Phân tích hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Thành Phố Trà Vinh
GVHD: Lê Trung Hiếu 1 SVTH: Huỳnh Thị Phương Thảo
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề nghiên cứu
Phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới,
trong đó có Việt Nam. Kinh tế có phát triển thì đời sống vật chất và tinh thần của
mọi người mới được nâng cao. Muốn kinh tế phát triển thì trước hết phải tạo điều
kiện cho các công ty, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế phát triển mạnh mẽ, phát
huy hết tiềm năng sẵn có của mình và nâng cao năng lực trong quá trình tiếp thu
những thành tựu mới của nền kinh tế thế giới. Để thực hiện được những điều đó thì
điều kiện tiên quyết chính là nguồn vốn và đó cũng là một trong những vấn đề nan
giải đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kì hội nhập kinh tế thế giới. Vốn
sẽ giúp các doanh nghiệp đầu tư sản xuất kinh doanh, nâng cao trình độ nguồn nhân
lực, trang bị các máy móc thiết bị hiện đại và ứng dụng những thành tựu khoa học
vào sản xuất kinh doanh. Vì vậy, vốn là nhu cầu hết sức cấp thiết đối với các công
ty, doanh nghiệp và tổ chức kinh tế.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, hệ thống
ngân hàng thương mại nước ta cũng ngày càng phát triển mạnh mẽ, trở thành nguồn
bơm vốn quan trọng nhất cho các tổ chức kinh tế. Ngân hàng Nông Nghiệp Và Phát
Triển Nông Thôn (NHNo&PTNT) Thành Phố Trà Vinh cũng là một ngân hàng
thương mại, luôn thực hiện tốt vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế của
tỉnh nhà. Đây là nơi cung ứng vốn dồi dào cho các tổ chức kinh tế trong tỉnh, là chỗ
dựa vững chắc cho các tổ chức kinh tế mạnh dạn đầu tư sản xuất kinh doanh. Để
thực hiện tốt vai trò cung ứng vốn của mình, NHNo&PTNT Thành Phố Trà Vinh
phải hết sức tích cực huy động vốn từ bên ngoài. Trong điều kiện cạnh tranh hết sức
quyết liệt với các ngân hàng thương mại khác trên địa bàn thành phố Trà Vinh cùng
với tâm lý thích dự trữ vàng hơn là gửi tiết kiệm của người dân, NHNo&PTNT
Thành Phố Trà Vinh vẫn có thể thu hút đông đảo khách hàng đến gửi tiền và là địa
chỉ đáng tin cậy của mọi người. Để có thể đạt được những thành tựu ấy là nhờ Ngân
- Liên hệ với phòng tín dụng để có được số liệu về sự hình thành, nhiệm vụ
và cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT Tỉnh Trà Vinh và NHNo&PTNT Thành Phố
Trà Vinh.
- Liên hệ phòng Kế toán để xin cung cấp số liệu về tình hình hoạt động kinh
doanh và tình hình huy động vốn của chi nhánh qua các năm 2008, 2009, 2010.
- Tham khảo thêm các tài liệu có liên quan đến sách báo, tạp chí, các trang
web có liên quan đến vấn đề tài chính ngân hàng và tìm hiểu về tình hình hoạt động
huy động vốn. Tìm hiểu các nghị định quy định, các quyết định, hệ thống hóa các
Phân tích hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Thành Phố Trà Vinh
GVHD: Lê Trung Hiếu 3 SVTH: Huỳnh Thị Phương Thảo
văn bản định chế của NHNo&PTNT.
- Tìm hiểu từ các giáo trình bài giảng và kiến thức đã học những năm qua.
4.2. Phương pháp phân tích số liệu
Để thực hiện được đề tài này, em đã áp dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp so sánh số tuyệt đối
- Phương pháp so sánh số tương đối
- Phương pháp phân tích các chỉ tiêu tài chính.
Ðánh giá tổng quát căn cứ vào sự phân tích, sự tổng hợp các chỉ tiêu, và kết
hợp kiến thức đã học ở trường. Từ đó đưa ra biện pháp khắc phục những khó khăn
vướng mắc còn tồn đọng và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả nhằm đạt được mục
tiêu cần phân tích.
5. Kết cấu đề tài
Khoá luận gồm 3 phần:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung:
+ Chương 1: Ngân hàng thương mại và nghiệp vụ huy động vốn của ngân
hàng thương mại.
+ Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn của NHNo&PTNT Thành
Phố Trà Vinh.
+ Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động
chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rãi rác trong xã hội sẽ
được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các
tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội.
1.1.2. Phân loại Ngân hàng thương mại
- Dựa vào hình thức sở hữu: Dựa theo tiêu thức này, có thể phân loại ngân
hàng thương mại thành ngân hàng thương mại quốc doanh và ngân hàng thương
mại cổ phần.
Phân tích hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Thành Phố Trà Vinh
GVHD: Lê Trung Hiếu 5 SVTH: Huỳnh Thị Phương Thảo
- Dựa vào chiến lược kinh doanh: Dựa theo tiêu thức chiến lược kinh doanh
và mối quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng, có thể chia ngân hàng thương mại
thành ngân hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ, và ngân hàng vừa bán buôn vừa bán
lẻ.
- Dựa vào quan hệ tổ chức: Dựa vào tiêu thức quan hệ tổ chức, có thể chia
ngân hàng thương mại thành ngân hàng hội sở, ngân hàng chi nhánh (cấp 1 và cấp
2) và phòng giao dịch
- Xét từ góc độ dịch vụ trung gian tài chính chủ yếu mà ngân hàng thực hiện,
người ta chia các ngân hàng thương mại thành các loại: ngân hàng thông thường,
ngân hàng tín thác, và ngân hàng tín dụng dài hạn.
- Xét theo không gian địa lý hoạt động chủ yếu, người ta lại có thể chia các
ngân hàng thương mại thành ngân hàng thương mại đô thị và ngân hàng thương mại
nông thôn.
1.1.3. Chức năng của ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Chức năng trung gian tín dụng
Trung gian tín dụng là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM, nó
không những cho thấy bản chất của NHTM mà còn cho thấy nhiệm vụ chính yếu
của NHTM. Trong chức năng “trung gian tín dụng” NHTM đóng vai trò là người
trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền
kinh tế (bao gồm tiền tiết kiệm của các tầng lớp dân cư, vốn bằng tiền của các đơn
vị, tổ chức kinh tế, v.v ) biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay (cấp tín
hội, biến tiền nhàn rỗi từ chổ là phương tiện tích luỹ trỡ thành nguồn vốn lớn của
nền kinh tế.
+ Kế đến, nhờ thực hiện chức năng này mà hệ thống NHTM cung ứng một
khối lượng vốn tín dụng rất lớn cho nền kinh tế. Đây là nguồn vốn rất quan trọng vì
nó không những lớn về số tiền tuyệt đối mà vì tính chất “luân chuyển” không ngừng
của nó.
1.1.3.2. Chức năng làm trung gian thanh toán và cung ứng phương tiện
thanh toán cho nền kinh tế
Đây là chức năng quan trọng, không những thể hiện khá rõ bản chất của
NHTM mà còn cho thấy tính chất “đặc biệt” trong hoạt động của NHTM.
Khi trong nền kinh tế chưa có hoạt động ngân hàng, hoặc mới có những hoạt
động sơ khai (nhận bảo quản tiền đúc) thì các khoản giao dịch thanh toán giữa
những người sản xuất kinh doanh và các đối tượng khác đều được thực hiện một
cách trực tiếp, người trả tiền và người thụ hưởng tự kiểm soát các giao dịch thanh
Phân tích hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Thành Phố Trà Vinh
GVHD: Lê Trung Hiếu 7 SVTH: Huỳnh Thị Phương Thảo
toán, đồng thời sử dụng tiền mặt để chi trả trực tiếp. Nhưng khi NHTM ra đời và
hoạt động trong nền kinh tế, thì dần dần các khoản giao dịch thanh toán giữa các
đơn vị và cá nhân đều được thực hiện qua hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng thương mại đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao
dịch thanh toán giữa các khách hàng, giữa người mua, người bán để hoàn tất các
quan hệ kinh tế thương mại giữa họ với nhau, là nội dung thuộc trung gian thanh
toán của NHTM.
Nhiệm vụ cụ thể của chức năng này gồm:
- Mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho các tổ chức và cá nhân.
- Quản lý và cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng.
- Tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàng.
1.1.3.3. Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng
Thực hiện chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, vốn đã
mang lại những hiệu quả to lớn cho nền kinh tế - xã hội. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở
1.1.4.1. Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hình thức sau:
- Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình
thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động
vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ
chức tín dụng nước ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
1.1.4.2. Hoạt động tín dụng
Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình
thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài
chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Trong các
hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
- Cho vay: Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn
dưới các hình thức sau:
+ Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và đời sống.
Phân tích hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Thành Phố Trà Vinh
GVHD: Lê Trung Hiếu 9 SVTH: Huỳnh Thị Phương Thảo
+ Cho vay trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống.
- Bảo lãnh: Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán,
bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân
hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo
lãnh. Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân
hàng thương mại không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngân hàng thương
mại.
- Chiết khấu: Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương phiếu và các
1.1.4.4. Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng và cung
cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, ngân hàng thương mại còn có thể thực hiện
một số hoạt động khác, bao gồm:
- Góp vốn và mua cổ phần: Ngân hàng thương mại được dùng vốn điều lệ và
quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng
khác trong nước theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn
được góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập
ngân hàng liên doanh.
- Tham gia thị trường tiền tệ: Ngân hàng thương mại được tham gia thị
trường tiền tệ, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thông qua các hình thức
mua bán các công cụ của thị trường tiền tệ.
- Kinh doanh ngoại hối: Ngân hàng thương mại được phép trực tiếp kinh
doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị
trường trong nước và thị trường quốc tế.
- Ủy thác và nhận ủy thác: Ngân hàng thương mại được ủy thác, nhận ủy
thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc
quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng
ủy thác, đại lý.
- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: Ngân hàng thương mại được cung ứng dịch vụ
bảo hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo
hiểm theo qui định của pháp luật.
- Tư vấn tài chính: Ngân hàng thương mại được cung ứng các dịch vụ tư vấn
tài chính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công
ty tư vấn trực thuộc ngân hàng.
Phân tích hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Thành Phố Trà Vinh
GVHD: Lê Trung Hiếu 11 SVTH: Huỳnh Thị Phương Thảo
- Bảo quản vật quý giá: Ngân hàng thương mại được thực hiện các dịch vụ
bảo quản vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên
quan theo quy định của pháp luật.
GVHD: Lê Trung Hiếu 12 SVTH: Huỳnh Thị Phương Thảo
nguồn vốn tự có và vốn đi vay vì vốn tự có của ngân hàng chỉ chiếm một tỷ trọng
nhỏ trong tổng cơ cấu vốn của ngân hàng còn vốn đi vay thì ngân hàng phải phụ
thuộc vào đối tượng cho vay về thời hạn, số lượng và các chi phí khác. Do đó có thể
ngân hàng sẽ bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh. Ngược lại nếu ngân hàng có lượng
vốn lớn sẽ hoàn toàn chủ động trong hoạt động của mình. Nguồn vốn lớn làm tăng
khả năng hoạt động của ngân hàng như chủ động đa dạng hoá các hình thức và
phương thức hoạt động nhằm phân tán rủi ro và tăng lợi nhuận, phục vụ cho mục
tiêu cuối cùng của ngân hàng là an toàn và sinh lời.
- Thứ ba: Vốn huy động giúp ngân hàng nâng cao vị thế của mình trên thị
trường.
Để đảm bảo cho việc thu hút khách hàng đến quan hệ giao dịch với mình thì
ngân hàng phải tạo được niềm tin với khách hàng. Điều này được thể hiện ở khả
năng sẵn sàng thanh toán cho khách hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng cao
chỉ khi ngân hàng có nguồn vốn khả dụng lớn. Mặt khác uy tín của ngân hàng còn
thể hiện ở khả năng cho vay và đầu tư của ngân hàng. Ngân hàng chỉ có thể cho vay
những dự án lớn, thời hạn dài nếu như ngân hàng có nguồn vốn lớn và ổn định-
Điều này phụ thuộc vào khả năng huy động vốn của ngân hàng.
- Thứ tư: Vốn huy động quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Để có thể chiến thắng trong cạnh tranh thì ngoài việc phải có chiến lược cạnh tranh
hợp lý thì yếu tố vế khả năng tài chính luôn giữ vai trò quyết định cuối cùng. Nếu
ngân hàng có nguồn vốn khả dụng lớn thì có thể chủ động mở rộng quan hệ tín
dụng với các thành phần kinh tế cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về
thời gian và thời hạn cho vay thậm chí trong việc điều chỉnh lãi suất cho vay để thu
hút khách hàng. Ngoài ra ngân hàng còn có thể phát triển thêm nhiều loại hình dịch
vụ mới, tham gia vào nhiều các hoạt động khác như liên doanh liên kết, đầu tư trên
thị trường vốn, trên thị trường tiền tệ… Bằng chính những hoạt động này sẽ góp
phần phân tán rủi ro, thu hút được nhiều khách hàng, mở rộng thị phần, nâng cao
khả năng cạnh tranh của ngân hàng… Từ đó sẽ nâng cao hiệu quả kinh doanh của
ngân hàng.
hành Séc, có tính ổn định cao nhưng lãi suất cao. Do đó chi phí vốn, cơ cấu vốn,
tính chất ổn định, thời hạn của nguồn vốn là nhân tố quan trọng đánh giá chất lượng
nguồn vốn và là mục tiêu mà các ngân hàng đều hướng tới. Đây là những yếu tố
quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu vừa an toàn vừa có lợi nhuận cao của ngân
hàng.
- Một là: Tìm kiếm nguồn vốn rẻ.
Chi phí trả lãi được coi là chi phí lớn nhất trong các chi phí của ngân hàng.
Phân tích hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Thành Phố Trà Vinh
GVHD: Lê Trung Hiếu 14 SVTH: Huỳnh Thị Phương Thảo
Trong đó lớn nhất là chi phí trả lãi đầu vào cho tiền gửi có kỳ hạn và trả lãi trái
phiếu và kỳ phiếu Định kỳ ngân hàng lập biểu về số dư và lãi suất tương ứng để
xác định vốn huy động bình quân và tính toán chi phí trả lãi. Thông thường có ba
cách trả lãi : trả lãi trước, trả lãi khi đến hạn và trả lãi nhiều lần theo định kỳ. Mỗi
cách trả lãi khác nhau sẽ ảnh hưởng đến chi phí khác nhau. Quản lý chi phí trả lãi là
hoạt động thường xuyên và quan trọng của các ngân hàng. Mỗi sự thay đổi về lãi
suất hay cơ cấu nguồn vốn đều có thể làm thay đổi chi phí trả lãi, từ đó ảnh hưởng
đến thu nhập của ngân hàng. Việc tính chi phí của từng nguồn vốn cụ thể cho phép
các nhà quản lý xác định nguồn vốn nào rẻ hơn, có nên thay đổi lãi suất hay không,
thu nhập từ tài sản tăng thêm có đủ bù đắp chi phí của nguồn vốn tăng thêm hay
không. Về nguyên tắc, những nguồn vốn có thời hạn càng ngắn và tính ổn định thấp
thì chi phí nguồn vốn cũng phải thấp tương ứng. Tuy nhiên nguồn rẻ thì lại đồng
nghĩa với giảm tính cạnh tranh của ngân hàng. Tính chi phí một cách chính xác cho
phép ngân hàng chủ động lựa chọn những nguồn vốn khác nhau và đảm bảo doanh
thu đủ bù đắp chi phí và đem lại tỷ lệ thu nhập mong đợi.
- Hai là: Tạo ra nguồn vốn ổn định và cơ cấu phù hợp.
Cơ cấu vốn cần đa dạng thể hiện ở việc duy trì một tỷ lệ giữa vốn huy động
ngắn hạn và dài hạn, giữa vốn nội tệ và ngoại tệ. Một ngân hàng có chất lượng huy
động vốn cao sẽ có nguồn vốn dồi dào và cơ cấu vốn cân đối, tránh cho ngân hàng
rơi vào tình trạng căng thẳng về tài chính trong điều kiện môi trường kinh doanh
thường xuyên thay đổi.
tình trạng thừa thiếu tạm thời này. Một số biện pháp thường sử dụng như điều
chuyển vốn giữa các chi nhánh (trong trường hợp mất cân đối nội bộ), vay các ngân
hàng khác, vay NHTƯ…Chất lượng huy động ở đây thể hiện ở việc đưa ra quyết
định lựa chọn đúng đắn, có lợi nhất đối với Ngân hàng, đảm bảo sự chủ động trong
kinh doanh.
1.2.4. Cơ cấu nguồn vốn của NHTM
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập
hoặc huy động được dùng để đầu tư, cho vay hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh
khác. Nó chi phối toàn bộ hoạt động của NHTM. Nó quyết định sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng.
Cơ cấu vốn của ngân hàng thương mại bao gồm:
1.2.4.1. Vốn tự có
Vốn thuộc sở hữu của NHTM chiếm một tỷ trọng nhỏ trong các khoản mục
tạo nên nguồn vốn (thường chỉ chiếm 5% trong tổng nguồn vốn) nhưng nó có vai
trò cực kỳ quan trọng đối với các ngân hàng. Do tính chất thường xuyên ổn định
Phân tích hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Thành Phố Trà Vinh
GVHD: Lê Trung Hiếu 16 SVTH: Huỳnh Thị Phương Thảo
nên ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật
chất kỹ thuật, tạo tài sản cố định phục vụ cho bản thân ngân hàng, có thể sử dụng
cho vay, đặc biệt là đầu tư góp vốn liên doanh. Mặt khác với chức năng bảo vệ, vốn
thuộc sở hữu của ngân hàng được coi như là tài sản đảm bảo gây lòng tin với khách
hàng, duy trì khả năng thanh toán cho khách hàng khi ngân hàng hoạt động thua lỗ.
Hơn nữa nó là một căn cứ quyết định đối với quy mô và khối lượng vốn huy động
cũng như hoạt động cho vay và bảo lãnh của ngân hàng. Quy mô và sự tăng trưởng
vốn thuộc sở hữu của ngân hàng sẽ quyết định năng lực phát triển của NHTM. Khi
đánh giá về quy mô của một NHTM thì tiêu chí đầu tiên được đề cập là vốn thuộc
sở hữu của ngân hàng đó.
Vốn thuộc sở hữu của ngân hàng bao gồm:
- Vốn điều lệ: Là mức vốn được hình thành khi ngân hàng được thành lập.
Vốn điều lệ luôn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định. Vốn pháp định là mức vốn tối
khá lớn trong nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại.
Các hình thức nhận tiền gửi của các ngân hàng thương mại rất đa dạng, tuỳ
thuộc vào các tiêu thức khác nhau mà được chia thành từng loại khác nhau:
* Theo tiêu thức nguồn hình thành
Các khoản ký gửi của các cá nhân và tổ chức là các khoản tiền mà cá nhân và
tổ chức trực tiếp chuyển vào ngân hàng: Cá nhân gửi tiền tiết kiệm, doanh nghiệp
nộp tiền bán hàng…Đây là các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế được
ngân hàng tập trung lại. Các cá nhân và tổ chức thường gửi tiền với kỳ hạn và mục
đích khác nhau, các cá nhân thường gửi tiền để hưởng lãi còn các tổ chức doanh
nghiệp thường là để sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng.
Tín dụng tạo tiền gửi: Ít người biết được rằng đây là một hình thức nhận tiền
gửi. Khi ngân hàng cho khách hàng vay vốn thì ngân hàng chuyển số tiền cho vay
của khách hàng vào tài khoản tiền gửi của khách hàng ngay trong ngân hàng. Khi
khách hàng chưa có nhu cầu rút tiền ngay lập tức thì ngân hàng có thể sử dụng số
tiền đó mặc dù với thời hạn rất ngắn.
* Theo tiêu thức kỳ hạn
Ngày nay người ta thường phân chia các khoản tiền gửi theo tiêu thức này để
có thể quản lý tốt lượng tiền gửi, tiền lãi và là cơ sở để ngân hàng xây dựng chiến
lược dự trữ phù hợp và chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn đó vào quá trình
hoạt động kinh doanh.
- Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là các khoản tiền gửi không có kỳ hạn xác
định, người gửi tiền có thể rút ra bất kỳ lúc nào tuỳ theo nhu cầu của mình do đó lãi
Phân tích hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Thành Phố Trà Vinh
GVHD: Lê Trung Hiếu 18 SVTH: Huỳnh Thị Phương Thảo
suất của loại tiền gửi này thường thấp hơn so với các loại tiền gửi có kỳ hạn xác
định. Tiền gửi không kỳ hạn đáp ứng nhu cầu của những khách hàng chưa có dự
định rõ ràng trong tương lai. Đây là hình thức chủ yếu được các doanh nghiệp lựa
chọn nhằm mục đích giao dịch trong kinh doanh. Do vậy lượng tiền gửi không kỳ
hạn thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng.
Với đặc tính của nguồn tiền này là luôn biến động cho nên ngân hàng chỉ được sử
* Theo tiêu thức mục đích sử dụng
- Tiền gửi tiết kiệm: Phần lớn là các khoản ký gửi của cá nhân với mục đích
là tìm kiếm một khoản thu nhập với số tiền nhàn rỗi của mình. Thông thường tiền
gửi có khối lượng nhỏ, thời hạn ngắn. Những người gửi tiền tiết kiệm là những đối
tượng giảm chi tiêu trong hiện tại với kỳ vọng sẽ tăng được chi tiêu trong tương lai.
Phương thức gửi tiền tiết kiệm chủ yếu là nộp tiền trực tiếp vào ngân hàng hoặc
gián tiếp chuyển thu nhập dưới hình thức chuyển qua tài khoản.
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Loại hình này khá phổ biến ở các nước phát
triển, thường sử dụng với những hộ có thu nhập thấp và trung bình. Những người để
dành một khoản tiền gửi vào ngân hàng (thông thường là các khoản tiền đều đặn
hàng năm) với ý định tích luỹ tiền cho một mục đích nhất định trong tương lai như
xây dựng nhà cửa, mua ôtô… và cũng được hưởng lãi trên số tiền gửi như các loại
tiết kiệm khác. Khi có nhu cầu sử dụng tiền vào mục đích nói trên, nếu số dư của
khoản tiết kiệm đó chưa đủ thì ngân hàng có thể hỗ trợ thêm một phần dưới hình
thức cho vay với một lãi suất hợp lý đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên. Đây là một
hình thức huy động vốn trung và dài hạn khá hiệu quả, có tính chất ổn định, đồng
thời có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ cho người dân về việc mua sắm nhà cửa,
phương tiện.
- Tiền gửi thanh toán: Là các khoản ký gửi của cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh không nhằm mục đích tìm kiếm thêm thu nhập mà để
được hưởng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng, thông thường các khoản tiền gửi
thanh toán có số lượng lớn. Mặt khác một số ngân hàng thường ưu tiên hơn đối với
các doanh nghiệp mở tài khoản tại ngân hàng và phải có số dư nhất định trên tài
khoản tiền gửi tại ngân hàng. Các khoản tiền gửi này ngân hàng phải chịu chi phí
thấp, phải quản lý chính xác khâu dự trữ nhưng lại được sử dụng một khoản tiền lớn
phục vụ cho các hoạt động của mình.
Các khoản tiền gửi thanh toán một mặt làm phát triển hệ thống thanh toán
không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng, tiết kiệm chi phí trong lưu thông, mặt
khác kiểm soát được hoạt động của các doanh nghiệp. Khi thực hiện chức năng là
Phân tích hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Thành Phố Trà Vinh
- Vay để cho vay
Hầu như toàn bộ số tiền trong lưu thông đã trở thành tiền gửi tại các ngân
hàng nghĩa là các ngân hàng chia nhau nắm giữ lượng tiền trong lưu thông. Để tăng
Phân tích hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Thành Phố Trà Vinh
GVHD: Lê Trung Hiếu 21 SVTH: Huỳnh Thị Phương Thảo
lượng tiền gửi của mình các ngân hàng thường tăng lãi suất để thu hút các khoản
tiền gửi ở các ngân hàng khác chảy về. Nhưng thực tế khi một ngân hàng tăng lãi
suất tiền gửi, để tránh sự chảy vốn các ngân hàng khác cũng đồng loạt tăng lãi suất
lên làm chi phí ngân hàng tăng lên mà lượng tiền gửi lại thay đổi không đáng kể.
Do vậy khi thiếu vốn để tài trợ cho các dự án mà ngân hàng cho là có hiệu quả thì
ngân hàng sẽ thực hiện chính sách đi vay. Do tính chất hoạt động không đồng đều
giữa các ngân hàng về huy động vốn và sử dụng vốn, vì vậy những ngân hàng thiếu
vốn có thể đi vay ở những ngân hàng còn thừa vốn chưa sử dụng hết hoặc đi vay
vốn từ NHTƯ hoặc các định chế tài chính khác. Mặt khác do ngân hàng dự đoán
được sự gia tăng của nhu cầu tín dụng trong tương lai mà nguồn vốn huy động chưa
thể đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn trong thời kỳ tới thì ngân hàng thực hiện đi vay
vốn để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.
- Vay để giảm chi phí nguồn tiền cho giai đoạn sau.
Vào cuối kỳ hạch toán, nếu các ngân hàng dự tính được thu nhập của kỳ đó
lớn nghĩa là kỳ đó họ phải chịu thuế nhiều. Nếu họ cũng dự tính được kỳ sau họ sẽ
có những khoản chi phí lớn thì họ có thể phát hành kỳ phiếu ngắn hạn trả lãi trước
nhằm tăng chi phí cho kỳ này và giảm chi phí cho kỳ sau.
- Vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng và vốn
vay từ ngân hàng trung ương
Tuỳ theo tình hình hoạt động của ngân hàng trong từng thời kỳ và lý do của
các khoản vay của mình mà ngân hàng có những hình thức vay phù hợp. Với các
hình thức vay như trên ngân hàng có thể mất rất nhiều thời gian. Đối với mục đích
sử dụng ngay như để đảm bảo khả năng thanh khoản cho ngân hàng thì hai hình
thức vay vốn trên không phù hợp. Ngân hàng có thể sử dụng phương thức khác như
vay vốn ở các tổ chức tín dụng khác hoặc vay ở NHTƯ. Thực tế cho thấy hoạt động
có thể phát hành kỳ phiếu để tạo nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư cho các hoạt
động này. Có thể kỳ phiếu là một chứng chỉ nhận nợ của ngân hàng có mục đích kỳ
hạn rõ ràng. Kỳ phiếu của ngân hàng phát hành để huy động vốn từ dân cư và các tổ
chức kinh tế để tạo lập nguồn vốn trung và dài hạn để tài trợ cho các hoạt động của
mình. Khi ngân hàng muốn giảm chi phí cho kỳ sau thì ngân hàng phát hành kỳ
phiếu ngắn hạn trả trước.
- Trái phiếu
Trái phiếu ngân hàng thực chất là một giấy nhận nợ của ngân hàng với khách
hàng. Phát hành trái phiếu ngân hàng nhằm tập trung vốn trung và dài hạn để tài trợ
cho các dự án lớn theo yêu cầu phát triển trên địa bàn hoặc tập trung vốn tài trợ cho
các dự án được Chính phủ chỉ định. Ngân hàng phát hành trái phiếu chủ yếu là để
Phân tích hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Thành Phố Trà Vinh
GVHD: Lê Trung Hiếu 23 SVTH: Huỳnh Thị Phương Thảo
vay hộ khách hàng. Trái phiếu khác kỳ phiếu có mục đích ở chỗ kỳ phiếu có mục
đích thường được sử dụng linh hoạt hơn như kỳ phiếu có thể được phát hành ở từng
chi nhánh trên cơ sở được sự chấp thuận của NHTƯ với khung lãi suất và thời hạn
phát hành riêng biệt. Còn trái phiếu thường được phát hành với quy mô lớn hơn và
đồng loạt trong cả hệ thống ngân hàng.
Như vậy trái phiếu và kỳ phiếu có mục đích đều được ngân hàng phát hành
với mục đích huy động vốn trung và dài hạn và là khoản vay của các ngân hàng trên
thị trường. Ngoài ra còn có các hình thức vay khác.
1.2.5.4. Nguồn vốn khác
- Điều chuyển vốn
Ngày nay hệ thống NHTM được tổ chức theo mô hình tổng công ty và các
công ty con gồm ngân hàng mẹ và hệ thống các ngân hàng chi nhánh trực thuộc. Có
một phương thức huy động vốn rất hiệu quả hiện nay là chu chuyển vốn điều hoà.
Do tình hình hoạt động của các chi nhánh tại các địa bàn khác nhau là khác nhau
(do ảnh hưởng của điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng, do phong tục tập
quán…) cho nên những chi nhánh ngân hàng mà hoạt động sử dụng vốn vượt quá
khả năng huy động vốn thì đầu kỳ lập kế hoạch lên ngân hàng mẹ và xin được nhận
từ ngân hàng nhà nước. Đồng thời, nó còn có tác dụng làm giảm lãi suất trên thị
trường tiền tệ. Ngược lại, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ khó khăn hơn
trong việc huy động vốn vay từ ngân hàng nhà nước.
Chính sách đầu tư của Nhà nước hợp lý hay không hợp lý cũng ảnh hưởng
đến chính sách huy động vốn của ngân hàng. Để khuyến khích sản xuất, đầu tư, Nhà
nước có chính sách bảo hộ cho hàng hoá sản xuất, chính sách trợ giá… tạo điều
kiện cho sản xuất kinh doanh phát triển và có lãi. Các doanh nghiệp và người lao
động có tích luỹ là nền tảng để ngân hàng huy động vốn được nhiều hơn.
1.3.1.2. Sự tăng trưởng của nền kinh tế
Trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng, doanh nghiệp và cá nhân có thu nhập khá,
tích luỹ được nhiều nên các khoản tiền ký thác thường tăng nhanh để đáp ứng các
giao dịch kinh tế. Mặt khác, nền kinh tế phát triển sẽ có tác động ngược lại, nhiều
doanh nghiệp mới được thành lập, giao dịch kinh tế tăng hơn hình thành một bộ
phận tích luỹ, tạo môi trường tiềm tàng để ngân hàng thương mại thu hút vốn.
Ngân hàng thương mại phải tìm biện pháp huy động sao cho có hiệu quả,
vừa thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, vừa đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, sản xuất bị đình trệ, môi trường đầu tư của
ngân hàng sẽ bị thu hẹp, lợi nhuận của ngân hàng giảm, quá trình huy động vốn sẽ
Phân tích hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Thành Phố Trà Vinh
GVHD: Lê Trung Hiếu 25 SVTH: Huỳnh Thị Phương Thảo
gặp nhiều khó khăn. Hơn thế nữa, lạm phát làm cho đồng tiền mất giá, người dân sẽ
không gửi tiền vào ngân hàng, mà dùng tiền để mua hàng hoá có giá trị để cất trữ
cũng ảnh hưởng đến việc huy động vốn của ngân hàng.
Bên cạnh đó chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa quốc gia cũng ảnh
hưởng tới việc tạo vốn của ngân hàng. Nếu mở rộng tiền tệ thì sẽ huy động vốn dễ,
nếu thắt chặt tiền tệ sẽ huy động vốn khó. Khi chính sách tài khóa thu hẹp cũng như
tăng thuế, giảm chi tiêu chính phủ cũng dẫn tới tăng thất nghiệp nên khó huy động
vốn. Mặt khác lãi suất giảm sẽ không hấp dẫn được nguồn tiết kiệm vì người có tiền
sẽ chỉ quan tâm tới lãi suất dương, vậy nên không ai muốn gửi tiền tiết kiệm.
Tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng tới việc tạo vốn của ngân hàng. Khi đồng