghiệp đã
góp phần hình thành nên nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, các doanh nghiệp phải sử
dụng đúng đắn và có hiệu quả các công cụ tài chính nhằm thúc đấy doanh nghiệp
không ngừng hoàn thiện các phương thức kinh doanh để đạt hiệu quả cao hơn,
nếu không sẽ kìm hãm sự phát triển của toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia.
2. Sự cần thiết phải phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt trên nhiều lĩnh vực khác nhau của nền
kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển
được thì phải bảo đảm một tình hình tài chính vững chắc và ổn định. Muốn vậy
phải phân tích được tình hình tài chính của doanh nghiệp. Phân tích tài chính là
nghiên cứu khám phá hoạt động tài chính đã được biểu hiện bằng con số. Cụ thể
hơn , phân tích tình hình tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so
sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ mà nếu không phân tích thì các
con số đó chưa có ý nghĩa lớn đối với những người quan tâm đến tình hình tài
Trang 5
chính của doanh nghiệp. Nhiệm vụ của phân tích tình hình tài chính của doanh
nghiệp là sử dụng các công cụ, phương pháp và kỹ thuật để làm các con số nói
lên thực chất của tình hình tài chính của doanh nghiệp. Các quyết định của người
quan tâm sẽ chính xác hơn nếu như họ nắm bắt được cơ chế hoạt động tài chính
thông qua việc sử dụng thông tin của phân tích tài chính. Mặc dù việc sử dụng
thông tin tài chính của một nhóm người trên những góc độ khác nhau, song phân
tích tình hình tài chính cũng nhằm thoả mãn một cách duy nhất cho các đối tương
quan tâm, cụ thể là:
• Đối với bản thân doanh nghiệp: Việc phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho
các nhà lãnh đạo và bộ phận tài chính doanh nghiệp thấy được tình hình tài
chính của đơn vị mình và chuẩn bị lập kế hoạch cho tương lai cũng như đưa
ra các kết quả đúng đắn kịp thời phục vụ quản lý. Qua phân tích, nhà lãnh đạo
doanh nghiệp thấy được một cách toàn diện tình hình tài chính trong doanh
trọng .
II. HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH KẾ TOÁN TRONG PHÂN TÍCH
TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP.
1. Khái niệm và ý nghĩa.
1.1. Khái niệm:
Báo cáo tài chính kế toán là những báo cáo tổng hợp được lập dựa vào phương
pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính
phát sinh tại những thời điểm hoặc thời kỳ nhất định. Các báo cáo tài chính kế
toán phản ánh một cách có hệ thống tình hình tài sản, công nợ, tình hình sử dụng
vốn và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong những thời kỳ nhất
định, đồng thời chúng được giải trình giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin
tài chính nhận biết được thực trạng tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh của
đơn vị để đề ra các quyết định cho phù hợp .
1.2. Ý nghĩa:
Báo cáo tài chính kế toán là căn cứ quan trọng cho việc đề ra quyết định quản
lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách thích hợp, giúp cho chủ
Trang 7
doanh nghiệp sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả vốn và các nguồn lực,
nhà đầu tư có được quyết định đúng đắn đối với sự đầu tư của mình, các chủ nợ
được bảo đảm về khả năng thanh toán của doanh nghiệp về các khoản cho vay,
Nhà cung cấp và khách hàng đảm bảo được việc doanh nghiệp thực hiện các cam
kết, các cơ quan Nhà nước có được các chính sách phù hợp để hỗ trợ và tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như kiểm soát
được doanh nghiệp bằng pháp luật
2. Vai trò mục đích và các yêu cầu đối với các thông tin trình bày
trên hệ thống báo cáo tài chính kế toán
2.1. Vai trò:
Hệ thống báo cáo tài chính kế toán của doanh nghiệp có những vai trò sau
đây :
* Cung cấp những chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết, giúp kiểm tra phân tích một
dụng, các thông tin trình bầy trên đó phải đáng tin cậy. Các thông tin được coi
là đáng tin cậy khi chúng đảm bảo một số yêu cầu sau
+ Trung thực: Để có độ tin cậy, các thông tin phải được trình bầy một cách
trung thực về những giao dịch và sự kiện phát sinh.
+ Khách quan : Để có độ tin cậy cao, thông tin trình bầy trên báo cáo tài
chính kế toán phải khách quan, không được xuyên tạc hoặc bóp méo một cách cố
ý thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Các báo cáo tài chính sẽ không được coi
là khách quan nếu việc lựa chọn hoặc trình bầy có ảnh hưởng đến việc ra quyết
định hoặc xét đoán và cách lựa chọn trình bầy đó nhằm đạt đến kết quả mà người
lập báo cáo đã biết trước .
+ Đầy đủ: thông tin trên báo cáo tài chính kế toán cung cấp phải đảm bảo đầy
đủ, không bỏ sót bất cứ khoản mục hay chỉ tiêu nào vì một sự bỏ sót dù nhỏ nhất
cũng có thể gây ra thông tin sai lệch dẫn đến kết luận phân tích nhầm lẫn .
+ Tính so sánh được: Các thông tin do hệ thống báo cáo tài chính kế toán
cung cấp phải đảm bảo cho người sử dụng có thể so sánh chúng với các kỳ trước,
kỳ kế hoạch để xác định được xu hướng biến động thay đổi về tình hình tài chính
của doanh nghiệp. Ngoài ra, người sử dụng cũng có nhu cầu so sánh báo cáo tài
Trang 9
chính kế toán của các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực để đánh giá mối tương
quan giữa các doanh nghiệp cũng như so sánh thông tin khi có sự thay đổi về cơ
chế chính sách tài chính kế toán mà doanh nghiệp áp dụng.
+ Tính thích hợp: Để báo cáo tài chính kế toán trở nên có ích cho người sử
dụng, các thông tin trình bầy trên báo cáo tài chính kế toán phải thích hợp với
người sử dụng để họ có thể đưa ra các quyết định kinh tế của mình.
3. Nguyên tắc trình bầy thông tin trên hệ thống báo cáo tài chính kế
toán.
Nhìn chung, báo cáo tài chính kế toán là sản phẩm cuối cùng của quá trình
hạch toán của doanh nghiệp. Tất cả các phần hành kế toán đều có mục đích chung là
phản ánh các giao dịch và sự kiện phát sinh trong kỳ để lập và trình bầy báo cáo tài
chính kế toán.Vì vậy, việc trình bầy thông tin trên hệ thống báo cáo tài chính kế toán
• Nguyên tắc bù trừ: Theo nguyên tắc này, báo cáo tài chính kế toán cần trình
bày riêng biệt tài sản Có và tài sản Nợ, không được phép bù trừ các tài sản với
các khoản nợ để chỉ trình bày vốn chủ sở hữu và tài sản thuần của doanh
nghiệp.
4. Các loại báo cáo trong hệ thống báo cáo tài chính kế toán của
doanh nghiệp:
Nhìn chung, hệ thống báo cáo tài chính kế toán của doanh nghiệp ở bất kỳ
quốc gia nào trên thế giới đều cũng phải trình bày 4 báo cáo chủ yếu sau:
• Bảng cân đối kế toán, mẫu số B01-DN.
• Báo cáo kết quả kinh doanh, mẫu số B02-DN.
• Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, mẫu số B03-DN.
• Bản thuyết minh báo cáo tài chính, mẫu số B04-DN.
Ngoài ra, để phục vụ cho yêu cầu quản lý kinh tế tài chính, yêu cầu chỉ đạo
mà các ngành, các công ty, các tập đoàn sản xuất, các liên hiệp xí nghiệp, các
công ty liên doanh có thể quy định thêm các báo cáo tài chính kế toán khác. Tuy
Trang 11
nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài, chúng ta sẽ đề cập đến các báo cáo cơ
bản như đã trình bày ở trên.
4.1. Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN):
4.1.1. Khái niệm và ý nghĩa:
a) Khái niệm: Bảng CĐKT (hay còn gọi là bảng tổng kết tài sản) là một báo
cáo tài chính kế toán tổng hợp phản ánh khái quát tình hình tài sản của doanh
nghiệp tại một thời điểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và
nguồn hình thành tài sản. Về bản chất, Bảng CĐKT là một bảng cân đối tổng hợp
giữa tài sản với nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả của doanh nghiệp .
b) Ý nghĩa: Bảng CĐKT là tài liệu quan trọng để phân tích, đánh giá một cách
tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển
vọng kinh tế tài chính của doanh nghiệp.
.1.2. Cơ sở lập và các nguyên tắc chung trình bày thông tin trên Bảng cân đối
kế toán:
III. Các khoản phải thu .
IV. Tồn kho.
TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ ĐẦU TƯ DÀI HẠN.
• Nguyên tắc trình bày Nợ phải trả theo thời hạn: Theo nguyên tắc này,
các khoản nợ phải chả được trình bày theo nguyên tắc các khoản vay và nợ
ngắn hạn được trình bày trước, các khoản vay và nợ dài hạn được trình bày
sau.
4.1.3. Nội dung và kết cấu của bảng CĐKT:
Bảng CĐKT có cấu tạo dưới dạng bảng cân đối số, đủ các tài khoản kế toán và
được sắp xếp các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý. Bảng CĐKT gồm có hay phần:
• Phần tài sản: phản ánh giá trị tài sản.
• Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành tài sản.
Hai phần “Tài sản” và “Nguồn vốn” có thể được chia hai bên (bên trái và bên
phải) hoặc một bên (phía trên và phía dưới ). Mỗi phần đều có số tổng cộng và số
tổng cộng của hai phần bao giờ cũng bằng nhau vì cùng phản ánh một lượng tài
sản theo nguyên tắc phương trình kế toán đã trình bày ở trên.
Phần tài sản được chia làm hai loại:
Trang 13
• Loại A: TSLĐ và ĐTNH phản ánh giá trị của các loại tài sản có thời gian
chuyển đổi thành tiền trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh.
• Loại B: TSCĐ và ĐTDH phản ánh giá trị của các loại tài sản có thời gian
chuyển đổi thành tiền từ một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh trở nên.
Phần nguồn vốn được chia làm hai loại:
• Loại A: Nợ phải trả thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp với các chủ nợ
(người bán chịu, người cho vay, Nhà nước, công nhân viên).
• Loại B: Nguồn vốn chủ sở hữu thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp trước
chủ sở hữu đã đầu tư vốn vào doanh nghiệp.
Trong mỗi loại của BCĐKT được chi tiết thành quách khoản mục, các
khoản bảo đảm cung cấp thông tin cần thiết cho người đọc và phân tích báo cáo
tài chính kế toán của doanh nghiệp.
khoảng thời gian nhất định (thường là một kỳ ) của doanh nghiệp .
Các thông tin trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh phải tuân thủ các nguyên
tắc sau đây:
• Nguyên tắc phân loại hoạt động: BCKQKD phân loại hoạt động theo mức
độ thông dụng của hoạt động đối với doanh nghiệp. Như vậy, các hoạt động
thông thường của doanh nghiệp sẽ được phân loại là hoạt động sản xuất kinh
doanh, kết quả hoạt động này tạo ra doanh thu của doanh nghiệp. Các hoạt
động liên quan đến đầu tư tài chính được phân loại là hoạt động tài chính,
hoạt động không xảy ra thường xuyên sẽ được phân loại là hoạt động bất
thường.
• Nguyên tắc ghi nhận doanh thu và chi phí:
+ Nguyên tắc phù hợp: BCKQKD trình bày các khoản doanh thu, thu nhập và
chi phí của doanh nghiệp trong kỳ. Vì vậy, BCKQKD phải được trình bày theo
nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí.
+ Nguyên tắc thận trọng: Theo nguyên tắc này, một khoản chưa xác định
chắc chắn sẽ đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp thì chưa
được ghi nhận là doanh thu trong kỳ của doanh nghiệp và không được trình bày
trên BCKQKD. Ngược lại, một khoản lỗ trong tương lai chưa thực tế phát sinh đã
được ghi nhận là chi phí và được trình bày trên BCKQKD.
Trang 15
4.2.3. Nội dung và kết cấu của báo cáo kết quả kinh doanh:
BCKQKD gồm có 3 phần:
• Phần I: Lãi, lỗ, phản ánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, bao gồm hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác.
• Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước: phản ánh tình hình
thực hiện nghĩa vụ về thuế và các khoản phải trả khác của doanh nghiệp đối
với Nhà nước.
• Phần III: Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, được miễn
giảm: phản ánh số thuế GTGT được khấu trừ, đã khấu trừ và còn được khấu
trừ cuối kỳ, số thuế GTGT được hoàn lại và còn được hoàn lại, số thuế GTGT
• Nguyên tắc phân loại hoạt động: Ngyuên tắc phân loại hoạt động sản xuất
kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính trên báo cáo LCTT khác
biệt với nguyên tắc phân loại hoạt động trên báo cáo KQKD. Việc phân loại
trên báo cáo LCTT căn cứ vào bản chất của hoạt động đó đối với doanh
nghiệp, tức là hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động
tài chính.
+ Hoạt động sản xuất kinh doanh: là hoạt động tạo ra doanh thu của doanh
nghiệp .
+ Hoạt động đầu tư: là hoạt động làm thay đổi các tài sản dài hạn và các
khoản đầu tư của doanh nghiệp vào một doanh nghiệp khác.
+ Hoạt động tài chính: là các hoạt động tạo ra sự thay đổi của vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp.
Việc phân loại hoạt động trên Báo cáo LCTT cũng còn tuỳ thuộc vào đặc
điểm và tuỳ loại hình doanh nghiệp. Ví dụ, đối với lĩnh vực ngân hàng hay các tổ
chức tài chính, việc cho vay và huy động vốn là hoạt động sản xuất kinh doanh
bình thường. Nhưng đối với các doanh nghiệp khác, luồng tiền từ hoạt động cho
vay lại có thể được phân loại thành hoạt động đầu tư và luồng tiền từ việc huy
động vốn lại được phân loại là hoạt động tài chính.
• Nguyên tắc trình bày luồng tiền theo phương pháp trực tiếp:
Trang 17
Theo nguyên tắc này chỉ những giao dịch bằng tiền mới được trình bày trên
báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Theo chuẩn mực kế toán quốc tế để trình bày các
luồng tiền theo phương pháp trực tiếp có hay cách:
+ Thứ nhất: Các luồng tiền được trình bày căn cứ vào các bút toán ghi sổ
chi tiết các giao dịch bằng tiền.
+ Thứ hai: Các luồng tiền được xác định bằng cách điều chỉnh:
- Doanh thu cộng (trừ) các khoản phải thu.
- Chi phí điều chỉnh cho các khoản giá vốn, các khoản phải trả và khấu hao
thực tế phát sinh trong kỳ.
• Nguyên tắc trình bày luồng tiền theo phương pháp gián tiếp:
dư cuối kỳ lớn hơn số dư đầu kỳ thì số chênh lệch là dòng tiền ra sẽ mang dấu trừ
(-) và ngược lại.
+ Đối với các khoản mục phải trả và nguồn vốn Chủ sở hữu nếu số dư cuối
kỳ lớn hơn đầu kỳ thì số chênh lệch là dòng tiền vào sẽ mang dấu dương (+).
4.3.4. Nội dung kết cấu của báo cáo LCTT:
Báo cáo LCTT gồm có ba phần:
a) Ph ần I : Lưu chuyển tiền từ hoạt động SXKD phản ánh toàn bộ dòng
tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp như tiền thu bán hàng, tiền thu từ các khoản thu thương
mại, các chi phí bằng tiền như tiền trả cho người cung cấp (trả ngay
trong kỳ và tiền trả cho khoản nợ từ kỳ trước) tiền thanh toán cho công
nhân viên về lương và BHXH, các chi phí khác bằng tiền (chi phí văn
phòng phẩm, công tác phí...).
b) Ph ần II: Lưu chuyển từ hoạt động đầu tư: Phản ánh toàn bộ dòng tiền
thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh
nghiệp, bao gồm đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho bản thân doanh
nghiệp như hoạt động XDCB, mua sắm TSCD, đầu tư vào các đơn vị
khác dưới hình thức góp vốn liên doanh, đầu tư chứng khoán, cho vay,
đầu tư ngắn hạn và dài hạn. Dòng tiền lưu chuyển được tính gồm toàn
bộ các khoản thu do bán thanh lý tài sản cố định, thu hồi các khoản
đầu tư vào các đơn vị khác, chi mua sắm, xây dựng TSCĐ, chi để đầu
tư vào các đơn vị khác.
c) Ph ần III: Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính phản ánh toàn bộ
dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính
của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính bao gồm các nghiệp vụ làm
tăng, giảm vốn kinh doanh của doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp
góp vốn, vay vốn, nhận vốn liên doanh, phát hành trái phiếu, cổ phiếu,
trả nợ vay ... Dòng tiền lưu chuyển được tính bao gồm toàn bộ các
khoản thu, chi liên quan như tiền vay nhận được, tiền thu do nhận vốn
Trang 19
ngắn gọn dễ hiểu, phần số liệu phải thống nhất với số liệu trên các báo cáo kế
toán khác. Thuyết minh cáo tài chính có nội dung cơ bản sau :
• Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp.
• Chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp: Bao gồm các thông tin về niên độ
kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán, nguyên tắc, phương
pháp kế toán tài sản cố định, kế toán hàng tồn kho, phương pháp tính toán các
khoản dự phòng, tình hình trích lập và hoàn nhập dự phòng.
• Chi tiết một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính kế toán bao gồm :
+ Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố.
+ Tình hình tăng giảm theo từng nhóm tài sản cố định, từng loại tài sản cố
định.
+ Tình hình thu nhập của công nhân viên.
+ Tình hình tăng, giảm vốn chủ sở hữu.
+ Tình hình tăng, giảm các khoản đầu tư vào các đơn vị khác.
+ Các khoản phải thu và nợ phải trả.
+ Giải thích và thuyết minh một số tình hình và kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh
+ Một số chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh
nghiệp như chỉ tiêu bố trí cơ cấu vốn, tỷ suất lợi nhuận, tình hình tài chính ...
+ Phương hướng sản xuất kinh doanh trong kỳ tới.
+ Các kiến nghị.
5. Khái quát hệ thống các chỉ tiêu phân tích tình hình tài chính của
doanh nghiệp từ hệ thống báo cáo tài chính kế toán.
Dựa trên cơ sở và nguyên tắc lập các báo cáo tài chính kế toán để phần tích
tình hình tài chính của doanh nghiệp chúng ta có thể khái quát hệ thống các chỉ
tiêu chủ yếu để phần tích tình hình tài chính của doanh nghiệp qua hai báo cáo
quan trọng nhất là BCĐKT và BCKQKD như sau:
Trang 21
5.1. Nhóm chỉ tiêu chủ yếu để phân tích tình hình tài chính của doanh
nghiệp được rút ra trên cơ sở số liệu của BCĐKT:
thanh toán =
nhanh Tổng nợ ngắn hạn
Tỷ suất Tổng tài sản lưu động
thanh toán =
hiện hành Tổng nợ ngắn hạn
Tỷ suất Tổng vốn bằng tiền
thanh toán =
tức thời Tổng nợ ngắn hạn
Tỷ suất Tổng vốn bằng tiền
thanh toán của =
vốn lưu động Tổng tài sản lưu động
Mức độ bảo đảm Nguồn vốn TSLĐ
Thừa (+) hoặc thiếu (-) = lưu động - dự trữ
nguồn vốn lưu động thực tế thực tế
Số VCĐ Số vốn Khấu hao Hệ số Tăng (giảm)
phải bảo toàn = được giao - cơ bản * điều chỉnh + vốn
Trang 23
đến cuối kỳ đầu kỳ trích trong kỳ giá trị TSCĐ (-) trong kỳ
Số VCĐ Số vốn Hệ Tăng (giảm)
phải bảo toàn = được giao * số + vốn
đến cuối kỳ đầu kỳ trượt giá (-) trong kỳ
Số VLĐ Số vốn Hệ số
phải bảo toàn = đãđược * trượt giá
đến cuối năm giao VLĐ
5.2. Nhóm chỉ tiêu có liên hệ giữa BCĐKT với BCKQKD trong phân
tích tình hình tài chính của doanh nghiệp:
Doanh thu thuần
Sức sản xuất của TSCĐ =
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Số doanh thu thuần VLĐ Tốc độ luân Tốc độ luân
tăng thêm(+) = bình * chuyển của VLĐ - chuyển của VLĐ
hoặc mất đi(-) quân kỳ phân tích kỳ gốc
Số VLĐ Tổng doanh thu thuần kỳ phân tích
tiết kiệm(- ) = *
hoặc lãng phí(+) Thời gian của kỳ phân tích
Trang 25