Lãi suất tín dụng Ngân Hàng và sự điều hành lãi suất của ngân hàng nhà nước Việt Nam - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của Thế giới ,Việt nam đã và đang từng bước đi lên và đạt
được những thành tựu to lớn đặc biệt là lĩnh vực kinh tế .Với chủ trương của Đảng và
nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng của XHCN
sau hơn 20 năm đổi mới các hoạt động kinh tế đã trở nên khá sôi động và tạo nên sắc
thái mới cho nên kinh tế .Cùng với đà thắng lợi của đất nước trong công cuộc đổi mới
nền kinh tế ngành ngân hàng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu đổi mới của
mình đã tiến được những bước quan trọng trong hệ thống các công cụ quản lý lãi suất
được coi là nhạy cảm nhất nó thực sự là vấn đề nóng bỏng nhất thu hút được nhiều tầng
lớp dân cư trong xã hội .
Lãi suất với tư cách là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ được nhiều
nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu và từ lâu được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng như
một công cụ hữu hiệu điều tiết nền kinh tế .Đặc biệt là trong cơ chế thị trường lãi suất
trở thành công cụ đắc lực để Ngân Hàng Nhà Nước thực thi chính sách tiền tệ nhằm điều
tiết các mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư , lạm phát và tăng trưởng kinh tế ... Trong
từng thời kỳ nhất định cho nên việc thi hành một chính sách lãi suất thích hợp là vô cùng
phức tạp mà vai trò đó thuộc ngân hàng nhà nước .Để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày
càng cao của nền kinh tế thị trường các nghiệp vụ ngân hàng đã không ngừng đổi mới và
phát triển để phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước . Với trọng trách to lớn đó
Ngân Hàng Nhà Nước đã thường xuyên điều chỉnh lãi suất cho phù hợp phát triển khả
năng linh hoạt của các Ngân hàng thương mại .
Xuất phát từ những vấn đề mang tính thời sự của lãi suất trên cơ sở những kiến thức
đã học cùng với những kiến thức trong khuân khổ tài liệu cho phép , em xin trình bày đề
tài :“ Lãi suất tín dụng Ngân Hàng và sự điều hành lãi suất của ngân hàng nhà nước
Việt Nam” Bàn về lãi suất có nhiều vấn đề đề cập song trong khuân khổ của một đề án
và kiến thức có hạn, em chỉ đề cập đến một số vấn đề cơ bản nhất.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo PGS –TS Lê Đức Lữ đã giúp đỡ em hoàn
thành đề án này. Trong quá trình nghiên cứu về đề tài trên, do trình độ và khả năng có
hạn nên bài viết này không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự góp
ý của các thầy cô giáo để hoàn thành tốt đề án này.
1 .NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÃI SUẤT TÍN DỤNG

quả của số vốn cho vay phát ra.Vì vậy,trong kinh doanh tiền tệ,lơi tức luôn luôn
được so sánh với số vốn cho vay để xác định khả năng sinh lời của từng loại vốn
cho vay trên thị trường.chỉ tiêu đánh giá hiệu quả này chính là lãi suất tín dụng.
1.2.Khái niệm về lãi suất tín dụng
Một trong những đặc trưng của tín dụng là sau một thời gian nhất định người
sử dụng phải hoàn trả cho người chuyển nhượng một lượng giá trị lớn hơn giá trị
ban đầu. Phần giá trị lớn hơn chính là lợi tức tín dụng. Lợi tức tín dụng chính là
phần người đi vay phải trả cho người cho vay.Lợi tức tín dụng được coi như là một
hình thái bí ẩn của giá cả vốn vay,vì nó phải trả cho giá trị sử dụng của vốn vay(đó
chính là khả năng đầu tư sinh lời hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng).Lợi tức tín dụng
cũng biến động theo quan hệ cung cầu trên thị trường vốn như giá cả hàng hoá
thông thường. Nhưng lợi tức tín dụng chỉ là hình thái bí ẩn của giá cả vốn vay mà
theo mức đó là hình thái giá cả phi lý,vì nó chỉ phải trả cho giá trị sử dụng mà
không phải là quyền sở hữu cũng không phải quyền sử dụng vĩnh viễn mà chỉ là
trong một thời gian nhất định hơn nữa lợi tức tín dụng cũng không phải là biểu
hiện bằng tiền của giá trị vốn vay như giá cả hàng hoá thông thường mà nó độc lập
tương đối hay nhỏ hơn nhiều so với giá trị vốn vay. Lợi tức tín dụng là số tuyệt đối
nên để biểu hiện một cách tổng quát về lợi tức tín dụng người ta sử dụng chỉ tiêu
tương đối là lãi suất tín dụng .
Lãi suất tín dụng là tỷ lệ % giữa số tiền mà người đi vay phải trả cho người cho
vay (lợi tức) trên tổng số tiền vay sau một thời gian nhất định sử dụng số tiền vay
đó.Lãi suất tín dụng có thể được tính theo tháng hoặc năm ( ở Việt Nam thường
công bố theo tháng còn hầu hết các nước công bố theo năm)
Tuỳ theo từng hình thức tín dụng mà người ta phân biệt lãi suất tín dụng thành
các loại khác nhau với những qui địng cụ thể khác nhau.
Lãi suất tín dụng thương mại tính trên cơ sở giá giữa việc trả tiền ngay với
việc kéo dài thời gian trả tiền. người ta thông báo cho người mua biết có thể mua
chịu hoặc trả tiền ngay và néu trả tiền ngay có thể giảm giá 2%.
Lãi suất tín dụng nhà nước chính là lãi suất các trái phiếu,tín phiếu theo công bố
khi nhà nước phát hành trái phiếu tín phiếu.lãi suất này có thể cố định trong suốt

Nó được tính như sau:
Lãi suất
TDTM
=
Giá cả hàng hoá
bán chịu -
Giá cả hàng hoá
bán trả tiền ngay
Giá cả hàng hoá bán chịu
* 100%
- Lãi suất tiền gửi : là lãi suất trả cho các khoản tiền gửi .Nó được áp dụng để
tính tiền lãi phải trả cho người gửi tiền .
- Lãi suất tiền vay: là lãi suất người đi vay phải trả cho Ngân hàng do việc sử
dụng vốn vay của Ngân hàng . Nó được áp dụng để tính lãi mà khách hàng
phải trả cho Ngân hàng .
- Lãi suất chiết khấu : áp dụng khi Ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình
thức chiết khấu thương phiếu hoặc giấy tờ có giá trị khác chưa đến hạn
thanh toán của khách hàng . Nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của
giấy tờ có giá trị và được khấu trừ ngay khi Ngân hàng phát tiền vay cho
khách hàng.
- Lãi suất tái chiết khấu: Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất Ngân Hàng Nhà
Nước (NHNN) cho các tổ chức tín dụng vay trên cơ sở những chứng từ có
giá của ngân hàng thương mại. Đây là lãi suất phạt đối với ngân hàng
thương mại khi thiếu hụt khả năng thanh toán. NHNN thông qua lãi suất tái
chiết khấu tác động vào lãi suất thị trường.
Thí dụ, việc NHNN nâng lãi suất tái chiết khấu buộc các ngân hàng thương
mại phải tăng dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán. Đồng thời ngân hàng thương
mại cũng phải tăng lãi suất cho vay để bù đắp những chi phí cho những khoản tăng
thêm dự trữ, do vậy mà lãi suất thị trường tăng lên. Ngược lại, việc giảm lãi suất tái
chiết khấu của NHNN cho phép các ngân hàng thương mại giảm dự trữ và hạ lãi

- Lãi suất cố định : là lãi suất áp dụng cố định trong suất thời hạn vay .
Nó có ưu điểm : Người gửi tiền và vay tiền biết trước số tiền lãi được trả
và phải trả .Bên cạnh đó nó có nhược điểm bị ràng buộc vào một lãi suất
nhất định trong một thời hạn nào đó dù cho các loại lãi suất khác thay đổi
như thế nào .
- Lãi suất thả nổi : Là lãi suất có thể thay đổi lên xuống và có thể báo trước
hoặc không báo trước.
Lãi suất thả nổi có lợi cho cả hai bên khi nhận và trả tiền đều tính theo
một lãi suất chung là lãi suất hiện tại
1.3.5 .Căn cứ vào cách tính lãi :
Lãi suất được chia làm 2 loại lãi đơn và lãi kép
- Lãi suất đơn là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suất kỳ hạn vay
Công thức tính : I = C
0
. i . n
Trong đó : I số tiền lãi
C
0
vốn gốc
i là lãi suất
n số kỳ
Trong đó thời kỳ gửi vốn phải tương đương với thời kỳ của lãi suất
- Lãi suất kép : là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu được
trong thời hạn sử dụng tiền vay
Công thức : C = C
0
( 1+i)
n
Trong đó : C số tiền thu được theo lãi gộp sau n kỳ
C

- Những yếu tố tác động đến cầu tiền vay:
+ Mức lợi tức kì vọng của các cơ hội đầu tư: Khi mức lợi tức này tăng
làm tăng nhu cầu về vốn đầu tư,cầu tiền vay tăng đẩy lãi suất lên cao.
+ Mức lạm phát: Sự gia tăng lạm phát làm giảm chi phí thực tế của việc
sử dụng tiền vay,cầu về tiền vay tăng đẩy lãi suất lên cao.
+ Mức bội chi ngân sách nhà nước: ngân sách nhà nước bội chi làm tăng
cầu tiền vay dẫn đến lãi suất tăng.
Khi cung tiền vay nhỏ hơn cầu tiền vay thì lãi suất tăng và ngược lại.Khi cung
tiền vay bằng cầu tiền vay thì lãi suất ổn định.
1.4.2.Căn cứ vào thời hạn cho vay:
Lãi suất Lãi suất Lãi suất
tín dụng < tín dụng < tín dụng
ngắn hạn trung hạn dài hạn
1.4.3.Căn cứ vào cơ chế lãi suất dương:
Tỷ lệ Lãi suất Lãi suất Tỷ suất
lạm phát < huy động < cho vay ≤ lợi nhuận
bình quân vốn bình quân bình quân bình quân.
1.5.Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng:
- Cung và cầu về tiền vay
Như phần trên đã đề cập, cung-cầu tiền vay có ảnh hưởng đến sự biến động lãi
suất
- Mức độ rủi ro trong việc hoàn trả vốn:
Khi mức độ rủi ro càng cao thì người ta sẽ tính lãi suất càng cao và ngược
lại.Do đó,tuỳ theo điều kiện đảm bảo và mức độ bảo toàn vốn vay của các khoản
tiền vay mà lãi suất có thể cao hay thấp.
- Số lượng vay và thời hạn vay:
Thông thường số lượng lớn và thời hạn vay dài sẽ được tính lãi suất cao hơn số
lượng nhỏ và thời hạn ngắn vì mức độ rủi ro thường cao hơn.
- Mức sinh lời của nền kinh tế:
Mức lãi suất cho vay chỉ được chấp nhận khi nó nhỏ hơn mức sinh lời của nền

1.6.1.Lãi suất tín dụng là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô:
Lãi suất tạo nên khoản chi phí của người đi vay vì vậy sự biến động của lãi
suất có tác động đến đầu tư đến tiêu dùng qua đó tác động đến các mục tiêu của
nền kinh tế vĩ mô biểu hiện trong các trường hợp :
- Lãi suất thấp → kích thích đầu tư , kích thích tiêu dùng → tăng tổng cầu → sản
lượng tăng, giá tăng, thất nghiệp giảm→ nội tệ có xu hướng giảm giá so với
ngoại tệ .
- Lãi suất cao→ hạn chế đầu tư , hạn chế tiêu dùng→ giảm tổng cầu → sản lượng
giảm →giảm giá→ thất nghiệp tăng→ nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại
tệ
Tăng hay giảm lãi suất cho vay,sẽ làm vốn của doanh nghiệp giảm xuống hay
tăng lên . Như vậy quyết định đến việc thu hẹp hay mở rộng sản suất .Tình trạng
này sẽ dẫn đến số lượng công việc làm trong xã hội tăng lên hay giảm xuống .Điều
đó có nghĩa rằng,lãi suất tín dụng đã có ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết
tình trạng thất nghiệp trong xã hội
Mặt khác, tăng hay giảm lãi suất tiền gửi ,đặc biệt là lãi suất tái chiết khấu sẽ
có ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng ngoại tệ đi vào trong nước .Do đó sẽ ảnh
hưởng đến cung cầu ngoại tệ dẫn đến sự thay đổi tỷ giá và quan hệ xuất nhập khẩu
trong từng thời kỳ.
Như vậy,có thể khẳng định lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô.
1.6.2.Lãi suất tín dụng là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô.
Trong nền kinh tế,thường xảy ra những đột biến ở từng khu vực hay trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân do những nguyên nhân không lường trước được . Khi
xảy ra những hiện tượng như vậy chính phủ thường sử dụng những công cụ kinh tế
trong đó có lãi suất tín dụng để điều chỉnh lại những quan hệ tạo điều kiện cho
kinh tế khu vực,ngành hay toàn bộ nền kinh tế phát triển .Chẳng hạn,trong điều
kiện lạm phát ,chính phủ có thể tăng lãi suất tiền gửi để rút bớt tiền trong lưu thông
về , hoặc có thể áp dụng mức lãi suất khác nhau giữa các khu vực , để điều hoà lưu
thông tạo mặt bằng giá cả hợp lý, đảm bảo cho sản suất và lưu thông hàng hoá phát
triển.

Như vậy có thể khẳng định lãi suất là công cụ can thiệp có hiệu lực để phân
chia giữa quỹ tiêu dùng và tiết kiệm .Nhưng nâng lãi suất huy động vốn đến mức
độ nào ,thì cần phải cân nhắc thận trọng để đảm bảo sự phát triển hài hoà của nền
kinh tế quốc dân.
1.6.5 Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế
Người ta thấy rằng trong giai đoạn đang phát triển của nền kinh tế lãi suất có
xu hướng tăng do cung cầu quỹ cho vay đều tăng trong đó tốc độ tăng của cầu quỹ
cho vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay.
Ngược lại ,trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tế lãi suất có xu hướng
giảm xuống
Do vậy ,thông thường nhìn vào xu hướng biến động của lãi suất ta thấy được
tình trạng sức khoẻ của nền kinh tế .
Lãi suất là biến số thường xuyên biến động trong nền kinh tế . Căn cứ vào sự
biến động đó của lãi suất người ta có thể dự báo được các yếu tố khác của nền kinh
tế như tính sinh lời của các cơ hội đầu tư , mức lạm phát dự tính mức thiếu hụt của
ngân sách người ta có thể dựa vào lãi suất trong một thời kỳ để dự báo tình hình
kinh tế trong tương lai .
2.CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CỦA
NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
Lãi suất là công cụ có ý nghĩa khi thực hiện chính sách tiền tệ, NHNN sẽ căn
cứ vào thực trạng của nền kinh tế để quy định một số chỉ tiêu lãi suất áp dụng trong
toàn hệ thống ngân hàng. Thông thường, người ta thường quy định hai chỉ tiêu cơ
bản là lãi suất cơ bản và lãi suất tái chiết khấu.
2.1. Lãi suất cơ bản:
Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các loại lãi suất khác
hình thành trong nền kinh tế thị trường. Đó là loại lãi suất chiếm vị trí quan trọng
trong cơ chế thị trường.
Lãi suất cơ bản do NHNN xác định và công bố trên cơ sở tình hình thực tế
của thị trường và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.
Lãi suất cơ bản có một số chức năng nhất định. Nó là công cụ để điều hành

động đến lãi suất kinh doanh của các TCTD.
Lãi suất chiết khấu chủ yếu ảnh hưởng đến cung ứng tiền tệ bằng cách ảnh
hưởng đến khối lượng cho vay chiết khấu và cơ số tiền tệ. Một sự tăng lên trong
cho vay chiết khấu sẽ làm tăng cơ số tiền tệ và tăng cung ứng tiền tệ. Còn một sự
giảm xuống trong cho vay chiết khấu sẽ làm giảm bớt cơ số tiền tệ và thu hẹp cung
ứng tiền tệ.
Ngoài việc sử dụng làm công cụ để tác động đến cơ số tiền tệ và cung ứng tiền
tệ, lãi suất chiết khấu còn được sử dụng để giúp cho việc tránh khỏi những cơn sụp
đổ tài chính vì ngân hàng đóng vai trò là người cho vay cuối cùng. NHNN đóng
vai trò là người cho vay cuối cùng không chỉ cho các NHTM mà còn cho cả hệ
thống tài chính nói chung. NHNN cung cấp dự trữ cho hệ thống ngân hàng khi các
ngân hàng bị đe doạ phá sản, do đó ngăn chặn xảy ra những cơn sụp đổ ngân hàng
và tài chính.
Lãi suất chiết khấu có hai tác dụng: tác dụng về lượng đối với khối lượng tiền tệ
trong lưu thông và tác dụng về giá đối với cơ cấu lãi suất trong nền kinh tế.
Tác dụng về lượng: Việc phân tích quá trình tạo tiền đã cho thấy các NHTM
sau khi tạo ra tiền ghi sổ còn phải tiền trung ương để đảm bảo. Nhu cầu này khiến
họ phải đi vay ở NHNN bằng cách tái chiết khấu một phần chứng từ có giá của
mình. Việc tái cấp vốn của NHNN cho các NHTM có tác dụng về lượng đối với
khối lượng tiền tệ vì nó dẫn đến việc phát hành tiền của NHNN cho các NHTM để
họ có thể chi trả cho việc rút vốn khỏi các NHTM.

Trích đoạn Định hướng:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status