MỤC LỤC
CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA CÁC NGÂN HÀNG TRUNG
ƯƠNG Ở CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN VÀ Ở VIỆT NAM.
LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới đã và đang trải qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hết sức phức tạp với
sức công phá nặng nề, là nỗi ám ảnh đối với nền kinh tế của nhiều nước. Tất cả các quốc
gia đều đang nỗ lực chèo chống con thuyền của mình vượt bão lớn và Việt Nam cũng
nằm trong số đó. Hàng loạt chính sách và biện pháp đã được đưa ra nhằm tăng trưởng
kinh tế, kìm chế lạm phát, củng cố thị trường, ổn định nền kinh tế vĩ mô. Lãi suất là một
trong những công cụ quan trọng mà Ngân hàng trung ương (NHTW) sử dụng để điều
hành thị trường tiền tệ, thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia. Nhưng sự tác động
của công cụ này ở mỗi quốc gia luôn khác nhau bởi nó phụ thuộc vào các yếu tố như thực
trạng nền kinh tế, mức phát triển thị trường tiền tệ.
Trước đây đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về lãi suất, trong đề tài nghiên cứu lần này
chúng tôi chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu các cơ chế điều hành lãi suất của các quốc gia
phát triển trên thế giới cũng như tại Việt Nam, qua đó thấy được sự điều hành khác nhau
giữa các quốc gia và những hạn chế trong cơ chế tại Việt Nam. Để hiểu rõ hơn về cơ chế
điều hành lãi suất trước tiên ta tìm hiểu những khái niệm cơ bản về cơ chế điều hành lãi
suất và hình thức điều hành lãi suất ở các quôc gia.
Thông qua phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cũng như thu thập và
phân tích số liệu, chúng tôi sẽ trình bày nội dung đề tài trong ba chương:
Chương I : Lý luận cơ bản về cơ chế điều chỉnh lãi suất.
Chương II: Thực trạng điều hành lãi suất ở các nước và Việt Nam.
Chương III: Nhận xét và một số kiến nghị.
Chương I. TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT
I. KHÁI NIỆM CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT:
Cơ chế điều hành lãi suất là hệ thống các nguyên tắc, cách thức quản lý và điều hành lãi
suất của ngân hàng trung ương của một nước hay nhóm các nước liên minh nhằm hướng
lãi suất thị trường về lãi suất mục tiêu để thực hiện chính sách tiền tệ.
II. CÁCH THỨC ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT Ở CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT NAM.
1. Cách thức điều hành lãi suất ở các nước phát triển
suất cho vay tại các cửa sổ chiết khấu gọi là lãi suất chiết khấu (discount rate) thông thường
cao hơn lãi suất quỹ dự trữ liên bang khoảng 0.5% đến 1%. Đây chính là chức năng “người
cho vay cuối cùng” (lender of last resort - LOLS) của một ngân hàng trung ương.
Nếu vay trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất sẽ do hai bên thỏa thuận và lãi suất trung
bình trên thị trường này hàng ngày sẽ được 16 NHTM lớn nhất Mỹ báo cáo cho BBA
(British Bankers Association) để tổ chức này tính lãi suất liên ngân hàng trung bình cho
ngày hôm đó rồi công bố trên thị trường tài chính với cái tên LIBOR. Về mặt lý thuyết,
LIBOR cho thị trường liên ngân hàng của Mỹ sẽ phải thấp hơn lãi suất chiết khấu của
FED vì nếu cao hơn thì các NHTM sẽ quay về vay tiền của FED từ cửa sổ chiết khấu.
Trên thực tế các NHTM thường tránh không vay từ cửa sổ chiết khấu vì họ không muốn
bị mang tiếng là tình hình thanh khoản và mức độ rủi ro tín dụng quá xấu đến mức không
vay được trên thị trường liên ngân hàng nữa mà buộc phải quay về “người cho vay cuối
cùng” cầu cứu. Bởi vậy trong những giai đoạn khủng hoảng tài chính đôi khi LIBOR cao
hơn discount rate, nhưng nhìn chung lãi suất này thường thấp hơn discount rate và có thể
coi discount rate là lãi suất trần của LIBOR trên thị trường liên ngân hàng.
3
Ngược lại LIBOR thường cao hơn lãi suất dự trữ liên bang khoảng 0.1% (tuy cũng có
lúc tăng lên đến 0.7%) vì các NHTM khi cho vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng
luôn tính đến rủi ro tín dụng khi đối tác của mình không trả được nợ. Chính cái khoảng
chênh lệch 0.1% giữa LIBOR và lãi suất dự trữ liên bang là rủi ro tín dụng mà các
NHTM cộng thêm vào khi cho các NHTM khác vay liên ngân hàng để quản lý rủi ro
thanh khoản. Sở dĩ khi cho vay quỹ dự trữ (sẽ được giữ trên tài khoản tại FED) các
NHTM không tính đến rủi ro tính dụng vì đối tác không được rút quỹ dự trữ về cho các
mục đích thanh khoản nên kể cả khi đối tác phá sản số tiền cho vay dưới dạng quỹ dự trữ
cũng không bị mất. Điều đó có nghĩa là lãi suất quỹ dự trữ liên bang là lãi suất sàn cho
LIBOR trên thị trường liên ngân hàng.
Như vậy, trong hệ thống ngân hàng của Mỹ, lãi suất liên ngân hàng LIBOR mà các
NHTM vay để quản lý thanh khoản thường dao động trong khoảng giữa lãi suất dự trữ và
lãi suất chiết khấu là hai công cụ chính sách mà FED quản lý được trực tiếp. Vì gần như
tất cả các loại lãi suất thương mại khác đều lấy LIBOR làm chuẩn nên khi FED thay đổi
- Lãi suất tái chiết khấu: lãi suất tái chiết khấu là lãi suất thực hiện trên cơ sở đối
tượng là các giấy tờ có giá. VD: Hối phiếu, lệnh phiếu, Trái phiếu , Các ngân hàng
sẽ chấp nhận trả tiền cho người cầm (hoặc sở hữu các giấy đó để đổi lại một khoản
lời mà ta gọi là lãi suất chiết khấu và thu lại khoản tiền của họ đối với người thanh
toán ghi trên đó khi đến hạn. Các ngân hàng này lại cần tiền nhưng các giấy tờ đó
chưa đến hạn thanh toán họ bán lại các khoản sẽ thu này cho NH TW để đổi lấy tiền
mặt và bớt lại cho NHTW một khoản, ta gọi đó là lãi suất tái chiết khấu.
- Lãi suất tái cấp vốn: Cũng gần giống như hình thức của lãi suất tái chiếu khấu đối
tượng ở đây là các khoản cho vay của các NH TM, và sau đó họ bán lại các khoản
này cho NH TW để đổi lấy lương tiền mặt gọi là lãi suất tái cấp vốn.
Thông qua ba loại lãi suất trên Ngân hàng nhà nước Việt Nam điều hành sẽ tác động trực
tiếp đến lãi suất vay mượn trên thị trường. Luật Ngân hàng quy định lãi suất cho vay của
các NHTM và các tổ chức tín dụng không được vượt quá 150% so với lãi suất cơ bản mà
5
Ngân hàng nhà nước công bố. Do đó với một mức thay đổi lãi suất cơ bản bất kỳ của
Ngân hàng nhà nước sẽ tác động trực tiếp và ngay lập tức đến các lãi suất trên thị trường.
Chương II. THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT Ở CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN
VÀ Ở VIỆT NAM.
I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT Ở CÁC NƯỚC
PHÁT TRIỂN VÀ Ở VIỆT NAM.
1. Đặc điểm chung cơ chế điều hành lãi suất ở các nước phát triển
• Mỗi nước có một tên gọi khác nhau đặt cho lãi suất của NHTW
Căn cứ vào mục tiêu chính sách tiền tệ, căn cứ vào thực trạng hoạt động của hệ thống tài
chính và thực trạng hoạt động của nền kinh tế Ngân hàng Trung ương các nước đưa ra
một mức lãi suất được gọi là lãi suất cơ bản để các lãi suất khác tham chiếu vào tự điều
chỉnh theo. Mỗi nước có một tên gọi khách nhau về lãi suất cơ bản để Ngân hàng trung
ương nước đó công bố (ví dụ ở Mỹ đó là lãi suất quỹ dự trữ liên bang, ở Anh đó là lãi
suất chính thức, ở Nhật đó là lãi suất đồng Yên ) tuy nhiên tất cả đều là công cụ để các
NHTW thực hiện các chính sách điều hành lãi suất.
Lãi suất ở đây được gọi là lãi suất cơ bản vì nó là căn cứ để các loại hình lãi suất khác
suất sàn.
Một điểm rất quan trọng cần lưu ý là để hệ thống này hoạt động trơn chu, FED phải cam
kết bảo vệ lãi suất quỹ dự trữ liên bang và lãi suất chiết khấu thông qua thị trường mở và
cửa triết khấu bất kỳ khi nào lãi suất cho quỹ dự trữ hoặc LIBOR có xu hướng phá vỡ
trần trên thị trường liên ngân hàng. Điều này tương đương với việc FED cam kết thực
hiện chức năng người cho vay cuối cùng cho các NHTM trong mọi trường hợp. Không
chỉ trong những lúc các NHTM lâm vào tình trạng khủng hoảng thanh khoản mà ngay cả
khi hệ thống ngân hàng đang hoạt động bình thường FED vẫn phải thực hiện chức năng
người cho vay cuối cùng cung cấp quỹ dự trữ và thanh khoản cho những NHTM nào có
nhu cầu. Tuy nhiên cơ chế này cần một điều kiện nữa là các NHTM phải nắm giữ một
7
lượng trái phiếu chính phủ đủ lớn để tham gia vào thị trường mở hoặc vay tiền mặt từ cửa
sổ triếu khấu.
Trong giai đoạn đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng cho vay bất động sản dưới chuẩn
(subprime mortgage) vào những tháng cuối năm 2007 và đầu năm 2008, nhiều NHTM
gặp khó khăn về thanh khoản và bắt đầu cạn kiệt trái phiếu chính phủ. Đồng thời rủi ro
tín dụng trên thị trường tăng cao dẫn đến nguy cơ LIBOR vượt ra ngoài giới hạn thông
thường, Đối phó với tình trạng này, FED đã tung ra hai công cụ điều hành tiền tệ hoàn
toàn mới là TAF (Term Auction Facility) và TSLF (Term Securities Lending Facility), về
bản chất là cho phép các NHTM và một số tổ chức tài chính lớn (primary dealers) được
phép dùng các loại trái phiếu thương mại để vay tiền mặt hoặc trao đổi (swap) trái phiếu
thương mại lấy trái phiếu chính phủ từ FED. Mục tiêu cuối cùng của việc đưa ra hai công
cụ tiền tệ mới này là để ổn định tính thanh khoản trong hệ thống tài chính và bảo vệ lãi
suất quỹ dự trữ liên bang và lãi suất chiết khấu trên thị trường liên ngân hàng khi hệ
thống bị khủng hoảng. Cho đến thời điểm này, TAF và TSLF đã có những thành công
nhất định trong việc ổn định thị trường nên FED dự tính sẽ giữ hai công cụ mới này lâu
dài chứ không phải chỉ hạn chế trong khoảng 600 tỷ USD ban đầu.
• Việc điều chỉnh lãi suất của NHTW có tác động trực tiếp đến các trung gian tài
chính, không tác động trực tiếp đến người tiêu dùng và doanh nghiệp.
Hai công cụ lãi suất mà cục dự trữ liên bang Mỹ sử dụng điều chỉnh để thực thi chính
hành chính và ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng cũng như các doanh nghiệp.
Cụ thể như ngày 19/5/2008, Ngân hàng Nhà nước chính thức áp cơ chế cho vay đối với
VND theo lãi suất tối đa 150% lãi suất cơ bản, do đó các Ngân hàng thương mại hoạt
động cho vay không được vượt quá mức 150% lãi suất cơ bản mà Ngân hàng nhà nước
quy định. Như vậy là khi ngân hàng nhà nước công bố lãi suất cơ bản điều chỉnh từ 12%
lên 14% vào tháng 06 năm 2008 thì cùng với đó mức lãi suất tối đa mà các ngân hàng
thương mại có thể cho vay cũng tăng từ 18% lên đến 21%.
Thay vì đặt ra lãi suất mục tiêu cho nền kinh tế và sau đó tiến hành các chính sách để bảo
vệ lãi suất mục tiêu đó thông qua nghiệp vụ thị trường mở để điều hành lãi suất tái chiết
khấu và lãi suất tái cấp vồn, từ đó sẽ tác động ngược trở lại lãi suất vay và cho vay trên
thị trường. Thì ngân hàng nhà nước lại đưa ra lãi suất cơ bản và gần như ấn định luôn cả
lãi suất vay và cho vay trên thị trường. Hơn nữa khi đưa ra mức lãi suất cơ bản ngân hàng
9
nhà nước cũng không hề bảo vệ mức lãi suất đấy, có thể thay đổi bất cứ lúc nào nếu cảm
thấy cần thiết. Mức quy định cho vay không được vượt qua 150% lãi suất cơ bản đưa ra
cũng không có luận chứng khoa học xác thực, gần như đây chỉ là con số ngẫu nhiên.
Ngân hàng nhà nước căn cứ vào đấy buộc các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín
dụng khác phải tuân theo. Và cũng chỉ có các hình phạt hành chính áp dụng khi vi phạm.
Tuy nhiên thực tế cho thấy hầu hết các quan hệ vay mượn tại các NHTM đề không tuân
thủ theo quy định này dưới hình thức này hay hình thức khác mà NHNN không thể kiểm
soát hết được.
• Mức lãi suất cơ bản mà NHNN công bố không công bố cụ thể những thành viên
đưa ra quyết định này.
Kết quả cuối cùng mà khi NHNN công bố mức lãi suất cơ bản chỉ là kết quả cuối cùng
của cuộc họp và không có thành viên nào phải đứng ra chịu trách nhiệm về quyết định
này. Vì thế một khi mức lãi suất đó không điều tiết được thị trường thì NHNN sẵn sàng
hủy bổ, hay thay đổi đến một mức lãi suất khác.
Tuy NHNN Việt Nam cũng họp và công bố lãi suất cơ bản, nhưng lịch họp và công bố lãi
suất cũng chưa được xác định rõ ràng. Còn nhiều thay đổi tùy vào tình hình từng kỳ họp.
Nhà đầu tư không thể chủ động để nắm bắt tình hình được dẫn đến thế bị động theo từng
quý liền trước đó.
Sản xuất công nghiệp của Mỹ suy giảm 4 quý liên tiếp tính từ quý 4/2007. Mức độ sụt
giảm càng về cuối năm 2008 càng mạnh hơn, nếu như quý 1/2008 mới chỉ giảm nhẹ
0,1% thì tới quý 3/2008 đã giảm 1,3%.
Trong hoàn cảnh này chính phủ Mỹ phải hành động để phục hồi lại nền kinh tế, và cắt
giảm lãi suất thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ là một trong những biện pháp được
thực hiện.
11
Ngay từ tháng 02 năm 2008 Fed đã chính thức tuyên bố bước vào chu kỳ nới lỏng, cùng
với số liệu thống kê tăng trưởng GDP Q4 năm 2007 âm, Quốc hội Mỹ đã thông qua một
kế hoạch kích thích tài chính trị giá $168 tỉ dưới hình thức hoàn thuế. Sang tháng 03 năm
2008, với sự kiện Bear Stearns, ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của Mỹ đang đứng trên bờ
vực phá sản, cùng với nhiều biệm pháp nhằm giải cứu Bear Stearns, Ngân hàng liên bang
Mỹ (FED) đã thực hiện cắt giảm lãi suất 02 lần khá mạnh.
- Vào ngày 16/03 /2008: FED cắt giảm lãi suất chiết khấu từ 3,5% xuống còn 3,25%
- Vào ngày 18/03/2008: FED lại tiếp tục cắt giảm lãi suất chiết khấu từ 3,25% xuống
2,25% và cắt giảm lãi suất cơ bản từ 3% xuống 2,25%, giảm 75 điểm phần trăm là một
mức cắt giảm rất mạnh nếu so với mức cắt giảm thông thường trước đây: đa số là tăng
giảm trong biên độ 25 điểm phần trăm, rất ít khi lên tới 50 điểm phần trăm.
Trước đó FED cũng đã có nhiều lần cắt giảm: Mở màn là tháng 9/2007, lần đầu tiên sau 4
năm, Fed đã cắt giảm hẳn 50 điểm phần trăm, từ mức 5,25% xuống mức 4,75%/năm.
Liền sau đó, tháng 11/2007, Fed đã cắt giảm 25 điểm phần trăm, từ mức 4,75% xuống
mức 4,5%/năm. Đến đầu tháng 12/2008, lãi suất đã được cắt xuống 4,25%. Trước đó nữa,
hôm 20/8, Fed cũng đã cắt giảm lãi suất nhưng chỉ là cắt giảm đối với các khoản tiền cho
các ngân hàng vay nhằm giúp giải quyết vấn đề về khả năng thanh khoản. Và đến thời
điểm hiện nay mức lãi suất cơ bản ở Mỹ chỉ giữ khoảng 0% - 0.25% (xem biểu đồ trên).
12
Động thái giảm lãi suất trên sẽ có tác động rất lớn bởi khi Fed cắt giảm lãi suất cho các
ngân hàng vay tiền thì các ngân hàng dễ tiếp cận nguồn tiền hơn, qua đó giúp giải quyết
vấn đề về khả năng thanh khoản để ngăn ngừa nguy cơ khủng hoảng tài chính.
Trung Quốc. Thông qua số liệu thống kê trên ta có thể thấy điều đó.
14
Trước tình hình kinh tế lạm phát cao như vậy, NHTW liên tục điều hành lãi suất cơ bản
nhằm điều tiết thị trường Cuộc điều chỉnh lãi suất năm 2008 lại chủ yếu nhằm kiềm chế
lạm phát đang có xu hướng tăng mạnh thời điểm đầu năm .
Biểu đồ lãi suất cơ bản của NHNN Việt Nam ta có thể thấy hai cột mốc đáng chú ý là:
- Tháng 6/2008, NHNN tăng lãi suất chiết khấu từ 13 lên 15, lãi suất cơ bản từ 12%
lên 14% cùng với đó là biên độ lãi suất cho vay của NHTM có thể lên tới 21%. Việc
tăng lãi suất sẽ khiến lượng tiền trong lưu thông giảm xuống vì người có vốn thay
vì đem vốn đầu tư hoặc mua chứng khoán sẽ mang đến gửi ở ngân hàng nhiều
hơn. Đối với các Doanh nghiệp, việc các tăng lãi suất sẽ khiến họ hạn chế vay vốn
mở rộng đầu tư và sẽ phải tiết kiệm nhiều hơn trong chi tiêu. Chính vì vậy , nó sẽ có
tác dụng giảm lượng tiền trong lưu thông , giúp Nhà nước có thể kiềm chế được lạm
phát ổn định nền kinh tế .
- Đến tháng 10/ 2008: NHNN bắt đầu cắt giảm lãi suất bởi tỷ lệ lạm phát từ tháng 9 có
dấu hiệu được kiểm soát, mức tăng lạm phát sấp xỉ 0%. Và đến tháng 2/2009 lãi
suất cơ bản giảm xuống chỉ còn 7%, như vậy biên độ cho vay tối đa có thể cũng
giảm xuống đến 10,5%. Nhằm giữ mức lạm phát tương đối cho kinh tế phát triển.
15
Chương III. ĐÁNH GIÁ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT VIỆT NAM THỜI GIAN QUA.
I. ƯU ĐIỂM:
- Một là, việc áp dụng kịp thời cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đã phần nào ngăn
chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng thanh toán của các
NHTM trong cuộc khủng hoảng những tháng đầu năm 2008. Khắc phục được tình
trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn giữa các NHTM bằng cách
đẩy lãi suất lên cao, ổn định và hoạt động của các NHTM đảm bảo khả năng thanh
toán, làm lãi suất trong những tháng đầu năm 2009 tương đối ổn định.
- Hai là, các biện pháp điều hành lãi suất đã có hiệu lực và hiệu quả đối với hoạt
động kinh doanh của NHTM và lãi suất thị trường, cụ thể là lãi suất thị trường liên
ngân hàng từ chỗ bị đẩy lên rất cao có lúc lên đên 41%, đã biến động ổn định lại và
Đã có rất nhiều tranh luận xung quanh vấn đề NHNN Việt Nam nên giữ hay không giữ lãi
suất cơ bản hiện nay, để trả lời câu hỏi này trước tiên chúng ta hãy nhìn lại tình hình nền
kinh tế nước ta thời điểm hiện nay và những gì mà lãi suất cơ bản đã và đang thực hiện.
Theo kinh nghiệm của quá trình tự do hoá lãi suất ở các nước và nước ta trong nhiều năm
qua cho thấy điều kiện để tự do hoá lãi suất là kinh tế vĩ mô ổn định, thị trường tài chính
– tiền tệ minh bạch và có chiều sâu, mục tiêu chủ yếu của chính sách tiền tệ là kiểm soát
lạm phát; phát triển hệ thống thanh toán có khả năng kiểm soát được hầu hết các luồng
vốn khả dụng của khu vực ngân hàng, chứng khoán và các định chế tài chính khác; hệ
thống NHTM có năng lực cạnh tranh và khả năng đảm bảo an toàn hoạt động kinh doanh;
ngân sách nhà nước thâm hụt ở mức thấp. Với các điều kiện này, có lẽ nền kinh tế và thị
trường tài chính – tiền tệ của nước ta hiện nay chưa đáp ứng được.
Kể từ khi lãi suất cơ bản ra đời vào tháng 6-2000, lãi suất cơ bản (cộng biên độ) ra đời thay
thế cơ chế lãi suất trần cho vay trước đó. Việc áp dụng lãi suất cơ bản lúc đó được đánh giá là
một tiến bộ lớn và là một bước đệm cho tiến trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam.
Bước sang năm 2007 lạm phát phi mã xảy ra cộng với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu
năm 2008, buộc NHNN phải thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ tạo ra cuộc chạy đua
lãi suất giữa các ngân hàng, đẩy mặt bằng lãi suất huy động và cho vay lên đến đỉnh
điểm. Lãi suất cơ bản nay trở thành một vật cản cho các chính sách tiền tệ và hoạt động
của các tổ chức tín dụng. Với quy định trần lãi suất cho vay không được vượt qua 150%
lãi suất cơ bản (hiện nay là 8%), điều này hạn chế khả năng hoạt động của các NHTM,
17
tuy nhiên NHNN không thể đưa ra lời giải thích khoa học cho mức lãi suất cơ bản mà
mình công bố cũng như cho hạn mức 150% áp dụng này. Đồng thời khi công bố ra thị
trường NHNN cũng không có đủ tiềm lực tác động vào thị trường để bảo vệ mức lãi suất
công bố đó. Giả sử nếu lãi suất cơ bản mục tiêu 8% một năm thì thay vì NHNN phải can
thiệp tiền tệ để đưa lãi suất thị trường về với mức lãi suất này, NHNN cần tăng cường
hoạt động mua vào các giấy tờ có giá trên thị trường mở. Lãi suất tái chiết khấu cũng
phải điều chỉnh để hỗ trợ khả năng can thiệp của NHNN. Tuy nhiên NHNN không có đủ
khả năng để cam thiệp và thị trường tiền tệ như ý muốn.
Thực tế hiện nay là lãi suất cơ bản không phản ánh điều kiện nền kinh tế. Các ngân hàng
ĐHGQ,2009
2. Nguyễn Duệ, Ngân hàng Trung ương, NXB thống kê, 2003
3. Các website:
- http://www fedralreserve.gov
- http://www sbv.gov.vn
- Saga.vn
- vietstock.com.vn
- Diễn đàn vanginfo.com.vn
- VietNamNet.vn
- Vneconomy.vn
4. Các tạp chí:
- Đầu tư tài chính
- Thời báo kinh tế Sài Gòn,
- Tạp chí The Economist
5. Các tài liệu tham khảo khác.
20