Giải pháp hoàn thiện và phát triển mô hình Công ty Tài chính trong Tổng Công ty Nhà nước ở Việt Nam. - Pdf 11

Đề án môn học
Mở đầu
I. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng về vấn đề đổi mới doanh nghiệp Nhà
nớc, Chính phủ đã ra các quyết định 90-91/1994/TTg thành lập các tổng Công ty
Nhà nớc trên cơ sở sắp xếp lại các tổng Công ty và liên hiệp các xí nghiệp cũ.
Trong quá trình chỉ đạo thực hiện của mình, Chính phủ luôn lu ý đến việc kiện toàn
tổ chức bộ máy của các Tổng Công ty trong đó rất lu ý đến các Công ty tài chính.
Từ các quyết định 90 và 91/TTg, Nghị định 39/1995/CP Chính phủ đã cho
phép thành lập các Công ty Tài chính tại các Tổng Công ty có đủ điều kiện nhằm
tìm kiếm khơi thông các nguồn vốn nội bộ, thu hút vốn từ bên ngoài, quản lý và
nâng cao việc sử dụng vốn của toàn bộ các Tổng Công ty.
Cho đến nay đã có 5 Công ty tài chính nh thế đợc thành lập là Công ty Tài
chính dầu khí, Bu điện, Công nghiệp tàu thủy, Dệt may và Cao su. Tuy nhiên nhìn
chung cho đến nay, chúng đều có quy mô nhỏ, cha đáp ứng đợc những yêu cầu đặt
ra, vì thế phải có định hớng phát triển và hoàn thiện chúng nhằm khai thác tốt hơn
nguồn lực sẵn có của các Tổng Công ty, bản thân Công ty Tài chính và những vấn
đề khác. Việc làm này có tính chất chiến lợc lâu dài, là một biện pháp rất quan trọng
để tiến đến những hình thức sản xuất lớn. Đó là điều quan tâm của toàn xã hội, nhất
là đối với chính phủ và bản thân các Tổng Công ty.
Những vấn đề bức xúc trên đã là điểm xuất phát để tôi chọn đề tài "Giải
pháp hoàn thiện và phát triển mô hình Công ty Tài chính trong Tổng Công ty
Nhà nớc ở Việt Nam
II. Mục đích của đề tài:
- Nhìn nhận đợc một số vấn đề lý luận về Công ty Tài chính cũng nh về mô
hình công ty tài chính trong tập đoàn kinh tế.
- Đánh giá thực trạng hoạt động của các Công ty Tài chính trong các Tổng
Công ty Nhà nớc trong thời gian qua và rút ra những bài học bớc đầu.
- Nêu lên một số giải pháp và kiến nghị cơ bản để hoàn thiện mô hình.
III. Phạm vi của đề tài:
Đây là một nội dung lớn về vấn đề nh: Hoàn thiện phát triển về cơ cấu tổ

Một số lý luận chung về mô hình Công ty Tài chính trong
tập đoàn kinh tế.
I. Khái quát về tổ chức tài chính phi Ngân hàng.
1. Khái niệm về tổ chức tài chính phi ngân hàng.
Dới sự phát triển mạnh mẽ của thị trờng tài chính, bản thân các chủ thể của
nó cũng có những bớc phát triển không ngừng. Các hoạt động của hệ thống ngân
hàng càng đợc mở rộng về tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, từ các hình thức
mang tính chất ngắn hạn đến trung và dài hạn Đồng thời chúng đã đ ợc chuyên
môn hóa theo các lĩnh vực khác nhau để đáp ứng nhu cầu thị trờng.
Tuy nhiên trớc sự phát triển rất mạnh của thị trờng tài chính, có những nơi,
những lĩnh vực mà bản thân các ngân hàng không thể bao quát hết, vì thế đòi hỏi
phải có những tổ chức nhất định đảm nhận công việc này. Đó là các tổ chức tài
chính phi ngân hàng. Những tổ chức này kinh doanh trong lĩnh vực tài chính -
tiền tệ, đợc thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhng không đợc nhận tiền gửi
không kỳ hạn và không cung cấp hệ thống thanh toán.
2. Đặc điểm và vai trò.
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng có đặc điểm khác biệt với các ngân hàng
ở chỗ: Chúng không nhận tiền gửi không kỳ hạn, chỉ đợc nhận tiền gửi có kỳ hạn
nhất định, không đợc làm các dịch vụ thanh toán nh các ngân hàng. Do đó chúng
không tham gia quá trình tạo tiền gửi và không bị điều hành chặt chẽ của Ngân hàng
Trung ơng nh các Ngân hàng Thơng mại. Với đặc thù của mình, chúng đã đa các
khoản tiết kiệm nhỏ lẻ vào phục vụ quá trình sản xuất và đời sống theo các hoạt
động thế mạnh của mình nh: chứng khoán, cho vay tiêu dùng, thế chấp đồng thời
làm các dịch vụ nh: môi giới, đại lý.Với những đặc thù của mình, các tổ chức tài
chính phi ngân hàng có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội.Chúng góp
phần làm đa dạng hóa các dịch vụ, tài chính cho nền kinh tế, đem lại những lợi ích
thiết thực: tạo cơ hội sinh lời cho các nguồn tiết kiệm nhỏ lẻ thúc đẩy cạnh tranh và
tiến bộ tài chính
Các hoạt động của các tổ chức tài chính phi ngân hàng đem lại các hợp đồng
bảo hiểm, các dịch vụ cung cấp thông tin cho các khách hàng, giúp họ đ ợc bảo vệ

hơn lãi suất thị trờng để giảm rủi ro.
* Các Công ty tài chính bán hàng: Cung cấp tín dụng gián tiếp cho ngời tiêu
dùng để mua sắm các loại hàng do Công ty mẹ hay một nhà sản xuất nào đó bán ra.
Các Công ty tài chính này mua lại khoản nợ của ngời mua hàng, từ ngời bán hàng và
thu nợ từ ngời mua hàng.
4
Đề án môn học
* Công ty tài chính - thơng mại: Chúng mua những khoản tiền phải thu hoặc
chiết khấu các khoản phải thu của doanh nghiệp. Các khoản phải thu này là vốn lu
động phí dịch vụ cha thu tiền. Ngoài cách này, các Công ty tài chính còn cung cấp
các loại hình nh: cho thuê tín dụng, thuê thiết bị
Nh vậy, mỗi loại hình Công ty có những khách hàng riêng biệt của mình và
đi đôi với nó là một phạm vi cung ứng dịch vụ riêng.Tuy nhiên thời gian gần đây, sự
phân biệt trên đã dần mờ nhạt dần.
2. Về mô hình Công ty tài chính trong tập đoàn kinh tế.
2.1. Những điểm chính về Tập đoàn kinh tế.
Tập đoàn kinh tế đã ra đời, tồn tại và phát triển từ lâu trong lịch sử phát triển
kinh tế thế giới. Quá trình tích tụ, tập trung sản xuất đã tạo ra một làn sóng cha từng
có để hình thành các tập đoàn lớn hoạt động trong các ngành, các lĩnh vực then chốt
có lợi nhuận cao. Tập đoàn là một hình thức sản xuất tiên tiến, đại diện cho trình độ
phát triển cao của lực lợng sản xuất, đóng vai trò chi phối mạnh mẽ đến toàn bộ nền
kinh tế các nớc trong giai đoạn hiện nay. Chúng có một số đặc điểm sau:
Một là: Có quy mô rất lớn về vốn, doanh thu và thị trờng.
Hai là: Phạm vi hoạt động rất rộng; đa số các tập đoàn lớn trên thế giới là các
Công ty đa quốc gia hoạt động trên toàn cầu.
Ba là: Tập đoàn có thể sản xuất theo đơn ngành hay đa ngành. Xu thế hiện
nay là mở rộng ra đa ngành mà lĩnh vực tài chính là đặc biệt quan trọng.
Bốn là: Tập đoàn là một tổ hợp các Công ty, trong đó các Công ty đóng vai trò là
Công ty mẹ chi phối các thành viên về các mặt tài chính và chiến lợc phát triển.
Để thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của mình đồng thời đảm bảo sự vững

thị trờng hoạt động của tập đoàn.
- Về mối quan hệ giữa Công ty Tài chính và các thành viên: Gắn bó chặt chẽ
với nhau; vừa là khách hàng và bạn hàng của nhau . Chúng cùng quan hệ với nhau
thông qua một mức lãi suất nội bộ.
Để thấy rõ hơn phần nào đặc điểm của các Công ty tài chính trong các tập
đoàn kinh tế ta sẽ so sánh một số điểm giữa Công ty tài chính và các phòng ban tài
chính trong các doanh nghiệp. Sự khác biệt đợc thể hiện dới bảng sau:
STT
Phòng ban tài chính Công ty tài chính
1
Là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ có
chức năng tham mu cho lãnh đạo.
Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực tài chính - tiền tệ
2 Không có t cách pháp nhân
Hạch toán độc lập và có t cách pháp
nhân
3
Theo dõi, kiểm tra, giám sát về lĩnh
vực kế toán, thống kê, tài chính của
doanh nghiệp.
- Giao dịch với các thành viên với t
cách là các khách hàng đặc biệt
- Kinh doanh tiền tệ, đợc ủy thác thực
hiện huy động, điều hòa vốn và đầu t
tài chính
4
Thực hiện chức năng kế hoạch hóa tài
chính: Kế hoạch tài chính, cân đối và
quản lý các nguồn vốn, các quỹ

2.4.2. Hoạt động đầu t vốn:
2.4.2.1. Cho vay Đây là hoạt động chủ yếu của các Công ty tài chính để tạo
lợi nhuận. Hoạt động này rất đa dạng, phong phú, bao gồm:
* Nếu căn cứ vào thể thức cho vay, bao gồm:
- Tín dụng ứng trớc:.
- Thấu chi:.
- Chiết khấu thơng phiếu:.
* Nếu căn cứ vào đối tợng, hoạt động cho vay gồm:
7
Đề án môn học
- Cho vay theo ngành nghề
- Cho vay tiêu dùng.
- Cho các tập đoàn và thành viên vay.
- Cho các tổ chức tín dụng khác vay.
2.4.2.2. Đầu t chứng khoán:
Các Công ty tài chính còn là nhà đầu t trên thị trờng tài chính. Đầu t chứng
khoán là nguồn lợi quan trọng thứ hai sau cho vay. Hoạt động này giúp Công ty tài
chính có thể phân tán rủi ro trong hoạt động của mình.
2.4.2.3. Cho thuê tài sản.
Đó là hình thức mà theo đó, khách hàng có thể sử dụng tài sản vào mục đích
nhất định. Đáng chú ý là: nếu trong hợp đồng có kèm theo lời hứa của ngời cho
thuê sẽ bán lại tài sản này cho ngời đi thuê chậm nhát là khi kết thúc hợp đồng thì
gọi là cho thuê tài chính; nếu không có thì gọi là cho thuê hoạt động.
Hợp đồng thuê tài chính đợc nêu ở trên có 4 tiêu chuẩn đó là:
* Quyền sở hữu tài sản đợc chuyển giao khi kết thúc hợp đồng.
* Hợp đồng có quy định quyền chọn mua
* Thời hạn hợp đồng: Phần lớn thời gian hoạt động của tài sản.
* Hiện giá tiền thuê cao hỏn giá trị tài sản.
2.4.3. Các hoạt động kinh doanh khác.
* Các dịch vụ kinh doanh ngoại hối: mua- bán ngoại tệ huy động vốn ngoại

Các Công ty tài chính tham gia thị trờng cũng phải tuân theo các quy luật
kinh tế khách quan, cũng phải gánh chịu những rủi ro có thể xảy ra. Ngoài ra Công
ty tài chính là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ nên nó cũng
chịu sự tác động của những yếu tố đặc thù riêng.
III. Về mô hình Công ty tài chính trong Tổng Công ty ở nớc ta.
Trong công cuộc đổi mới kinh tế ở nớc ta, cải cách doanh nghiệp Nhà nớc là
một trong những nhiệm vụ quan trọng. Những Nghị quyết của Đảng và chính sách
của Nhà nớc đều nhất quán quan điểm là: Phải tạo dựng đợc những tập đoàn kinh tế
mạnh để trở thành đầu tầu của nền kinh tế.
Hớng đi chủ yếu của các Tổng Công ty 91 là hớng tới trở thành các tập đoàn
kinh tế và trong mô hình của nó có các Công ty tài chính. Đây đợc coi là bớc đột
phá trong phát triển doanh nghiệp Nhà nớc.Thực hiện chủ trơng này, đã có 5 Tổng
Công ty 91 thành lập Công ty tài chính trong cơ cấu của mình, đó là: Bu chính Viễn
thông, Dầu khí, Cao su, Dệt may và Công nghiệp Tàu thủy. Những Công ty tài chính
này hoạt động trong khuôn khổ điều chỉnh của hai luật là: Luật doanh nghiệp Nhà n-
ớc và luật các tổ chức tín dụng.
Mục tiêu thành lập là góp phần làm đa dạng hóa các dịch vụ và các loại hình
tổ chức tín dụng Việt Nam, thực hiện chủ trơng phát huy nội lực và nhất là tạo thêm
kênh dẫn vốn để bổ sung cho các hoạt động ngân hàng truyền thống ở nớc ta.
9
Đề án môn học
Việc ra đời các Công ty tài chính góp phần thu hút nhiều nguồn vốn cho
Tổng Công ty nh: vay u đãi, tiếp nhận vốn ủy thác đầu t phát hành giấy tờ có
giá tạo điều kiện thuận lợi cho các Tổng Công ty. Các Công ty tài chính này có
sự hiểu biết trong ngành, vì vậy nó có lợi thế về khả năng tiếp cận thông tin của
các thành viên, nắm bắt đợc tình hình, đồng thời thời gian thẩm định, chi phí
thẩm định dự án thấp hơn so với các ngân hàng. Sau một thời gian hoạt động, các
Công ty này đã đáp ứng phần nào yêu cầu đề ra là: Tạo ra định hớng phát triển
lâu dài cho mô hình Tổng Công ty; cung cấp vốn và khâu trung gian về vốn cho
Tổng Công ty và các thành viên. Đặc biệt là cha thấy xuất hiện nợ xấu, tất cả đều

trong Tổng Công ty Nhà nớc ở nớc ta.
I. Những thành tựu ban đầu:
1. Huy động vốn.
- Mục tiêu thành lập Công ty tài chính là để tích tụ vốn, tập trung chuyên
môn hóa để nâng cao sức cạnh tranh cho các Tổng Công ty và các thành viên của
nó. Tuy nhiên, các Công ty tài chính còn bị ràng buộc bởi những quy định khác nên
tổng số vốn huy động và tự có của 5 Công ty tài chính tính đến 6/2001 là gần 827 tỷ
đồng thì trong đó nguồn vốn tự có chiếm tỷ trọng cao. Tỷ lệ vốn huy động so với
vốn tự có nh sau:
Bảng 1. Tỷ lệ vốn huy động so với vốn tự có của Công ty tài chính.
Đơn vị: %
Tên Cty
Năm
Bu điện Dầu khí
Công nghiệp
tàu thủy
Dệt may Cao su
1999 17% - - 152% 295%
2000 69% 2% 192% 147% 275%
Nguồn: Tạp chí Ngân hàng 3/2002
Nguồn vốn huy động từ CBCNV Chiếm tỷ lệ nhỏ (1,7% vào tháng 6/2001),
nguồn vốn ủy thác đầu t có vị trí quan trọng, nguồn vốn đi vay từ các tổ chức, tín
dụng có tỷ lệ tăng trởng khá và ngày càng chiếm tỷ trọng khá: chiếm từ 10,8%
tháng 3/1999 tăng lên 23,9% tháng 11/2000 và 29,4% tháng 6/2001.
- Một chỉ tiêu đáng lu ý là vốn điều lệ của Công ty là khá thấp (nh trên).
Trong đó: Duy nhất Công ty tài chính dầu khí có vốn Điều lệ là 100 tỷ, còn lại chỉ từ
30 đến 70 tỷ đồng.
- Nguồn vốn từ phát hành giấy tờ có giá gần nh không có gì bởi phải sau 3
năm hoạt động có lãi mới đợc xem xét cấp giấy phép, và phải có dới sự bảo lãnh của
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status