LUẬN VĂN: Hoàn thiện khung pháp luật về cổ phần hóa tổng công ty nhà nước ở Việt Nam doc - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Hoàn thiện khung pháp luật về cổ phần
hóa tổng công ty nhà nước ở Việt Nam

mở đầu


(Bộ Xây dựng), Tổng công ty Thương mại - Xây dựng (Bộ Giao thông Vận tải); Tổng
công ty Điện tử - Tin học (Bộ Công nghiệp). Ngoài ra, Thủ tướng cũng đã cho phép Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng quốc doanh đầu tiên trong hệ thống các ngân
hàng được tiến hành thí điểm cổ phần hóa.
Khác với việc cổ phần hóa một doanh nghiệp nhà nước hoặc bộ phận doanh
nghiệp nhà nước đã thực hiện trong thời gian qua, cổ phần hóa tổng công ty nhà nước là
một vấn đề hoàn toàn mới và chưa được thực hiện trên thực tế. Nhiều vấn đề như phương
thức thực hiện cổ phần hóa, xác định giá trị của toàn tổng công ty, tên gọi, mô hình tổ chức
và hoạt động của tổng công ty sau cổ phần hóa chưa được xác định cụ thể trong các văn
bản pháp luật. Do vậy, việc nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cổ
phần hóa tổng công ty nhà nước ở Việt Nam là một vấn đề rất cấp thiết, góp phần triển
khai cổ phần hóa thành công các tổng công ty khác. Chính vì vậy, tác giả quyết định lựa
chọn đề tài: "Hoàn thiện khung pháp luật về cổ phần hóa tổng công ty nhà nước ở Việt
Nam" làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đang được sự quan tâm đặc biệt trong
lý luận và thực tiễn hiện nay ở nước ta. Trong hơn 10 năm qua, đã có nhiều văn bản của
Đảng, Chính phủ, các Bộ, ngành được ban hành về công tác cổ phần hóa. Bên cạnh đó,
cũng đã có nhiều đề tài khoa học, luận án tiến sĩ, thạc sĩ, các bài viết đăng trên các tạp chí
khoa học đề cập và nghiên cứu chuyên sâu về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Các
công trình nghiên cứu đó đều thống nhất ở sự cần thiết phải thực hiện cổ phần hóa và hoàn
thiện cơ chế chính sách về cổ phần hóa. Qua nghiên cứu, tìm hiểu, tác giả có thể kể đến
một số công trình nghiên cứu như sau:
- Trương Văn Bân, Bàn về cải cách toàn diện doanh nghiệp nhà nước, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1996;
- Đoàn Văn Hạnh: Công ty cổ phần và chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công
ty cổ phần, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998;
- Nguyễn Thị Thu Vân, Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật công ty ở Việt Nam
hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998;


VINACONEX (một trong ba tổng công ty 90 được thí điểm cổ phần hóa và là tổng công ty
hội tụ đầy đủ nhất những điều kiện chín muồi cho việc cổ phần hóa tổng công ty nhà
nước). Đây cũng là nơi tác giả đang công tác và do vậy sẽ thuận lợi cho tác giả trong quá
trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình.
Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ khái niệm và các đặc điểm của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước;
- Thực trạng các chính sách và pháp luật về cổ phần hóa tổng công ty nhà nước;
- Thực trạng triển khai thí điểm cổ phần hóa Tổng công ty VINACONEX và những
khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai thí điểm cổ phần hóa (một trong ba tổng
công ty được thí điểm cổ phần hóa);
- Kinh nghiệm cải cách doanh nghiệp nhà nước trong đó có các doanh nghiệp nhà
nước quy mô lớn ở một số nước trên thế giới.
- Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về cổ phần hóa tổng công ty nhà
nước ở Việt Nam.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở bám sát những chủ trương, đường lối của
Đảng và pháp luật của Nhà nước về đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước trong đó
có các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam.
Luận văn vận dụng phương pháp luận, các quy luật và phạm trù của triết học Mác
- Lênin trong quá trình nghiên cứu mà hạt nhân là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử. Ngoài ra, các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp cũng được vận dụng kết hợp
giải quyết những vấn đề mà đề tài tiếp cận nghiên cứu.
5. Những đóng góp của luận văn
Luận văn được triển khai trên cơ sở đúc rút những kinh nghiệm từ việc thí điểm
triển khai cổ phần hóa Tổng công ty VINACONEX. Vì vậy, trong luận văn sẽ thể hiện
những ý tưởng trong quá trình thực hiện cổ phần hóa tổng công ty nhà nước; những vấn đề
đặt ra từ thực tiễn cổ phần hóa tổng công ty nhà nước và những kiến nghị hoàn thiện pháp

xã hội, góp phần thực hiện sự tăng trưởng và ổn định kinh tế của mỗi nước. Do vậy, không
một nước nào lại không sử dụng các doanh nghiệp nhà nước ở những lĩnh vực quan trọng
nhằm thực hiện chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô, đặc biệt vì lợi ích xã hội. Tuy nhiên,
kinh tế nhà nước trong quá trình phát triển của nó đã bộc lộ nhiều hạn chế, kìm hãm sự
phát triển của nền kinh tế.
Việc đổi mới và phát triển các doanh nghiệp nhà nước để thích ứng với các đòi hỏi
của nền kinh tế thị trường là một yêu cầu đặt ra đối với tất cả các nước đặc biệt là các nước
đang phát triển. Một trong những giải pháp quan trọng thúc đẩy chuyển đổi sở hữu doanh
nghiệp nhà nước là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Quá trình cổ phần hóa ở các nước
này đã góp phần khắc phục hạn chế và yếu kém trong hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp nhà nước, là một đòi hỏi khách quan nhằm để đáp ứng những yêu cầu về cải cách,
đổi mới khu vực kinh tế nhà nước cho phù hợp với các yêu cầu phát triển của nền kinh tế.
Xét về bản chất kinh tế, cổ phần hóa là việc nhà nước hoặc giữ nguyên vốn hiện
có trong doanh nghiệp nhưng phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn, hoặc bán bớt một
phần hay toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong doanh nghiệp cho các đối tượng là tổ chức
hoặc cá nhân trong và ngoài nước hoặc cho cán bộ quản lý và cán bộ công nhân viên của
doanh nghiệp bằng đấu giá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán.
Tại Việt Nam, Điều 3, Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ
đã quy định cụ thể các hình thức cổ phần hóa công ty nhà nước gồm có:
- Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút
thêm vốn áp dụng đối với những doanh nghiệp cổ phần hóa có nhu cầu tăng thêm vốn điều
lệ.
- Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt
một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn.
- Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ
vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn [23, tr. 2].
Xét về mặc cấu trúc sở hữu, cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi sở hữu doanh

hoạt động theo mô hình công ty cổ phần. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình
thực hiện đa dạng hóa sở hữu, chuyển các doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu của nhà
nước thành công ty cổ phần thuộc sở hữu của các cổ đông thuộc mọi thành phần kinh tế
tham gia mua cổ phiếu.
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của cổ phần hóa
Qua khái niệm trên, có thể thấy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có những đặc
điểm pháp lý sau:
Thứ nhất, cổ phần hóa là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ sở hữu nhà nước
sang hình thức sở hữu nhiều thành phần hay còn gọi là đa sở hữu. Trước khi cổ phần hóa,
toàn bộ vốn của doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Hội đồng quản trị (đối với doanh
nghiệp có hội đồng quản trị) hoặc giám đốc (đối với doanh nghiệp không có hội đồng
quản trị) là đại diện sở hữu trực tiếp của nhà nước tại doanh nghiệp. Họ không phải là
chủ sở hữu thực sự mà chỉ là người được nhà nước giao quyền quản lý và khai thác tài
sản mà nhà nước đã đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh và các mục
tiêu kinh tế - xã hội mà nhà nước giao. Khi tiến hành cổ phần hóa, nhà nước sẽ tiến hành
xác định giá trị phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, xác định số lượng cổ phiếu phát
hành thông qua hình thức bán một phần vốn nhà nước hoặc giữ nguyên phần vốn nhà
nước và phát hành cổ phiếu ra bên ngoài để thu hút vốn cho doanh nghiệp. Trên cơ sở
đó, doanh nghiệp bán cổ phiếu của mình cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần
kinh tế. Những người mua cổ phiếu trở thành cổ đông của công ty cổ phần, có quyền sở
hữu chung đối với công ty, tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp trong vốn điều lệ, đồng thời
phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty tương ứng với phần vốn góp vào
công ty. Các cổ đông góp vốn sẽ thể hiện quyền và nghĩa vụ của mình thông qua đại hội
cổ đông và được giới thiệu đại diện tham gia ứng cử hội đồng quản trị của công ty cổ
phần nếu đủ điều kiện do điều lệ công ty quy định.
Hiện nay, theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, các tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, công dân Việt Nam đều có quyền mua cổ phần ở các doanh nghiệp cổ phần

thuê. Các quy định của Luật Doanh nghiệp về quản lý công ty cổ phần có tính chất mềm
dẻo, linh hoạt và tạo cơ chế cho công ty cổ phần được phát huy quyền chủ động trong hoạt
động của doanh nghiệp vì lợi ích của các công ty và của các cổ đông công ty.
Thứ ba, quá trình cổ phần hóa được tiến hành thông qua hình thức nhà nước bán một
phần hay toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp. Việc bán cổ phần được áp dụng cho
các đối tượng sau:
+ Bán cổ phần cho những người lao động trong doanh nghiệp: Khi xây dựng
phương án bán cổ phần, doanh nghiệp sẽ dành một số cổ phần để bán cho những người
quản lý và những người lao động theo giá ưu đãi tương ứng với thời gian công tác của họ
tại doanh nghiệp. Việc bán cổ phần cho những người lao động với giá ưu đãi nhằm mục
đích ghi nhận những đóng góp của họ trong doanh nghiệp trong thời gian qua đồng thời
thu hút sự tham gia của họ vào công tác quản lý doanh nghiệp, nâng cao trách nhiệm và
tinh thần sáng tạo của họ trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Việc bán cổ phần
như vậy có ý nghĩa xã hội rất lớn và cũng là một trong những lý do để thu hút người lao
động tham gia mua cổ phần của doanh nghiệp.
+ Bán cổ phần cho một số nhà đầu tư chiến lược: Trong phương án bán cổ phần,
doanh nghiệp sẽ xác định một số lượng cổ phần phát hành cho một số nhà đầu tư chiến
lược. Các cổ đông chiến lược là những nhà đầu tư có khả năng hỗ trợ doanh nghiệp về tài
chính, nguồn nguyên liệu thiết yếu, thị trường tiêu thụ sản phẩm , góp phần quan trọng
vào việc thực hiện chiến lược phát triển lâu dài của doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Các nhà
đầu tư chiến lược được hưởng một mức giá ưu đãi hơn so với các nhà đầu tư thông thường
khác. Tuy nhiên, số lượng cổ phần bán cho các nhà đầu tư chiến lược sẽ bị giới hạn ở một
mức độ nhất định.
+ Bán cổ phần của doanh nghiệp ra công chúng: Nhà nước bán toàn bộ hay một
phần sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp cho công chúng, thường được thực hiện thông
qua một tổ chức tài chính trung gian hoặc sàn giao dịch chứng khoán. Thông qua việc bán
cổ phần ra công chúng, các nhà đầu tư các cá nhân và tổ chức có thể mua được cổ phần
của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa. Để thu hút được công chúng tham gia mua cổ
phần phát hành của doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp có phương án sản xuất kinh doanh


1.2.1. Sự cần thiết phải cổ phần hóa tổng công ty nhà nước
Các tổng công ty nhà nước được thành lập chủ yếu dựa vào việc tập hợp mang tính
chất thu gom các doanh nghiệp nhà nước có quan hệ ngang theo quyết định hành chính
nhằm làm giảm đầu mối quản lý. Do đó, tổng công ty chưa thực sự thành một thể thống
nhất, phát huy được sức mạnh tổng thể của toàn tổng công ty; chưa đạt được mục tiêu khắc
phục sự rời rạc, tạo sự liên kết giữa các đơn vị thành viên gắn bó với nhau về lợi ích kinh
tế, công nghệ, thị trường, chiến lược kinh doanh ; trong nội bộ cơ quan quản lý và điều
hành tổng công ty còn nhiều vấn đề chưa hợp lý, cản trở quá trình phát triển kinh doanh
của tổng công ty.
Đồng thời, các cơ chế, chính sách đầu tư, tài chính đối với tổng công ty, doanh
nghiệp thành viên cũng chưa tạo điều kiện để tổng công ty phát triển thành tập đoàn kinh
tế mạnh nhằm tăng cường khả năng kinh doanh của các đơn vị thành viên. Vì vậy, cho đến
nay chúng ta chưa có các tập đoàn kinh tế mạnh. Tổng công ty chưa có được những đặc
trưng của một doanh nghiệp có khả năng và tạo điều kiện để phát triển các đơn vị thành
viên, bảo đảm các đơn vị này độc lập tương đối trong mối liên hệ với tổng công ty và tạo
điều kiện phát triển chung tổng công ty. Ngoài ra, các quy định của pháp luật về tổng công
ty nhà nước còn thể hiện một số bất cập sau:
- Thứ nhất, không tách bạch rõ tư cách pháp nhân của tổng công ty và của các
doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập tương tự như tư cách pháp nhân của công ty mẹ
và công ty con dẫn đến tình trạng pháp nhân (doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập)
trong pháp nhân (tổng công ty) làm quan hệ về vốn, tài sản, lợi ích trong nội bộ tổng công
ty không rõ. Luật quy định nhà nước giao vốn cho tổng công ty sau đó vốn được giao cho
các đơn vị thành viên nên dẫn đến tình trạng không rõ tính chất pháp lý của hành vi giao
vốn chỉ là uỷ quyền quản lý, sử dụng vốn cho doanh nghiệp thành viên còn tổng công ty
vẫn chịu trách nhiệm cuối cùng hay vốn sau khi giao thuộc về pháp nhân doanh nghiệp
thành viên và tổng công ty có quyền và nghĩa vụ như cổ đông nắm toàn bộ vốn điều lệ của
doanh nghiệp. Hơn nữa, do vốn, tài sản của tổng công ty đã nằm ở doanh nghiệp thành

thời lại có thể coi là một cấp hành chính (đơn vị hành chính ngang Bộ trong tiếp nhận, xử lý
các văn bản pháp quy).
- Thứ năm, tổng công ty do hội đồng quản trị quản lý. Về hình thức, hội đồng
quản trị là cơ quan có quyền hạn cao nhất trong tổng công ty, thực hiện quyền đại diện chủ
sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong thực tế ở nhiều tổng công ty vai trò
của hội đồng quản trị trong đó có chủ tịch hội đồng quản trị rất mờ nhạt. Lý do chính là do
các thành viên hội đồng quản trị thực hiện quyền của mình rất hạn chế. Do không phải là
chủ thực sự của doanh nghiệp nên họ tham gia hội đồng quản trị chỉ là hình thức. Nhiều
vấn đề quan trọng của doanh nghiệp thuộc thẩm quyền hội đồng quản trị nhưng thực chất
đã được quyết định từ trước. Thậm chí, nghị quyết hay quyết định của hội đồng quản trị
chỉ là hợp pháp hóa các vấn đề đã được thực hiện từ trước. Vì vậy, hội đồng quản trị đã
không thực hiện tốt chức năng đại diện sở hữu nhà nước tại tổng công ty [6, tr. 13].
Trong thực tế ở một số tổng công ty, Hội đồng quản trị thậm chí còn bị vô hiệu
hóa. Ngoài ra còn phải kể đến việc mâu thuẫn triền miên giữa chủ tịch hội đồng quản trị và
tổng giám đốc trong một số tổng công ty đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động
của doanh nghiệp như đã xảy ra tại Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Thủy
sản Việt Nam.
Như vậy, việc tổ chức thực hiện mô hình tổng công ty trong hơn 10 năm qua chưa
đạt được kết quả như mong đợi, đồng thời mô hình tổng công ty còn có nhiều ý kiến khác
nhau, chủ yếu là do chưa xác định được rõ tư cách pháp lý, quan hệ về tài sản, vốn, quyền
lợi, nghĩa vụ giữa tổng công ty và doanh nghiệp thành viên. Tổ chức quản lý tổng công ty
theo mô hình hội đồng quản trị và tổng giám đốc chưa phù hợp.
Do những bất cập và hạn chế của các quy định của pháp luật về tổng công ty nhà
nước nên trong thời gian qua, tổng công ty nhà nước đã bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém và
không thể hiện được vai trò đầu tàu của kinh tế nhà nước, thực hiện các mục tiêu kinh tế
xã hội mà nhà nước giao. Để có thể đổi mới và phát triển các tổng công ty nhà nước thì
việc nghiên cứu và áp dụng các mô hình mới cho tổng công ty đóng vai trò rất quan trọng.

- Có tình hình tài chính lành mạnh;
- Có nhiều đơn vị thành viên đã được chuyển đổi sang hoạt động theo Luật
Doanh nghiệp;
- Đã khẳng định được thương hiệu trên thị trường.
Khác với việc cổ phần hóa một doanh nghiệp nhà nước thông thường, cổ phần hóa
tổng công ty nhà nước là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ và chưa có văn bản pháp luật điều
chỉnh cụ thể. Nhiều vấn đề như phương thức thực hiện cổ phần hóa, xác định giá trị doanh
nghiệp, tên gọi, mô hình tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp sau cổ phần hóa là
những vấn đề rất mới mẻ cần có sự đúc rút kinh nghiệm từ việc thực hiện thí điểm cổ phần
hóa các tổng công ty nêu trên.
Trên cơ sở thành công của thí điểm cổ phần hóa ba tổng công ty nêu trên, Chính
phủ sẽ xem xét tiếp tục cổ phần hóa các tổng công ty nhà nước khác hội tụ đầy đủ các điều
kiện cho việc cổ phần hóa. Việc cổ phần hóa các tổng công ty nhà nước sẽ góp phần tạo ra
một động lực mới cho sự phát triển của các doanh nghiệp, thúc đẩy sự ra đời các doanh
nghiệp quy mô lớn, tiềm lực tài chính mạnh, cơ chế hoạt động năng động và hiệu quả đủ
sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài không chỉ tại thị trường Việt Nam mà cả
thị trường nước ngoài.
Chương 2
Thực trạng các chính sách và quy định
của pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và tổng công ty nhà nước

2.1. Thực trạng các chính sách và quy định của pháp luật về cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam
Tại Việt Nam, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được triển khai thực hiện trong

sức hạn hẹp, các cơ quan chức năng hướng dẫn chưa kịp thời, việc tuyên truyền về cổ phần
hóa chưa sâu rộng.
Đến năm 1991, chủ trương cổ phần hóa mới thực sự được quan tâm và lần đầu tiên
chủ trương này mới được đề cập đến trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa VII (11/1991) đã nêu rõ "Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh
có điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới,
phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng phạm vi
thích hợp". Tiếp theo đó, Nghị quyết của kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII ngày
26/12/1991 về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1991-1995) cũng nhấn mạnh:
"Cần thí điểm cổ phần hóa một số cơ sở kinh tế quốc doanh để rút kinh nghiệm và có thêm
nguồn vốn phát triển" [29].
Có thể phân chia các văn bản pháp quy liên quan đến tiến trình cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước ở Việt Nam theo các giai đoạn với các cơ chế đặc thù và kết quả khác
nhau như sau:
- Giai đoạn thí điểm cổ phần hóa (từ tháng 6/1992 đến tháng 5/1996): Để thí điểm
việc cổ phần hóa, ngày 8/6/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban
hành Quyết định số 202/HĐBT về tiếp tục thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhà nước
thành công ty cổ phần. Tiếp theo đó là Quyết định số 203/CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng chọn
7 doanh nghiệp nhà nước làm thí điểm và ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét
và quyết định về danh sách các doanh nghiệp nhà nước khác được phép làm thí điểm cổ
phần hóa của các Bộ và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị.
Các bộ, ngành đã ban hành một số văn bản liên quan để thực hiện cổ phần hóa như Thông
tư 09/LĐTBXH ngày 22/7/1992 hướng dẫn về chính sách đối với người lao động trong
doanh nghiệp nhà nước, Thông tư 36 ngày 7/5/1993 hướng dẫn về tài chính khi cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước.
Sau đó, ngày 4/3/1993 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 84/TTg về việc xúc tiến

Diện cổ phần hóa cũng rộng hơn: 3 Bộ và 9 tỉnh, thành phố có doanh nghiệp cổ phần hóa.
Quy mô doanh nghiệp cũng lớn hơn, có doanh nghiệp vốn trên 120 tỷ đồng, 5 doanh
nghiệp có vốn trên 10 tỷ đồng.
- Giai đoạn đẩy mạnh cổ phần hóa (từ tháng 6/1998 đến nay): Chính phủ đã ban
hành Nghị định 44/ CP ngày 29/6/1998 về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty
cổ phần thay thế cho Nghị định 28/CP trước đây, cùng với các văn bản hướng dẫn Nghị
định 28/CP. Nghị định này đã xác định rõ và giảm thiểu danh mục ngành nghề nhà nước
cần nắm giữ 100% vốn, nhà nước nắm giữ cổ phần đặc biệt, cổ phần chi phối, không hạn
chế quy mô doanh nghiệp. Do đó, chỉ trong 6 tháng, đến 31/12/1998 cả nước đã có 86
doanh nghiệp được cổ phần hóa, bằng 3 lần giai đoạn trước đây.
Đặc biệt từ khi có Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII và Nghị
quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa VIII thì chủ trương cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước đã được khẳng định rõ. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, Nghị
định 28/CP đã bộc lộ nhiều thiếu sót, chưa khuyến khích được các doanh nghiệp nhà nước
cổ phần hóa. Chính vì vậy, sau hai năm thực hiện cổ phần hóa theo Nghị định 28/CP, ngày
29/6/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định 44/CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước
thành công ty cổ phần thay thế Nghị định 28/CP. Nghị định này đã có nhiều điểm mới so
với Nghị định trước đây đặc biệt là vấn đề mua cổ phần và chính sách đối với người lao
động trong doanh nghiệp cổ phần hóa làm cho số lượng doanh nghiệp nhà nước chuyển
sang công ty cổ phần ngày càng nhiều, góp phần mạnh mẽ vào việc đổi mới và cải cách
khu vực quốc doanh.
Từ đầu năm 1999 đến nay, quá trình cổ phần hóa được đẩy nhanh hơn các năm
trước. Trong giai đoạn này Chính phủ đã ban hành một số văn bản nhằm thúc đẩy hơn nữa
quá trình cổ phần hóa như Quyết định 145/TTg ngày 28/6/1999 về ban hành quy chế bán
cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương (khóa IX) tháng 8/2001
về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước
đã nhấn mạnh: "Đẩy mạnh cổ phần hóa những doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm
định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty
cổ phần thay thế cho Nghị định 64/2002/NĐ-CP.
Bên cạnh đó, liên quan đến một số vấn đề về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
có một số văn bản luật quan trọng như: Luật Doanh nghiệp nhà nước (sửa đổi) năm 2003,
Luật Kế toán 2004, Luật Xây dựng 2004, Luật Đất đai 2003 (sửa đổi) đã được ban hành.
Như vậy, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được thực hiện ở Việt Nam trong 15
năm qua đã có xu hướng phát triển rõ rệt là từ thực hiện thí điểm cổ phần hóa một số
doanh nghiệp quốc doanh đến việc xác định cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một
chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp nhà nước. Việc thay đổi chính sách này xuất phát từ thực tế triển khai và
những kết quả tích cực thu được từ việc triển khai cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.
Khi cổ phần hóa đã được xác định là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước thì chủ
trương này sẽ được thực hiện sâu rộng và quyết liệt trong việc đổi mới và phát triển doanh
nghiệp nhà nước.
2.1.2. Cổ phần hóa được thực hiện từ các doanh nghiệp có quy mô vừa và
nhỏ đến cổ phần hóa các doanh nghiệp có quy mô lớn, thậm chí rất lớn
Qua nghiên cứu các chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước, có thể thấy rõ trong thời gian qua việc cổ phần hóa mới chỉ
dừng lại ở các doanh nghiệp nhà nước quy mô vừa và nhỏ, hoạt động kém hiệu quả, thậm
chí những doanh nghiệp nhà nước không cần nắm giữ. Điều này xuất phát từ các lý do sau:
+ Nhận thức của những nhà hoạch định chính sách về cổ phần hóa doanh nghiệp
nhà nước còn hạn chế. Họ cho rằng việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước quy mô
nhỏ và vừa không ảnh hưởng đến sức mạnh của khu vực kinh tế nhà nước. Nhà nước vẫn
nắm giữ các doanh nghiệp lớn, quan trọng.
+ Khung pháp lý về cổ phần hóa chưa theo kịp với sự phát triển của quá trình cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Các quy định của pháp luật về cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước mới chỉ quy định việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước hoặc bộ

Công ty điện lực Khánh Hòa. Đặc biệt, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số
84/2005/QĐ-TTg cho phép thí điểm cổ phần hóa ba tổng công ty: Tổng công ty Xuất nhập
khẩu xây dựng Việt Nam - VINACONEX (Bộ Xây dựng); Tổng công ty Điện tử - Tin học
(Bộ Công nghiệp), Tổng công ty Thương mại - Xây dựng (Bộ Giao thông Vận tải) đồng
thời Thủ tướng Chính phủ cũng đã cho phép Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, ngân
hàng quốc doanh đầu tiên của Việt Nam được phép tiến hành thí điểm cổ phần hóa toàn bộ
ngân hàng.
Như vậy, đối tượng cổ phần hóa trong thời gian qua đã có sự thay đổi đáng kể. Từ
đối tượng cổ phần hóa trước đây là các doanh nghiệp nhà nước quy mô vừa và nhỏ, đến
nay, cổ phần hóa đã được thực hiện đối với các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, thậm
chí là rất lớn như đã phân tích nêu trên.
2.1.3. Cổ phần hóa được thực hiện từ việc bán cổ phần nội bộ (cổ phần hóa
khép kín) nay được chuyển sang bán cổ phần công khai hoặc thông qua niêm yết
Trong các văn bản pháp luật về cổ phần hóa như Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996,
Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998; Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 về cổ
phần hóa doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa đều được thực hiện theo hình thức khép kín
tại doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là cổ phần bán ra của doanh nghiệp chỉ bán trong nội
bộ của doanh nghiệp nghĩa là bán cho những người quản lý và những người lao động tại
doanh nghiệp, không có bất kỳ cổ phần nào được bán ra bên ngoài. Điều này là không phù
hợp với mục tiêu của cổ phần hóa. Đó là đa dạng hóa sở hữu của doanh nghiệp thông qua
việc thu hút vốn của công chúng đồng thời cũng thu hút được sự tham gia của các cổ đông
có năng lực và kinh nghiệm tham gia vào công tác quản lý của doanh nghiệp. Lý do của
việc cổ phần hóa khép kín này có thể xác định như sau:
+ Những nhà quản lý hiện tại ở doanh nghiệp lo ngại rằng khi có sự tham gia của
các cổ đông bên ngoài doanh nghiệp sẽ phức tạp trong công tác quản lý, ảnh hưởng đến
hoạt động bình thường của doanh nghiệp.
+ Sự hình thành các tổ chức tài chính trung gian như các công ty chứng khoán,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status