ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
________________
Khoa Mạng Máy Tính & Truyền Thông
Môn học: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ SÁNG TẠO KHOA HỌC
TRONG TIN HỌC
BÀI LUẬN CUỐI KỲ
NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH TRUYỀN
THÔNG HỢP NHẤT TRONG DOANH NGHIỆP
GVHD: GS-TSKH Hoàng Văn Kiếm
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Quốc Cường
MSSV : 06520061
TP. HCM, tháng 1, năm 2010
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Khoa Mạng máy tính và truyền thông, trường Đại học
Công nghệ thông tin Tp HCM đã tạo điều kiện cho em được học và làm luận văn môn học
Phương pháp luận và sáng tạo khoa học trong tin học.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Hoàng Văn Kiếm người đã tận tâm truyền đạt
những kiến thức nền tảng cơ bản cho chúng em về môn học “Phương pháp luận và sáng
tạo khoa học trong tin học”.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Sơn với công lao trợ giúp không mệt mỏi của thầy.
Xin chân thành cảm ơn bạn bè trong lớp đã giúp đỡ nhau chia sẻ tài liệu về môn
học.
Trong phạm vi bài luận văn nhỏ này chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.
Em kính mong nhận được sự cảm thông và tận tình chỉ bảo của các thầy.
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Quốc Cường
01/2010
Lời mở đầu
Giải quyết một vấn đề trong tin học luôn cần vận dụng những kiến thức về phương pháp
nói ở đây là hệ thống tri thức khoa học, khác với tri thức kinh nghiệm.
Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích luỹ một cách ngẫu nhiên từ trong
đời sống hàng ngày. Nhờ tri thức kinh nghiệm, con người có được những hình dung thực tế
về các sự vật, biết cách phản ứng trước tự nhiên, biết ứng xử trong các quan hệ xã hội. tri
thức kinh nghiệm ngày càng trở nên phong phú, chứa đựng những mặt đúng đắn, nhưng
riêng biệt chưa thể đi sâu vào bản chất các sự vật, và do vậy tri thức kinh nghiệm chỉ giúp
cho con người phát triển đến một khuôn khổ nhất định. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm
luôn là một cơ sở quan trọng cho sự hình thành các tri thức khoa học.
Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích lũy một cách hệ thống nhờ hoạt động
nghiên cứu khoa học, là loại hoạt động được vạch sẳn theo một mục tiêu xác định và được
tiến hành dựa trên những phương pháp khoa học. Tri thức khoa học không phải là sự kế tục
giản đơn các tri thức kinh nghiệm, mà là sự tổng kết những tập hợp số liệu và sự kiện ngẫu
nhiên, rời rạc để khái quát hóa thành cơ sở lý thuyết về các liên hệ bản chất.
II. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC :
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều
mà khoa học chưa biết hoặc là phát hiện bản chất sư vật, phát triển nhận thức khoa học về
thế giới hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới.
Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học. Ở đây ta đề cập đến phân loại theo
chức năng nghiên cứu và theo tính chất của sản phẩmtri thức khoa học thu được nhờ kết
quả nghiên cứu.
II .1.Phân loại theo chức năng nghiên cứu :
• Nghiên cứu mô tả, là những nghiên cứu nhằm đưa ra một hệ thống tri thức về
nhân dạng sư vật, giúpcon người phân biệt được sự khác nhau, về bản chất
giữa sự vật này với sự vật khác. Nội dung mô tả có thể bao gồm mô tả hình
thái, động thái, tương tác; mô tả định tính tức là các đặc trưng về chất của sự
vật; mô tả định lượng nhằm chỉ rõ các đặc trưng về lượng của sự vật.
• Nghiên cứu giải thích, là những nghiên cứu nhằm làm rõ nguyên nhân dẫn
đến sự hình thành và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật. Nội
dung của giải thích có thể bao gồm giải thích nguồn gốc; động thái; cấu tr1uc;
tương tác; hậu quả; quy luật chung chi phối quá trình vận động của sự vật.
như địa chất, nghiên cứu đại dương, khí quyển, khí tượng; điều tra cơ bản về
kinh tế, xã hội đều thuộc loại nghiên cứu nền tảng.
Nghiên cứu chuyên đề, là nghiên cứu về một hiên tượng đặc biệt của sự vật, ví
dụ trạng thái plasma của sự vật, bức xạ vũ trụ, gien di truyền. Nghiên cứu
chuyên đề vừa dẫn đến hình thành những cơ sở lý thuyết, mà còn dẫn đến
những ứng dụng có ý nghĩa thực tiễn.
• Nghiên cứu ứng dụng (Applied research) : là sự vận dụng quy luật
được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật, tạo ra những nguyên
lý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xúât và đời sống. Giải pháp
được hiểu theo nghĩa rộng có thể là một giải pháp về công nghệ, về vật liệu, về tổ
chức và quản lý. Một số giải pháp công nghệ có thể trở thành sáng chế. Kết quả
nghiên cứu ứng dụng thì chưa ứng dụng được, để có thể đưa kết quả nghiên cứu
ứng dụng vào sử dụng thì còn phải tiến hành một loại hình nghiên cứu khác có tên
gọi lả triển khai.
• Nghiên cứu triển khai (Development research) : còn gọi là nghiên
cứu triển khai thực nghiệm hay triển khai thực nghiệm kỹ thuật, là sự vận dụng các
quy luật (thu được từ nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý (thu được từ nghiên cứu
ứng dụng) để đưa ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật. Kết quả
nghiên cứu triển khai thì chưa triển khai được: sản phẩm của triển khai chỉ mới là
những hình mẫu khả thi về kỹ thuật, nghĩa là không còn rủi ro về mặt kỹ thuật, để
áp dụng được còn phảitiến hành nghiên cứu những tính khả thi khác như khả thi tài
chính, khả thi kinh tế, khả thi môi trường, khả thi xã hội. Hoạt động triển khai bao
triển khai trong phòng thí nghiệm và triển khai bán đại trà.
Triển khai trong phòng thí nghiệm : là loại hình triển khai nhằm khẳng định
kết quả sao cho ra được sản phẩm, chưa quan tâm đến quy mô áp dụng. trong
những nghiên cứu về công nghệ, loại hình này được thực hiện trong các phòng
thí nghiệm, labô công nghệ, nhà kính. Trên một quy mô lớn hơn, hoạt động
triển khai cũng được tiến hành trong các xưởng thực nghiệm thuộc viện hoặc xí
nghiệp sản xuất.
Triển khai bán đại trà : trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật
Truyền hình Internet hay truyền hình qua giao thức Internet (IPTV - Internet
Protocol Television) là công nghệ truyền hình thế hệ mới, là một hệ thống dịch vụ truyền
hình kỹ thuật số được truyền đến khách hàng thuê bao bằng giao thức Internet băng thông
rộng qua đường ADSL. Dịch vụ IPTV chủ yếu do một nhà cung cấp Internet băng thông
rộng điều hành, dựa trên cơ sở hạ tầng sẵn có.
Ta hãy cùng tìm hiểu kỹ hơn về Truyền thông Hợp nhất. Một loại hình truyền thông
mà cả thế giới cùng hướng đến. Một xu hướng của trào lưu công nghệ (theo Microsoft).
I.1. Cuộc Cách Mạng Công nghệ Truyền Thông Hợp Nhất
Cho dù bạn là chủ tịch tập đoàn của một công ty phần mềm lớn nhất thế giới, một
nhân viên bán hàng tại một nhà máy sản xuất cỡ trung bình hay là một lễ tân tại một công
ty nhỏ mới thành lập, có một việc mà tất cả chúng ta cùng thấy quen thuộc tại công sở của
mình. Đầu tiên là bạn phải liên lạc khẩn cấp với đồng nghiệp. Trước tiên, bạn cần phải tìm
số máy lẻ của họ và gọi điện cho họ, nhưng rồi cái mà bạn nhận được là lời mời để lại tin
nhắn (voicemail). Sau khi để lại tin nhắn, bạn tìm thấy số di động của họ và tiếp tục gửi
tin nhắn thứ hai. Tiếp theo, bạn gửi email cho họ. Nếu tình cờ bạn đang ở trong một cuộc
họp mà đồng nghiệp của bạn nhận được tin nhắn của bạn và cố gắng liên lạc lại với bạn thì
quá trình này sẽ tự động lập lại nhưng theo hướng ngược lại.
Một thập kỷ sáng tạo và đổi mới không ngừng của công nghệ phần mềm đã thay đổi mạnh
mẽ môi trường làm việc và cho phép các nhân viên thông tin làm làm việc với với tốc độ
cao hơn, hiệu quả hơn và thông minh hơn. Tuy nhiên, việc liên lạc và chia sẻ thông tin với
các đồng nghiệp vẫn còn quá phức tạp và rắc rối. Vì bạn đăng ký tham gia chương trình
Microsoft Executive Email, do đó, tôi mong muốn được chia sẻ với bạn những suy nghĩ và
cảm nhận của tôi về những sáng tạo nhảy vọt trong “công nghệ truyền thông hợp nhất”,
đem lại hiệu quả cao hơn cho việc thông tin liên lạc tại nơi làm việc hay với bạn bè và gia
đình tại nhà.
I.2. Truyền thông Tiên tiến Trong Thế Giới Công Việc
Ngày nay, Internet đem lại cho con người rất nhiều lợi ích, cho phép chúng ta có thể
truy cập không giới hạn thông tin về các thị trường, các sản phẩm cũng như các đối thủ
cạnh tranh. Những ứng dụng hiệu quả sẽ giúp chúng ta sử dụng thông tin đó một cách hữu
ích để đạt được một sự hiểu biết thấu đáo về một thế giới đang thay đổi vô cùng nhanh
Vấn đề là ở chỗ sự đồng nhất trong giao tiếp và kinh nghiệm của chúng ta được gắn
kết quá chặt chẽ tới vị trí, thiết bị và phương thức liên hệ mà chúng ta đang sử dụng. Số
điện thoại cố định gắn với máy điện thoại cố định trên bàn làm việc của bạn. Số điện thoại
cầm tay kết nối tới máy điện thoại di động bạn bỏ trong túi..Bạn cũng có thể có những
nhận dạng riêng trong thư điện tử, tin nhắn cùng với một số dùng để tham gia điện đàm, và
cả một mã số và bạn phải dùng để truy nhập.
Điều này là vô cùng phức tạp, công nghệ truyền thông hợp nhất này sẽ giảm bớt
tính phức tạp, rắc rối này bằng cách đặt con người vào vị trí trung tâm của truyền thông.
Mục tiêu của chúng tôi là hợp nhất tất cả các phương thức mà chúng ta liên hệ với nhau
trong một môi trường đơn lẻ, sử dụng một nhận diện chung cho điện thoại, máy tính, và
những thiết bị khác. Mục tiêu trong tương lai của chúng tôi là giúp mọi người liên lạc với
nhau một cách dễ dàng hơn thông qua các phương tiện thông tin liên lạc hữu ích và hiệu
quả nhất, hay bằng các thiết bị tiện lợi nhất
Với công nghệ truyền thông hợp nhất, bạn có thể nhận biết ngay người bạn muốn
nói chuyện với có đang ở trong văn phòng và có thể nhận cuộc gọi của bạn hay không. Khi
bạn đang bận điện thoại thì bạn cũng có thể chuyển từ cuộc đàm thoại giữa hai người sang
cuộc gọi hội nghị chỉ bằng một nhắp chuột rất đơn giản, hoặc bằng cách bật truyền hình
hội nghị cho các đồng nghiệp và đối tác ở khắp mọi nơi trên thế giới tham gia. Các giải