đánh giá khung lãi suất, quá trình sử dụng, điều hành chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương trong thời gian vừa qua - Pdf 24

lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài cần nghiên cứu:
Lãi suất là giá cả sử dụng vốn, gắn liền với hoạt động tín dụng ngân hàng,
đồng thời gắn liền với mọi hoạt động kinh tế có liên quan, mà trực tiếp là ngời
gửi tiền và ngời vay vốn.
Lãi suất cũng là một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia do
Ngân hàng Trung ơng (NHTƯ) điều hành. Nó có tác động rất lớn đối với vịệc
tăng hoặc giảm khối lợng tiền lu thông, thu hẹp hay mở rộng tín dụng, khích lệ
hay hạn chế huy động vốn, kích thích hay cản trở đầu t, tạo thuận lợi hay khó
khăn cho hoạt động ngân hàng. Một chính sách lãi suất đúng đắn sẽ có tác dụng
thúc đẩy sản xuất, lu thông hàng hoá, thúc đẩy tăng trởng kinh tế và ngợc lại khi
chính sách lãi suất thiếu chuẩn xác sẽ ảnh hởng nghiêm trọng đến nền kinh tế.
Và vai trò đó của chính sách lãi suất ngày càng trở nên quan trọng và phức tạp
hơn cùng với quá trình đổi mới hoạt động ngân hàng trong điều kiện kinh tế thị
trờng ngày càng phát triển sâu sắc.
ở Việt Nam, sau hơn 10 năm đổi mới, ngành ngân hàng đã đạt đợc những
thành tựu nhất định, góp phần không nhỏ vào những thành quả chung của nền
kinh tế. Trong nhiệm vụ xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ, Ngân hàng
Nhà nớc (NHNN) đã rất chú trọng đến việc đổi mới các công cụ điều tiết nh hạn
mức tín dụng, dự trữ bắt buộc, tỷ giá nhng quan trọng nhất vẫn là công cụ lãi
suất. Nhìn chung trong hơn 10 năm đổi mới, chính sách lãi suất tín dụng ngân
hàng đã góp phần bình ổn giá cả, đẩy lùi và kiểm soát lạm phát, kích cầu, tăng tr-
ởng kinh tế. Cơ chế điều hành lãi suất đợc thay đổi theo từng thời kỳ phát triển
kinh tế và ngày càng trở nên linh hoạt hơn. Đặc biệt, trong giai đoạn thúc đẩy
phát triển kinh tế và xu hớng hội nhập vào thị trờng tài chính khu vực cũng nh
Quốc tế hiện nay đòi hỏi NHNN phải xây dựng và thực thi một chính sách lãi
suất tín dụng ngân hàng phù hợp, tiến tới tự do hoá trên cơ sở đảm bảo sự kiểm
soát của Nhà nớc với thị trờng, phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Vì vậy, việc học tập, nghiên cứu chính sách lãi suất cũng nh việc học tập
kinh nghiệm quản lý và điều hành chính sách lãi suất của các nớc phát triển để từ
đó đa ra những điều kiện, giải pháp để xây dựng một chính sách lãi suất đúng

2
Chơng I
Cơ sở lý luận của chính sách lãi suất tín dụng ngân
hàng và kinh nghiệm của một số nớc trong việc điều
hành chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng.
1. Khái niệm lãi suất.
Trong nền kinh tế thị trờng tồn tại rất nhiều phạm trù kinh tế - tài chính
trong đó tín dụng và lãi suất tín dụng là một trong số những phạm trù quan trọng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động vay mợn, quan hệ sử dụng vốn giữa ngời
đi vay và ngời cho vay theo nguyên tắc có hoàn trả. Đối với chủ thể thừa vốn, tín
dụng mang đến cho họ cơ hội không những bảo tồn đợc vốn mà còn tạo thu nhập.
Đối với các chủ thể thiếu vốn, tín dụng giúp cho họ bổ sung vốn để đáp ứng nhu
cầu sản xuất, kinh doanh hoặc đời sống. Nh vậy, nhờ có hoạt động tín dụng mà
có một bộ phận lớn nguồn vốn trong nền kinh tế đợc huy động, tập trung và phân
phối từ nơi tạm thời d thừa sang nơi thiếu để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của
các chủ thể trong nền kinh tế.
Công cụ và là đòn bẩy quan trọng không thể thiếu đợc trong hoạt động tín
dụng chính là lãi suất. Lãi suất tín dụng ngân hàng là tỷ lệ % giữa lợi tức và tổng
số tiền vay trong một thời kỳ nhất định. Nh vậy, lãi suất chính là giá cả sử dụng
3
tiền vốn, gắn liền với hoạt động tín dụng ngân hàng, đồng thời gắn liền với mọi
hoạt động kinh tế có liên quan đến gửi tiền và vay tiền.
Mặt khác, ở tầm vĩ mô, lãi suất còn là một công cụ điều tiết kinh tế rất
nhạy bén và hiệu quả của chính sách tiền tệ quốc gia. Thông qua việc thay đổi
mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định, Chính phủ có thể tác động
đến quy mô và tỷ trọng các loại vốn đầu t, do vậy mà có thể tác động đến quá
trình điều chỉnh cơ cấu, đến tốc độ tăng trởng, sản lợng, tỷ lệ thất nghiệp và tình
trạng lạm phát trong nớc. Hơn thế nữa, trong những điều kiện nhất định của nền
kinh tế mở, chính sách lãi suất còn đợc sử dụng nh một công cụ góp phần điều
tiết đối với các luồng vốn đối với một nớc, tác động đến tỷ giá và điều tiết sự ổn

ngân hàng, nó đợc hình thành bởi quan hệ cung cầu tiền của các tổ chức tín dụng
và chịu sự chi phối của lãi suất tái cấp vốn của NHTƯ. Lãi suất cơ bản là lãi suất
đợc các NHTM sử dụng làm cơ sở để ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình.
Một vấn đề quan trọng trong việc tìm hiểu khái niệm lãi suất tín dụng ngân
hàng đó là phải phân biệt đợc lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa.
Lãi suất danh nghĩa là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào
thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là lãi suất cha trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi
suất danh nghĩa thờng đợc công bố chính thức trong các quan hệ tín dụng, trên
các phơng tiên thông tin đại chúng.
Lãi suất thực tế là lãi suất đợc điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi
dự tính về lạm phát.
Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế đợc khái quát
thành phơng trình sau đây:
Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực tế + Tỷ lệ lạm phát.
hay
Lãi suất thực tế = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm phát.
Vì đợc điều chỉnh lại theo đúng những thay đổi về lạm phát nên lãi suất
thực tế phản ánh chính xác hơn thu nhập từ việc cho vay cũng nh chi phí thật của
việc cho vay.
2. Các nhân tố ảnh h ởng tới lãi suất :
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nớc đóng vai trò trung tâm
trong hầu hết tất cả các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có thị trờng tài chính.
Vì lẽ đó, lãi suất trong các nớc đó đều do Nhà nớc qui định, thậm chí một số nớc
còn quy định đến cả mức chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay của
các ngân hàng. Sự biến động của lãi suất trong các điều kiện nh vậy phần lớn phụ
thuộc vào ý chí của chính phủ và không vận động theo bất cứ một quy luật nào.
Trái lại, trong các nền kinh tế thị trờng, Nhà nớc chỉ đóng vai trò là ngời
điều tiết vĩ mô, thị trờng tài chính hoạt động theo cơ chế tự do hoá, cơ chế hình
thành lãi suất là cơ chế thị trờng. Lãi suất vì vậy mà chịu ảnh hởng của rất nhiều
nhân tố kinh tế vĩ mô cũng nh nhiều các nhân tố khác.

và làm tăng lãi suất. Sau nữa, bội chi ngân sách sẽ tác động đến tâm lý công
chúng về gia tăng mức lạm phát và sẽ gây áp lực tăng lạm phát. Thông thờng,
Chính phủ thờng tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu.
Lợng cung trái phiếu trên thị trờng tăng lên làm cho giá trái phiếu có xu hớng
giảm và lãi suất thị trờng có xu hớng tăng. Mặt khác, do tài sản có của NHTM
tăng ở khoản mục trái phiếu chính phủ, dự trữ vợt mức giảm nên lãi suất ngân
hàng cũng sẽ tăng.
Những thay đổi trong thuế:
Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp luôn có tác động
đến lãi suất. Khi các hình thức thuế này tăng sẽ điều tiết đi một phần thu nhập
của các cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những ngời tham gia
kinh doanh chứng khoán. Mọi ngời đều quan tâm đến thu nhập thực tế hơn là thu
6
nhập danh nghĩa. Do vậy, để duy trì một mức lợi nhuận thực tế nhất định, họ phải
cộng thêm vào lãi suất cho vay những thay đổi của thuế.
ảnh hởng của tỷ giá hối đoái kỳ vọng:
Khi đồng nội tệ yếu, bị những sức ép lớn do những dao động của các đồng
ngoại tệ mạnh thì tâm lý phổ biến của ngời dân là coi ngoại tệ mạnh nh một trong
những loại tài sản tiết kiệm an toàn. Chẳng hạn, khi hiện tợng đô la hoá xảy ra,
ngời dân sẽ ồ ạt chuyển sang tiết kiệm bằng ngoại tệ cụ thể là đô la Mỹ. Làm nh
vậy ngời gửi hởng lợi kép gồm lãi suất tiền gửi và sự lên giá của đồng đô la Mỹ.
Sự chuyển dịch này tạo ra sự khan hiếm nội tệ ở các NHTM và buộc các ngân
hàng này phải tăng lãi suất tiền gửi đồng nội tệ để huy động cho vay nền kinh tế.
Nh vậy, khi xây dựng chính sách lãi suất cần phải xem xét đến khía cạnh tỷ giá
để giảm bớt mức chênh lệch giữa lợi tức lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ hay lãi
suất cho vay nội tệ và ngoại tệ. Điều này giúp giảm bớt sự dịch chuyển không
mong đợi từ tiền gửi nội tệ sang đô la khi đồng đô la lên giá.
Những thay đổi trong đời sống xã hội:
Ngoài những yếu tố trên, sự thay đổi của lãi suất còn chịu ảnh hởng của
các yếu tố thuộc về đời sống xã hội khác nh tình hình về kinh tế, chính trị cũng

hàng nói chung là tỷ suất lợi nhuận bình quân, còn giới han thấp nhất của lãi suất
là chỉ số lạm phát vì nó sẽ làm cho ngời gửi tiền bảo toàn đợc vốn.
Tóm lại, để lãi suất tín dụng trở thành đòn bẩy kích thích và mở rộng các
quan hệ tín dụng trong nền kinh tế thì phải đảm bảo lãi suất tín dụng đợc kiểm
soát trong khung giới hạn sau đây:
Tỷ lệ lạm phát <= lãi suất tín dụng <= tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Nếu vợt quá giới hạn trên, lãi suất tín dụng sẽ gây ra tác động tiêu cực đối
với nền kinh tế xã hội, hệ thống ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng bất ổn, rối loạn.
4. Chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng.
Lãi suất là công cụ có ý nghĩa khi thực hiện chính sách tiền tệ, NHTƯ sẽ
căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế để quy định một số chỉ tiêu lãi suất áp dụng
trong toàn hệ thống ngân hàng. Thông thờng, ngời ta thờng quy định hai chỉ tiêu
cơ bản là lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản.
a. Lãi suất cơ bản.
Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các loại lãi suất khác
hình thành trong nền kinh tế thị trờng. Đó là loại lãi suất chiếm vị trí quan trọng
trong cơ chế thị trờng.
Lãi suất cơ bản do NHTƯ xác định và công bố trên cơ sở tình hình thực tế
của thị trờng và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.
Lãi suất cơ bản có một số chức năng nhất định. Nó là công cụ để điều hành
chính sách tiền tệ quốc gia. Qua lãi suất cơ bản, NHTƯ tác động vào thị trờng
tiền tệ, thúc đẩy, mở rộng hay thu hẹp tín dụng, giữ mức tơng quan cần thiết giữa
tổng cung và tổng cầu tiền tệ. Mặt khác, lãi suất cơ bản là giá cả sử dụng vốn
8
trong hoạt động tín dụng, là cở sở hình thành lãi suất thị trờng, tức là lãi suất kinh
doanh tiền tệ. Nó là điểm dung hoà một cách tự nhiên lợi ích của ngời gửi tiền,
của ngời vay tiền và của TCTD.
Lãi suất cơ bản đợc xác định một cách trực tiếp dới nhiều góc độ. Nếu
đứng trên giác độ bảo vệ lợi ích của khách hàng ( ngời gửi tiền và ngời vay vốn)
ngời ta quy định lãi suất tiền gửi tối thiểu và lãi suất cho vay tối đa. Điều này có

mức lãi suất cho vay cụ thể phù hợp với cung cầu về vốn.
a3. Lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay tối đa.
9
NHTƯ công bố một mức lãi suất trần nhng có thể quy định một số mức
biên độ phù hợp với từng loại hình TCTD, thời hạn khác nhau.
a4. Lãi suất cơ bản là lãi suất trên thị trờng liên ngân hàng.
Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất cho vay giữa các NHTM. Lãi suất liên
ngân hàng hình thành trên cơ sở thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và quan hệ
cung cầu vốn trong nền kinh tế. Do vậy, lãi suất liên ngân hàng gắn với thị trờng
nhiều hơn và dễ biến động hơn. Thông thờng lãi suất cơ bản bằng lãi suất liên
ngân hàng cộng thêm một biên độ gồm phí quản lý món vay, phí rủi ro
b. Lãi suất tái chiết khấu.
Khi nền kinh tế phát triển cả chiều sâu lẫn chiều rộng, NHTƯ chuyển sang
điều hành lãi suất một cách gián tiếp, mang nặng yếu tố kinh tế. Đó là lãi suất tái
chiết khấu của NHTƯ. Lãi suất chiết khấu có tác động và có ý nghĩa hớng dẫn lãi
suất thị trờng một cách gián tiếp, tức là tác động đến lãi suất kinh doanh của các
TCTD.
Lãi suất chiết khấu chủ yếu ảnh hởng đến cung ứng tiền tệ bằng cách ảnh
hởng đến khối lợng cho vay chiết khấu và cơ số tiền tệ. Một sự tăng lên trong cho
vay chiết khấu sẽ làm tăng cơ số tiền tệ và tăng cung ứng tiền tệ. Còn một sự
giảm xuống trong cho vay chiết khấu sẽ làm giảm bớt cơ số tiền tệ và thu hẹp
cung ứng tiền tệ.
Ngoài việc sử dụng làm công cụ để tác động đến cơ số tiền tệ và cung ứng
tiền tệ, lãi suất chiết khấu còn đợc sử dụng để giúp cho việc tránh khỏi những cơn
sụp đổ tài chính vì ngân hàng đóng vai trò là ngời cho vay cuối cùng. NHTƯ
đóng vai trò là ngời cho vay cuối cùng không chỉ cho các NHTM mà còn cho cả
hệ thống tài chính nói chung. NHTƯ cung cấp dự trữ cho hệ thống ngân hàng khi
các ngân hàng bị đe doạ phá sản, do đó ngăn chặn xảy ra những cơn sụp đổ ngân
hàng và tài chính.
Lãi suất chiết khấu có hai tác dụng: tác dụng về lợng đối với khối lợng tiền

Thị trờng tiền tệ của Nhật Bản chỉ dành cho các ngân hàng và một số định
chế tài chính đợc chính thức công nhận trong giai đoạn Nhật Bản phát triển với
tốc độ cao. Sau này, Nhật Bản mở rộng thị trờng tiền tệ cho các thành phần tham
gia và thị trờng liên ngân hàng gồm có thị trờng mua tiền tệ (call money market)
dành cho những giao dịch cực ngắn, phục vụ cho giao dịch thơng mại và thị trờng
thơng phiếu (bills market) dành cho các giao dịch dài hạn.
Hai thị trờng này gồm có ngời cho vay, ngời đi vay và các nhà trung gian
chuyên nghiệp, ngời buôn tiền ở thị trờng tiền tệ. Vì giao dịch không ký quỹ nên
ngời buôn tiền chỉ hoạt động nh ngời môi giới. Ngân hàng Nhật cũng tham gia
vào thị trờng thơng phiếu.
Để điều hành lãi suất, bên cạnh lãi suất có tính chất định hớng là lãi suất
chiết khấu, Nhật Bản còn áp dụng một số loai lãi suất có điều tiết đợc xây dựng
dựa trên lãi suất chiết khấu và xác định dợc lãi suất cơ bản là sàn lãi suất cho vay
nhằm đảm bảo an toàn hệ thống. Lãi suất trên thị trờng tiền tệ liên ngân hàng đợc
tự do xác định trên cơ sở cung cầu về vốn và làm lãi suất tham chiếu cho mọi
định chế tài chính.
11
5.2 Kinh nghiệm của Pháp.
Pháp dùng lãi suất của thị trờng liên ngân hàng làm lãi suất chỉ đạo (lãi
suất cơ bản). Lý do là vì Pháp là một nớc mà lợng vay vốn ngân hàng nhiều hơn
lợng vay vốn qua thị trờng tài chính. Pháp dùng lãi suất cho vay chào mời vào lúc
11 giờ hàng ngày của 8 ngân hàng và hiện nay là của 12 ngân hàng để tính theo
số trung bình cộng ra lãi suất cho vay bằng đồng nội tệ và bằng Ecu.
ở Pháp, các tín phiếu kho bạc đợc dành riêng cho thị trờng liên ngân hàng.
Về lý thuyết, ngời ta cho rằng Pháp xác định lãi suất cơ bản do cung cầu
tín dụng quy định. Trong 12 ngân hàng lớn, mỗi ngân hàng có quan hệ giữa
nguồn vốn và cung cầu vốn tín dụng riêng, từ đó xác lập nên cung cầu vốn riêng
của mình. Nếu cung < cầu thì ngân hàng đó phải đi vay ở thị trờng liên ngân
hàng và phản ánh bên cầu của thị trờng liên ngân hàng. Nếu cung > cầu, ngân
hàng đó sẽ là ngời cung ứng vốn cho thị trờng liên ngân hàng và phản ánh bên

năm 1987, Malaysia đã chuyển sang điều hành lãi suất theo hớng vừa đảm bảo sự
phối hợp chỉ đạo của NHTƯ, vừa duy trì ở một mức độ nào đó quyền tự chủ của
các NHTM. Với tinh thần đó, NHTƯ yêu cầu các NHTM tính lãi suất cơ bản của
ngân hàng mình dựa trên mức lãi suất cơ bản của hai ngân hàng lớn "leader
banks ". Các NHTM sẽ điều chỉnh lãi suất cơ bản của mình theo nguyên tắc áp
dụng biên độ giao động xung quanh lãi suất cơ bản.
Hiện nay, các ngân hàng đợc phép tính lãi suất cơ bản cho ngân hàng
mình, nhng để đảm bảo tính khách quan và tơng đồng giữa các ngân hàng trong
khi tính lãi suất cơ bản, NHTƯ đa ra công thức chuẩn chung nhất để tính lãi suất
cơ bản. Lãi suất cơ bản đợc xây dựng trên cơ sở các yếu tố: chi phí huy động (sau
khi đã tính đến cả chi phí đáp ứng yêu cầu về dự trữ bắt buộc); các chi phí cho
vay (gồm chi lơng cho cán bộ, chi phí hành chính, các chi phí khác liên quan đến
việc cho vay, nhng không bao gồm chi phí liên quan đến các khoản nợ khó đòi);
tỷ lệ lợi nhuận "profit margin" cho phép.
Trên cơ sở lãi suất cơ bản đợc công bố, các NHTM sẽ niêm yết mức lãi
suất cơ bản của mình. Mức lãi suất cho vay thực tế của ngân hàng sẽ là lãi suất cơ
bản cộng với tỷ lệ phí rủi ro "risk premium" trong hoạt động ngân hàng áp dụng
linh hoạt cho từng món vay. Các ngân hàng không đợc cho vay dới mức lãi suất
cơ bản đã công bố.
Nh vậy, lãi suất đã đợc điều hành theo hớng vừa có sự chỉ đạo của NHTƯ,
nhng vẫn duy trì đợc quyền tự chủ của các NHTM trong việc quy định lãi suất.
Lãi suất đợc quản lý linh hoạt theo diễn biến thay đổi của thị trờng, dựa trên cơ
sở đảm bảo an toàn hệ thống.
Nh vậy theo kinh nghiệm của các nớc, sự tác động của Nhà nớc những khi
cần thiết vẫn là những quyết định hành chính về lãi suất công bố trên báo chí.
Từ kinh nghiệm của các nớc, chúng ta có thể tham khảo và vận dụng một
cách thích hợp vào điều kiện thực tế của Việt Nam để xây dựng một chính sách
lãi suất tín dụng phù hợp.

13

Chính sách lãi suất dơng đánh dấu một bớc ngoặt quan trọng trong quá
trình chuyển hoạt động ngân hàng sang cơ chế thị trờng, bảo đảm lợi ích thực sự
của ba bên: ngời gửi tiền, ngời vay tiền và ngân hàng, xoá bỏ bao cấp trong hoạt
động tín dụng. Chính sách lãi suất phù hợp trên đã góp phần thu hút và tập trung
đợc một khối lợng tiền lớn trong lu thông, tăng nguồn vốn tín dụng đầu t cho
phát triển, giảm áp lực đối với lạm phát.
Tuy nhiên, ở giai đoạn này, hệ thống lãi suất còn phức tạp, còn có quá
nhiều mức lãi suất tiền gửi và cho vay. NHNN vẫn còn quy định các mức lãi suất
tiền gửi và cho vay cụ thể, phân biệt lãi suất giữa các thành phần kinh tế: lãi suất
cho vay đối với doanh nghiệp Nhà nớc thấp hơn lãi suất cho vay đối với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, lãi suất cho vay ngắn hạn cao hơn lãi suất cho vay
trung và dài hạn, lãi suất tiền gửi tiết kiệm cao hơn lãi suất tiền gửi của các tổ
chức kinh tế. Do vậy, trong giai đoạn này, các TCTD chủ yếu phục vụ vốn ngắn
hạn cho nền kinh tế mà không quan tâm nhiều đến việc cho vay trung và dài hạn
để cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ.

3. Giai đoạn vừa quy định các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ
thể, vừa cho vay theo lãi suất thoả thuận.
Theo Quyết định số 184/ QĐ-NH1 ngày 28/9/1993, NHNN quy định các
mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể, cho phép các TCTD cho vay theo lãi suất
thoả thuận vợt mức lãi suất cho vay cụ thể.
Lãi suất trong giai đoạn này có hai loại: lãi suất cho vay doanh nghiệp Nhà
nớc 1,8%/tháng và lãi suất cho vay kinh tế ngoài quốc doanh cao nhất là
2,1%/tháng.
Lãi suất cho vay theo thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng: Trờng hợp
ngân hàng không huy động đủ vốn để cho vay theo lãi suất quy định phải phát
hành kỳ phiếu với lãi suất cao hơn thì đợc áp dụng lãi suất thoả thuận. Lãi suất
huy động có thể cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kỳ hạn là 0,2%/tháng và cho vay
cao hơn mức trần 2,1%/tháng.
Trong thực tế, khoảng 30 - 60% tổng d nợ lúc bấy giờ làt ừ các khoản cho

lãi suất cho vay cao nhất so với các trần lãi suất ở trên (quỹ tín dụng nhân dân cơ
sở là loại hình tổ chức tín dụng có quy mô rất nhỏ bé, đang trong quá trình thí
điểm và chỉ đợc huy động và cho vay vốn trong nội bộ các thành viên) nhng
khoảng cách chênh lệch so với các trần khác cũng dần dần đợc rút ngắn qua các
lần điều chỉnh trần lãi suất.
Một thực tế khách quan của cơ chế thị trờng cho thấy nơi có chi phí cao,
cho vay món nhỏ, chi phí lớn, rủi ro cao, thiếu vốn là khu vực nông thôn, một
khu vực luôn có nhu cầu vốn lớn nhng huy động tại chỗ đợc rất ít và chi phí hoạt
động ngân hàng ở nông thôn cao, nên NHNN quy định trần lãi suất cho vay nông
thôn cao hơn thành thị nhằm thu hút vốn về nông thôn, điều hoà vốn từ thành thị
về nông thôn cho vay bằng công cụ lãi suất và bảo đảm cho các NHTM ở nông
thôn bù đắp đợc chi phí. Nhng có nhiều quan điểm cho rằng lãi suất cho vay
nông thôn phải thấp hơn hoặc bằng thành thị mới u đãi nông nghiệp, mới khuyến
khích đợc nông nghiệp phát triển. Cho nên với Quyết Định số
39/1998/QĐ/NHNN1 của Thống đốc NHNN từ ngày 21/1/1998 đã xoá bỏ sự
cách biệt về lãi suất cho vay giữa thành thị và nông thôn bằng cách rút từ 4 trần
16
lãi suất xuống còn 3 trần lãi suất cho vay khác nhau và không quy định chênh
lệch 0,35%/tháng giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, cụ thể nh sau: trần
lãi suất cho vay ngắn hạn; trần lãi suất cho vay trung và dài hạn; trần lãi suất cho
vay của quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đối với các thành viên. Chính sách này quy
định khoảng cách giữa các trần lãi suất cũng dần dần đợc rút ngắn lại phù hợp với
tình hình mới.
Đối với lãi suất cho vay ngoại tệ, NHNN cũng đã khống chế trần lãi suất
cho vay và khi có sự biến động tỷ giá, phối hợp chặt chẽ với công cụ lãi suất và tỷ
giá để tăng cờng quản lý ngoại tệ, chống hiện tợng đô la hoá.
Đối với chính sách lãi suất này, NHNN chỉ quản lý lãi suất cho vay tối đa
trong phạm vi trần lãi suất đã quy định và cho phép các tổ chức tín dụng đợc tự
do ấn định các mức lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi huy động cụ thể, linh
hoạt, phù hợp với đặc điểm hoạt động, tình hình về cung cầu vốn, chính sách

năm 1994 đến tháng 6 năm 1997, NHNN áp dụng lãi suất tái cấp vốn bằng 100%
lãi suất trên hợp đồng tín dụng các NHTM cho khách hàng vay. Từ tháng 6 năm
1997 đến tháng 1 năm 1998 áp dụng lãi suất 10,8% năm và từ tháng 1 năm 1998
đến nay là 13,2% - năm. Nếu so sánh sự biến động về lãi suất trên thị trờng thì lãi
suất tái cấp vốn của NHNN khá ổn định với mục đích kìm chế lạm phát ở mức
thấp. Nhng lạm phát đợc kìm chế hay bùng nổ không chỉ phụ thuộc vào yếu tố lãi
suất mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa, trong đó thâm hụt Ngân sách
và tăng trởng GDP thấp là yếu tố không thể xem nhẹ.
Song câu hỏi đợc đặt ra là lãi suất ở Việt Nam phải chăng đã thực sự linh
hoạt, mềm dẻo và biến động phù hợp với nền kinh tế. Trên thực tế, lãi suất ở Việt
Nam vẫn chỉ là lãi suất ngân hàng do NHTƯ quy định và áp dụng cho toàn bộ hệ
thống ngân hàng. Chúng ta vẫn cha có lãi suất thị trờng, cha cho phép lãi suất đợc
xác định trên cơ sở thị trờng. Về vấn đề này, xét trên góc độ nền kinh tế Việt
Nam mới đang ở giai đoạn đầu tiên bớc sang cơ chế thị trờng, có thể khẳng định
rằng cha thể cho phép tự do hoá lãi suất, tức là xác định lãi suất theo các lực lợng
thị trờng, nhng trên một giác độ khác, muốn phát triển nền kinh tế thị trờng, hoàn
thiện và phát triển thị trờng tài chính nói chung và thị trờng chứng khoán nói
riêng ở Việt Nam đòi hỏi chúng ta phái từng bớc thực hiện tự do hoá lãi suất.
5. Một số nhận thức về lãi suất theo tinh thần luật NHNN và sự
điều chỉnh cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam.
Sau nhiều năm đổi mới hoạt động và liên tục đổi mới cơ chế điều hành lãi
suất, đã đến lúc xuất hiện các điều kiện cần và đủ để NHNN và các TCTD
chuyển sang giai đoạn mới của việc điều hành lãi suất và thực hiện chính sách lãi
suất. Những điều kiện đó là:
- Luật NHNN và Luật các TCTD có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 10
năm 1998, trong đó Điều 18 Luật NHNN quy định: "NHNN xác định và công bố
lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn".
- Quy định trần lãi suất cho vay của NHNN đối với các TCTD đã có những
dấu hiệu chỉ mang tính định hớng. Một số NHTM do điều kiện cụ thể của mình
đã thực hiện một số mức lãi suất cho vay dới trần quy định của NHNN, trong khi

thị trờng, mối quan hệ giữa lãi suất với tỷ giá ngoại tệ, giữa lãi suất nội tệ và lãi
suất ngoại tệ, lãi suất thị trờng đấu thầu thị trờng trái phiếu Kho bạc Nhà nớc
trong những phiên đấu thầu gần nhất
Trên cơ sở đó, ngày 02/02/2000, Thống đốc NHNN đã ban hành các Quyết
dịnh về việc thay đổi cơ chế điều hành lãi suất có hiệu lực thi hành kể từ ngày
05/08/2000: Quyết dịnh số 241/ 2000/QĐ - NHNN1 về việc thay đổi cơ chế điều
hành lãi suất cho vay của các TCTD đối với khách hàng; Quyết định số
242/2000/QĐ - NHNN1 công bố lãi suất cơ bản làm cơ sở cho các TCTD ấn định
lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng; Quyết định số
243/2000/QĐ - NHNN1 công bố biên độ lãi suất đôla Mỹ làm cơ sở cho các
TCTD ấn định lãi suất cho vay bằng đôla suất Mỹ đối với khách hàng; Quyết
định số 244/2000/QĐ - NHNN1 về việc cung cấp thông tin tham khảo về lãi suất
của các NHTM cho NHNN.
19
Cơ chế mới về điều hành lãi suất của NHNN ra đời nhằm quán triệt chủ tr-
ơng đổi mới hoạt động ngân hàng của Đảng, Nhà nớc và Quốc hội đề ra và đợc
thể hiện trong Nghị quyết Trung ơng lần thú 4, khoá VIII, Thông báo số 144/TB-
TƯ ngày 03/03/1998 của Bộ chính trị: " Xây dựng và thực hiện cơ chế mới phù
hợp hơn về tỷ giá và lãi suất, với bớc đi thích hợp, không để xảy ra biến động xấu
về kinh tế, xã hội Cụ thể là thực hiện lãi suất thực dơng, linh hoạt, phản ánh
đúng cung cầu vốn trên thị trờng, từng bớc áp dụng lãi suất cơ bản thay dần cho
việc ấn định trần lãi suất." và quán triệt theo t tởng của Luật NHNN Việt Nam.
T tởng của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản là từng bớc tự do hoá lãi suất
nhng vẫn đảm bảo đợc sự kiểm soát của Nhà nớc đối với thị trờng, phù hợp với
mục tiêu kinh tế vĩ mô, với điều kiện thực tế của thị trờng, hạn chế tối đa rủi ro
và tác động xấu của biến động thị trờng tiền tệ thế giới, phù hợp với mức độ hội
nhập thị trờng tài chính khu vực và quốc tế, làm cho lãi suất trong nớc bám sát
với lãi suất trên thị trờng quốc tế.
Đối với lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam:
NHNN bỏ việc quy định trần lãi suất cho vay của TCTD đối với khách

công cụ tiền tệ khác đảm bảo cho sự vận hành cơ chế lãi suất mới phù hợp với
mục tiêu đề ra.
Chơng III.
Giải pháp nhằm củng cố và hoàn thiện chính
sách lãi suất tín dụng ngân hàng ở Việt Nam.
Nh vậy là trong hơn 10 năm đổi mới, chính sách lãi suất tín dụng của ngân
hàng đã đợc điều hành theo hớng tích cực, phù hợp với điều kiện của nền kinh tế
nớc ta. Chính sách lãi suất của nớc ta đã từng bớc đợc nới lỏng theo hớng tự do
hoá, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong nớc, mức độ hội nhập kinh tế
của nền kinh tế nớc ta. Cơ chế điều hành lãi suất ngày càng trở nên linh hoạt hơn,
bám sát cung - cầu vốn thị trờng, quyền chủ động ấn định lãi suất kinh doanh của
các TCTD ngày càng đợc mở rộng, nên làm tăng khả năng cạnh tranh nhng vẫn
đảm bảo đợc sự kiểm soát lãi suất trên thị trờng tiền tệ, góp phần phát triển thị tr-
ờng tài chính trong nớc, thúc đẩy tăng trởng kinh tế, ổn định giá trị đối nội và đối
ngoại của đồng Việt Nam. Để thúc đẩy tăng trởng kinh tế và hội nhập quốc tế,
NHNN phải tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất, từng bớc
thực hiện các chủ trơng, đờng lối của Đảng và Nhà nớc.
1. Định h ớng .
Để thúc đẩy phát triển nền kinh tế, từng bớc hội nhập vào nền kinh tế quốc
tế, chúng ta phải xây dựng đợc một chính sách lãi suất phù hợp với điều kiện của
21
nền kinh tế nớc ta và chính sách lãi suất đó phải đảm bảo những mục tiêu cơ bản
sau:
Chính sách lãi suất là một bộ phận cấu thành của chính sách tiền tệ quốc
gia vì thế trớc hết nó phải hớng tới mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia. Đó
là ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát và kích thích tăng trởng kinh tế.
Chính sách lãi suất phải phù hợp với đặc điểm thị trờng tín dụng của nớc
ta. Nớc ta thực hiện đổi mới xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Vì vậy,
thị trờng tín dụng vẫn bao hàm cả thị trờng cho vay nặng lãi đặc biệt là ở vùng
nông thôn rộng lớn. Tỷ lệ ngời gửi tiền ngân hàng ở nớc ta chiếm một tỷ lệ thấp

22
của NHNN đối với thị trờng tiền tệ, tránh việc các TCTD tăng lãi suất cho vay
quá mức ảnh hởng đến đầu t trong nớc, phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô, với
tiến trình cải cách doanh nghiệp Nhà nớc, với điều kiện thực tế thị trờng trong và
ngoài nớc và hạn chế đến mức tối đa rủi ro và tác động xấu của biến động thị tr-
ờng tiền tệ thế giới.
Lãi suất tín dụng phải tạo điều kiện cho các T CTD và khách hàng gửi, vay
vốn có thể thoả thuận để lựa chọn lãi suất sao cho linh hoạt, phù hợp với đặc
điểm của từng vùng, mức độ rủi ro theo thời hạn cho vay và đối tợng cho vay, mở
rộng huy động và cho vay vốn trung và dài hạn với mục tiêu huy động nhiều nhất
mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c để đáp ứng vốn cho sự nghiệp công nghiệp
hoá và hiện đại hoá đất nớc.
Chính sách lãi suất vừa phải đáp ứng quan hệ cung cầu vốn của nền kinh
tế, vừa phải tạo điều kiện để giảm chi phí hoạt động tín dụng, đảm bảo có sự
chênh lệch lãi suất đủ để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh của các
TCTD, tức là sau khi bù đắp các chi phí hoạt động, các TCTD phải thu đợc một
lợi nhuận hợp lý.
Lãi suất tín dụng ngân hàng vừa phải kích thích đợc sản xuất trong nớc,
vừa phải khuyến khích phát triển kinh tế đối ngoại, tức là lãi suất trong nớc cần
phải theo sát lãi suất thị trờng quốc tế để phù hợp với mức độ hội nhập thị trờng
tài chính khu vực và quốc tế., làm cho mối quan hệ giữa lãi suất VND - tỷ giá -
lãi suất ngoại tệ linh hoạt hơn, phản ánh chính xác hơn quan hệ cung - cầu về vốn
và ngoại tệ, điều chỉnh quan hệ tín dụng quốc tế một cách có hiệu quả.
Chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng ở nớc ta phải đáp ứng yêu cầu từng
bớc tự do hoá nhng vẫn đảm bảo đợc sự kiểm soát của Nhà nớc đối với thị tr-
ờng.Trong những năm qua, chúng ta đã thực hiện chính sách kiểm soát trực tiếp
lãi suất. Chính sách này có một số điểm thuận lợi nh dễ thực hiện, phù hợp với
một nớc có thị trờng tài chính sơ khai và mức độ cạnh tranh kém, cha có đầy đủ
các công cụ kiểm soát lãi suất gián tiếp và hạn chế trong năng lực quản lý điều
hành nh nớc ta. Nhng bên cạnh đó, chính sách kiểm soát lãi suất cũng đa đến

2. Giải pháp.
- Điều quan trọng để có một chính sách lãi suất hợp lý, vừa kích thích đợc
đầu t, vừa tạo điều kiện cho các TCTD hoạt động kinh doanh có lãi, tăng cờng
cạnh tranh, giải quyết đợc những bất cập của chính sách lãi suất là phải nhận thức
đợc bản chất của lãi suất cơ bản, xác định đợc lãi suất hợp lý. Để xây dựng đợc
lãi suất hợp lý, chúng ta phải chú ý:
Việc điều chỉnh lãi suất cần căn cứ vào định hớng chính sách tiền tệ trong
từng thời kỳ.
Khi xây dựng lãi suất phải đặt trong tơng quan với tỷ giá của VND so với
các đồng tiền mạnh trên thế giới và trong khu vực đặc biệt là đồng USD, đồng
EURO, đồng Yên, đồng Nhân dân tệ Bởi lãi suất và tỷ giá có mối quan hệ hữu
cơ với nhau, một khi có sự tăng giảm, chuyển đổi nội tệ sang ngoại tệ, ảnh hởng
trực tiếp đến hoạt động xuất, nhập khẩu của nền kinh tế.
Việc công bố lãi suất cơ bản phụ thuộc vào lợi nhuận bình quân của xã
hội. Tỷ suất lợi nhuận bình quân này đợc hình thành trong quá trình cạnh tranh
giữa các nền kinh tế. Điều này hoàn toàn phù hợp với lý luận kinh tế học Mác xít:
lợi nhuận của t bản cho vay bao giờ cũng nhỏ hơn lợi nhuận bình quân của t bản
sản xuất và nó chính là một phần của gía trị thặng d do lĩnh vực sản xuất tạo ra.
24
Lãi suất phải đợc đặt trong mối tơng quan với lãi suất tín phiếu kho bạc,
trái phiếu kho bạc để làm sao có thể khai thác tối đa mọi nguồn lực trong xã hội.
Cần xem xét mối quan hệ giữa lãi suất và doanh lợi chứng khoán để xác
định chính sách lãi suất. Khi thị trờng chứng khoán hoạt động, việc duy trì một
mức lãi suất hợp lý là một điều kiện cần thiết, bằng không những biến động trong
chính sách lãi suất của NHNN tất yếu sẽ dẫn đến những biến động trên thị trờng
tài chính.lãi suất trên thị trờng tiền tệ có ảnh hởng lớn đến việc phát hành và mua
bán chứng khoán trên thị trờng tài chính. Nếu lãi suất ngân hàng trả cho ngời tiết
kiệm cao, ngời gửi sẽ thích gửi tiền vào ngân hàng để hởng lãi suất cao và rủi ro
thấp, hơn là mua chứng khoán với lãi suất thấp nhng rủi ro cao.
Do xu hớng hội nhập vào nền kinh tế khu vực nên việc điều chỉnh lãi suất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status