Khúa lun tt nghip
LờI CảM ƠN
Trang
Trong quá trình hoàn thành khóa luận, ngoài sự nỗ lực
của bản thân, ngời viết đã nhận đợc sự quan tâm, giúp đỡ
của các thầy cô giáo trong khoa, đặc biệt là sự hớng dẫn, dẫn
dắt chu đáo, nhiệt tình của thầy giáo Nguyễn Văn Đại ngời trực tiếp hớng dẫn tôi hoàn thành khóa luận.
Với tình cảm chân thành, cho phép ngời viết đợc gửi
lời cảm ơn tới tất cả các thầy cô giáo trong khoa, đặc biệt là
thầy giáo Nguyễn Văn Đại.
Do trình độ, kiến thức của ngời viết còn hạn khoa học
nên chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhân
đợc lời góp ý của thầy cô giáo và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên:
Trịnh Thị
Huyền
MC LC
A - M U
Trnh Th Huyn
1
1
Lp 48 B2 Lut
6
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HỌC THUYẾT “TAM QUYỀN
PHÂN LẬP” VÀ SỰ VẬN DỤNG GIÁ TRỊ NỘI DUNG HỌC
THUYẾT VÀO TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY
6
NHÀ NƯỚC TƯ SẢN
1.1. Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết
“tam quyền phân lập”
1.1.1. Giới thiệu khái quát về nhà tư tưởng chính trị vĩ đại Montesquieu
1.1.2. Hoàn cảnh ra đời của học thuyết “tam quyền phân lập”
6
6
9
1.1.3. Ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết “tam quyền phân lập”
11
1.2. Nội dung cơ bản của học thuyết “tam quyền phân lập” về tổ chức
14
và hoạt động của bộ máy Nhà nước nói chung
1.2.1. Nội dung về tính phân quyền trong tổ chức hoạt động của Bộ
máy Nhà nước
Kết luận chương 1
32
Chương 2: VẬN DỤNG HỌC THUYẾT “TAM QUYỀN PHÂN
33
LẬP” ĐỂ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Khái quát về Nhà nước pháp quyền XHCN
33
2.1.1. Tính tất yếu khách quan về sự ra đời của Nhà nước XHCN
33
2.1.2. Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền – quy luật phát triển của
35
Nhà nước XHCN
2.1.3. Các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
Nhà nước pháp quyền XHCN
2.2. Vận dụng học thuyết “tam quyền phân lập” trong tổ chức và hoạt
động của Nhà nước ta hiện nay
2.2.1. Một số tư tưởng cốt lõi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
2.2.2. Nguyên tắc thống nhất quyền lực và phân công, phối hợp giữa
Kết luận chương 2:
89
C - PHẦN KẾT LUẬN
90
91
D - DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A - MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Có thể nói trong lịch sử các học thuyết chính trị của nhân loại, các học thuyết
về Nhà nước luôn giữ vị trí quan trọng nhất. Trong các học thuyết ấy thì học thuyết
về quyền lực Nhà nước, về việc tổ chức và thực hiện quyền lực giữ vị trí cơ bản và
trọng yếu, chúng bao giờ cũng để lại dấu ấn trong các thể chế chính trị nhất định.
Vì vậy, nghiên cứu lịch sử các học thuyết chính trị mang lại một ánh sáng cần thiết
cho việc nghiên cứu nền chính trị và các thể chế chính trị đương đại.
Học thuyết phân chia quyền lực Nhà nước có mầm mống xa xưa trong lịch sử,
từ thời cổ đại. Chúng ta có thể tìm thấy những nét đại cương của nó trong tổ chức
và hoạt động của bộ máy Nhà nước Hy Lạp, La Mã thời kỳ cổ đại, trong các quan
điểm chính trị của Aristote, Polybe... Sau đó, học thuyết này được các nhà tư tưởng
tư sản thế kỷ XVII – XVIII, điển hình là John Locke và Montesquieu kế thừa, phát
triển và hoàn thiện nó, coi đó là cơ sở bảo đảm quyền lực nhân dân và chống chế
độ độc tài, chuyên chế. Montesquieu phát triển một cách toàn diện học thuyết phân
quyền và sau này khi nhắc tới học thuyết “tam quyền phân lập” là nhắc tới tên tuổi
của ông. Nó được áp dụng trong việc tổ chức bộ máy Nhà nước của nhiều nước trên
thế giới ở các mức độ khác nhau, được ghi nhận một cách trang trọng trong các bản
Tuyên ngôn và Hiến pháp của một số nước. Thậm chí, có nước đã coi phân quyền là
bộ máy Nhà nước theo mục tiêu ấy được Đảng và Nhà nước ta khẳng định trong
những văn kiện quan trọng nhất của đất nước. Đó là mục tiêu hoàn toàn đúng đắn
và phù hợp với xu thế tất yếu của thời đại - xu thế phát triển dân chủ và tiến bộ xã
hội. Với mong muốn góp phần vào công cuộc hoàn thiện xây dựng, tổ chức và hoạt
động của bộ máy Nhà nước ta, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Học thuyết “tam quyền
phân lập” và sự vận dụng vào tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Việt
Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Học thuyết “tam quyền phân lập” được nghiên cứu từ lâu và ở nhiều nước trên
thế giới như Anh, Mỹ, Nga, ... Còn ở nước ta, việc tìm hiểu cũng như sự vận dụng
nó vào tổ chức bộ máy Nhà nước cho đến nay mới dừng ở mức độ khái quát nên
chưa có tác giả nào trình bày cụ thể và có hệ thống về vấn đề này. Hiện tại, mới chỉ
Trịnh Thị Huyền
5
Lớp 48 B2 – Luật
Khóa luận tốt nghiệp
một số công trình đề cập đến nó như: “Thuyết “tam quyền phân lập” và bộ máy
Nhà nước Tư sản hiện đại” của Viện Thông tin Khoa học xã hội; “Thử bàn lại học
thuyết phân chia quyền lực” của PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung; “Luật Hiến pháp và
các định chế chính trị” của Lê Đình Chân. Các tác phẩm trình bày khái quát về cội
nguồn của thuyết “tam quyền phân lập”, nội dung của nó, các quan điểm khác nhau
về thuyết này, thực tế áp dụng thuyết “tam quyền phân lập” trên thế giới và yêu
cầu phải có sự phân công phân nhiệm giữa các cơ quan Nhà nước Việt Nam.
Song, chưa có tác giả nào trình bày một cách cụ thể và có hệ thống về lịch sử của
học thuyết “tam quyền phân lập” cũng như sự thể hiện và áp dụng học thuyết này
trong thực tiễn tổ chức bộ máy Nhà nước trên thế giới và ở Việt Nam. Phải chăng
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Khóa luận nghiên cứu và lý giải các vấn đề sau:
Một là: Sự xuất hiện và phát triển của học thuyết này trong lịch sử thể hiện
qua thực tiễn tổ chức bộ máy Nhà nước của một số nước, qua quan điểm của một
số nhà tư tưởng của các thời đại và một số cách hiểu về sự phân quyền, nội dung
và ý nghĩa phương pháp luận của học thuyết “tam quyền phân lập”.
Hai là: Sự thể hiện và áp dụng học thuyết phân quyền trong tổ chức bộ máy Nhà
nước ở một số nước tư sản đại diện cho các mức độ áp dụng khác nhau cũng như
sự vận dụng các giá trị đúng đắn, khoa học, khách quan trong Nhà nước XHCN và
cụ thể ở Nhà nước ta hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của khóa luận bao gồm:
Thứ nhất: Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề Nhà nước
Thứ hai: Quan điểm của ĐCSVN, Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
Trong quá trình nghiên cứu các vấn đề trên, tôi chủ yếu dựa vào phương
pháp thu thập và xử lý thông tin, tư liệu. Khi xử lý, tôi sử dụng kết hợp các phương
pháp cụ thể: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và so sánh giữa các quan điểm, các
tài liệu, các ý kiến, nhận xét khác nhau của nhiều tác giả về cùng một vấn đề.
6. Những đóng góp mới về khoa học của khóa luận
Khóa luận làm sáng tỏ lịch sử hình thành, phát triển, nội dung, giá trị lý luận,
thực tiễn và hạn chế của học thuyết “tam quyền phân lập”. Qua đó, góp phần bổ
Trịnh Thị Huyền
7
Lớp 48 B2 – Luật
B – PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ HỌC THUYẾT “TAM QUYỀN PHÂN LẬP” VÀ SỰ
VẬN DỤNG GIÁ TRỊ NỘI DUNG HỌC THUYẾT VÀO TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TƯ SẢN
1.1. Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa phương pháp luận của học
thuyết “tam quyền phân lập”
1.1.1. Giới thiệu khái quát về nhà tư tưởng chính trị vĩ đại Montesquieu
Charles de Secondat Montesquieu (1689 – 1755) – nhà triết học khai sáng,
nhà tư tưởng chính trị, nhà kinh tế học, nhà xã hội học và nhà sử học người Pháp.
Ông là nhà tư tưởng có dòng dõi quý tộc, sinh ngày 18 tháng 1 năm 1689 tại lâu
đài La Brét ở Tây – Nam nước Pháp. Cha ông là Giắc đơ Sơcôngđa – một quý tộc
bị sa sút và đã có thời gian làm đại úy vệ kỳ binh, sau đó lui về ở ẩn cho đến năm
1713 thì qua đời. Khi Montesquieu lên 7 tuổi thì mẹ ông mất. Montesquieu chịu
ảnh hưởng nhiều của người chú ruột – Giăng đơ Sơcôngđa, người đã từng là Chủ
tịch Nghị viện Boóc đô. Năm 1714, Montesquieu vào làm việc tại Viện Boócđô và
hai năm sau, ông trở thành nam tước De Montesquieu – Chủ tịch Nghị viện
Boócđô. Năm 1716, Montesquieu trở thành thành viên Viện Hàn lâm Khoa học
Boócđô.
Khí chất của chàng thanh niên Montesquieu ham tìm tòi, suy nghĩ với lòng
khát khao hiểu biết trên nhiều lĩnh vực đồng thời lại trực tiếp tiếp xúc với thực tiễn
chính trị – xã hội của thời đại ở một giai đoạn được coi là có sự bùng nổ của các
cuộc đấu tranh quyết liệt chống phong kiến đã sớm nung nấu tinh thần của nhà triết
Trịnh Thị Huyền
9
Lớp 48 B2 – Luật
10
Lớp 48 B2 – Luật
Khóa luận tốt nghiệp
Trong học thuyết của mình, Montesquieu nêu ra nguyên tắc phân quyền: lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, nghị viện giữ quyền lập pháp, nhà vua giữ
quyền hành pháp và các quan tòa giữ quyền tư pháp. Các nghành này độc lập với
nhau nhưng kiểm soát lẫn nhau, giai cấp tư sản nắm giữ cơ chế này trong xã hội.
Nguyên tắc phân quyền này của ông đã được thực hiện sau cuộc cách mạng tư sản
Pháp 1789 - 1794 và là định hướng cho nhiều nhà tư sản trên thế giới sau này.
Học thuyết của Montesquieu không chủ trương lật đổ chế độ phong kiến
bằng cách mạng mà chỉ là những cải cách cho phù hợp với đòi hỏi và quyền lợi của
giai cấp tư sản. Như vậy, ông không phải là người theo thuyết dân chủ mà theo
thuyết tự do. Nhưng trong bối cảnh chế độ phong kiến tàn bạo lúc đó, tư tưởng của
Montesquieu thể hiện tính chất tiến bộ và có giá trị tinh thần to lớn đối với các tầng
lớp nhân dân.
Những năm cuối đời, Montesquieu sống trong lâu đài của mình và tại đây,
ông đã viết thêm một số tác phẩm khác, như Lyđimác (1751), Acxat và Ixmêni
(1754). Khi đó, ông đã trở nên nổi tiếng và được kính trọng.
Trong thời gian đó, ông đã phải chịu đựng sự hành hạ thân xác một cách
khủng khiếp do bệnh tật ngày một nặng thêm, nhưng ông vẫn sống và hoạt động
với một nghị lực hiếm có. Ông đã qua đời tại Paris ngày 10 tháng 2 năm 1755 và
để lại nhiều nguyên cảo, trong đó có tập “Những tư tưởng của tôi”.
Với tất cả những cống hiến lý luận của mình, Montesquieu xứng đáng được
tôn vinh là một trong những nhà tư tưởng lớn trong lịch sử tư tưởng nhân loại thế
kỷ XVIII, là nhà triết học khai sáng Pháp nổi tiếng với tư tưởng đề cao “tam quyền
phân lập” luôn thể hiện ý chí và khát vọng xây dựng một xã hội mới mà ở đó,
Ban Nha… thi nhau xâm chiếm thuộc địa, khai thác tài nguyên thiên nhiên của các
nước kém phát triển, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa của mình. “Giờ đây, lần
đầu tiên người ta đã thực sự phát hiện ra trái đất và đặt nền móng cho nền thương
nghiệp thế giới sau này và đại công nghiệp hiện đại”.
Đồng thời với sự phát triển của sản xuất và thương nghiệp, trong xã hội Tây
Âu, thời kỳ này, sự phân hóa giai cấp ngày càng rõ rệt. Tầng lớp tư sản xuất hiện
gồm các chủ xưởng công trường, xưởng thợ, chủ thuyền buôn… vai trò và vị trí
của họ trong kinh tế và xã hội ngày càng lớn. Hàng loạt nông dân từ nông thôn di
cư đến các thành phố, trở thành người làm thuê cho các công trường, xưởng thợ.
Họ là tiền thân của giai cấp công nhân sau này. Các tầng lớp xã hội trên đại diện
Trịnh Thị Huyền
Lớp 48 B2 – Luật
12
Khóa luận tốt nghiệp
cho một nền sản xuất mới, cùng với nông dân đấu tranh chống chế độ phong kiến
đang suy tàn.
Những mầm mống của nền sản xuất TBCN xuất hiện trước tiên ở Italia, nước
được coi là quốc gia tư bản sớm nhất ở Tây Âu. Với nền văn hóa phục hưng phát
triển rực rỡ trong suốt thế kỷ XIV - XV, Italia trở thành trung tâm của vũ đài lịch
sử thế giới, tiêu biểu cho nền văn minh nhân loại thời kỳ này. Tiếp sau đó, các
cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1794) với việc xử tử vua Lu - i XVI là một
trong những đòn quyết định tiêu diệt chế độ phong kiến ở châu Âu.
Vào thế kỷ XVI - XVII thành phần kinh tế TBCN ngày càng phát triển mạnh
mẽ trong nền kinh tế của các nước Tây Âu. Sự lớn mạnh của công nghiệp và
thương mại cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật đã dẫn tới sự
tiếp tục tan rã của chế độ phong kiến. Song, quyền sở hữu ruộng đất của phong
kiến, chế độ nông nô, chế độ đẳng cấp và sự bất bình đẳng về pháp luật đặc trưng
cho xã hội phong kiến đã ngăn cản sự phát triển của kinh tế TBCN dựa trên sự
1.1.3.1. Đóng góp của học thuyết “tam quyền phân lập”
Học thuyết này đã được các nhà tư tưởng tư sản thế kỷ XVII - XVIII mà điển
hình là John Locke và Montesquieu kế thừa, phát triển và hoàn thiện nó, coi đó là
cơ sở để bảo đảm quyền lực của nhân dân và chống chế độ độc tài chuyên chế.
Montesquieu đã phát triển một cách toàn diện học thuyết phân quyền và sau này khi
nhắc tới học thuyết “tam quyền phân lập” là nhắc tới tên tuổi của ông. Nó đã được thể
hiện và áp dụng trong việc tổ chức bộ máy Nhà nước của nhiều nước trên thế giới ở
các mức độ khác nhau, được ghi nhận một cách trang trọng trong các bản Tuyên
ngôn và Hiến pháp của một số nước. Thậm chí, có nước đã coi phân quyền là nguyên
tắc cơ bản trong tổ chức bộ máy Nhà nước của mình, là tiêu chuẩn và điều kiện của
nền dân chủ. Đó chính là sự thừa nhận và khẳng định giá trị của học thuyết “tam
quyền phân lập” trong thực tế.
Qua hai thế kỷ, loài người ngày càng hiểu biết hơn về giá trị của nguyên tắc
phân quyền của Montesquieu, đã góp phần đẩy nhanh việc kết thúc chủ nghĩa cực
quyền, ông được mệnh danh như là một người đặt nền móng cho việc thiết lập một
Chính phủ hiện đại. Hiện nay, dân chủ và tự do đã trở thành một giá trị rõ ràng, chế
độ độc tài dần dần được đẩy lùi, phân tích của Montesquieu về việc phân quyền
như là một trong những biện pháp quan trọng để chống sự độc tài chuyên chế của
nhiều Nhà nước trên thế giới hiện nay.
Trịnh Thị Huyền
14
Lớp 48 B2 – Luật
Khóa luận tốt nghiệp
Thuyết “tam quyền phân lập” của Montesquieu có ảnh hưởng sâu sắc đến
những quan niệm sau này về tổ chức Nhà nước cũng như thực tiễn tổ chức Nhà
Lớp 48 B2 – Luật
Khóa luận tốt nghiệp
nhánh quyền lực đã loại trừ được nguy cơ tập trung tất cả quyền lực Nhà nước vào
tay một cá nhân, nhóm người hay một cơ quan quyền lực duy nhất nào đó - nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến sự tha hoá trong quá trình thực thi quyền lực. Nhờ cơ chế
này mà không cơ quan Nhà nước nào có thể chi phối hoặc lấn át hoàn toàn hoạt
động của cơ quan khác. Đồng thời, không cơ quan nào, tổ chức nào đứng ngoài
hoặc đứng trên pháp luật; nằm ngoài sự kiểm tra, giám sát từ phía cơ quan Nhà
nước khác. Như vậy, sự phân chia rành mạch về chức năng và nhân sự cùng với cơ
chế kìm chế, đối trọng có tác dụng hạn chế khả năng lạm quyền, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc phát giác sự lạm quyền, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân.
Mặc dù thực tiễn chính trị đã thay đổi nhiều so với thời kỳ học thuyết phân
quyền ra đời nhưng học thuyết này vẫn còn nguyên sức sống. Những giá trị mang
tính phổ quát của nó vẫn đang được khai thác và nhân rộng trong tổ chức quyền
lực của nhiều nước, không phân biệt điều kiện kinh tế, văn hoá và chế độ chính trị.
Trong khuôn khổ lý thuyết phân quyền, thực tiễn đã hình thành những chính
thể khác nhau phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội và truyền thống văn hoá của
mỗi nước. Ở các nước tư bản, các nhánh quyền lực Nhà nước được thể chế hoá cao
độ. Các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp được chuyên nghiệp hoá rất cao. Cơ
chế kiểm soát quyền lực tỏ rõ tính hiệu quả trong việc hạn chế tình trạng lạm
quyền, chuyên quyền, quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước. Có thể thấy,
cho đến nay, học thuyết phân quyền đã thể hiện và khẳng định những giá trị tiến bộ
của nó. Những giá trị này đã được kiểm chứng trong thực tiễn chính trị hàng trăm
năm ở các nước tư bản phát triển. Đúng như đánh giá của Ph. Ăngghen: “Phân
quyền được xem như là nguyên tắc thiêng liêng và không thể xâm phạm trên thực
tế, về thực chất nó không có gì khác là sự phân công công việc lao động được áp
dụng đối với bộ máy Nhà nước nhằm đơn giản hoá và để kiểm tra”.
1.1.3.2. Một số hạn chế của học thuyết “tam quyền phân lập”
thuyết chính trị mang tinh thần tư sản do ông xây dựng đã đưa ông vào hàng ngũ
những nhà tư tưởng vĩ đại của thời đại đó. Học thuyết chính trị của Montesquieu
bao quát nhiều vấn đề từ bản chất của pháp luật đến các hình thức chính quyền
phân chia quyền lực, địa chính trị… nhưng quan trọng nhất là học thuyết phân chia
quyền lực.
1.2.1. Nội dung về tính phân quyền trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy Nhà nước
Trịnh Thị Huyền
17
Lớp 48 B2 – Luật
Khóa luận tốt nghiệp
Nội dung đầu tiên trong học thuyết phân quyền của Montesquieu là quyền lực
Nhà nước được cấu thành bởi ba hình thái cơ bản (tam quyền): lập pháp, hành
pháp và tư pháp: “Trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: quyền lập pháp,
quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những
điều hợp với luật dân sự. Với quyền Thứ nhất, nhà vua hay pháp quan làm ra các
thứ luật cho một thời gian hay vĩnh viễn, và sửa đổi hay hủy bỏ luật này. Với
quyền lực thứ hai, nhà vua quyết định hòa hay chiến, gửi Đại sứ đi các nước, thiết
lập an ninh, đề phòng xâm lược. Với quyền lực thứ ba, nhà vua hay pháp quan
trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân. Người ta gọi đây là quyền
tư pháp, và trên kia là quyền hành pháp quốc gia”.
Nội dung tiếp theo là quyền lực Nhà nước phải được tổ chức làm sao cho tự
do của công dân được bảo đảm: “Tự do chính trị của công dân là sự yên tâm vì mỗi
người nghĩ rằng mình được an ninh. Muốn đảm bảo tự do chính trị như vậy thì
Chính phủ phải làm thế nào để mỗi công dân không phải sợ một công dân khác”.
Montesquieu kịch liệt lên án chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp lúc bấy giờ.
hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất
cả sẽ mất hết”.
Chứng nghiệm vào thực tế, nhận xét của Montesquieu rất đúng. Tự do sẽ
không có nếu quyền lập pháp và quyền hành pháp chập vào một bàn tay. Vì người
nắm quyền lực sẽ đặt ra những quy tắc thuận tiện cho mình cai trị và sẽ không ban
hành các quy tắc gây bất lợi cho mình.
Quyền lập pháp nhập với quyền tư pháp thì tự do cũng sẽ bị đe dọa. Nếu một
người vừa có quyền lập pháp vừa có quyền tư pháp thì sẽ: làm luật cho những
trường hợp hay cá nhân mà ông ta muốn hại, chẳng hạn một nhà độc tài làm ra
những đạo luật riêng nhằm bỏ tù những kẻ chống đối mình; sẽ đem thi hành đạo
luật cho những cá nhân mà ông ta bênh vực hay biệt đãi, chẳng hạn một nhà độc tài
đóng vai trò thẩm phán sẽ không phạt tù những kẻ thân thuộc đã phạm tội. Như
vậy, luật không còn là luật nữa vì không có giá trị tổng quát nữa mà thay đổi tùy
theo ý muốn chủ quan của nhà cầm quyền.
Lạm quyền là thuộc tính của quyền lực Nhà nước. Một người càng có nhiều
quyền hành trong tay thì càng có khả năng lạm quyền. Nếu một người hay một cơ
quan nắm trọn cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp thì tự do của dân chúng
sẽ không còn gì. Phân quyền có nghĩa là ba quyền đó được giao cho những cơ
quan khác nhau, độc lập với nhau có những phương thức hình hành riêng, cách
thức hoạt động, lĩnh vực hoạt động riêng. Tương ứng với ba quyền đó là ba cơ
Trịnh Thị Huyền
19
Lớp 48 B2 – Luật
Khóa luận tốt nghiệp
quan: cơ quan lập pháp là Quốc hội, cơ quan hành pháp là Chính phủ, cơ quan tư
pháp là Tòa án.
Lớp 48 B2 – Luật
Khóa luận tốt nghiệp
người nổi bật lên vì dòng giống, vì của cải, hoặc vì danh vọng của họ. Nếu họ cũng
chỉ được dùng một lá phiếu bầu như dân chúng, thì tự do chung là nô lệ đối với họ,
họ không tha thiết gì bảo vệ tự do chung đó, vì phần lớn các điều quyết nghị chung
sẽ chống lại họ. Cho nên, khi tham gia vào công cuộc lập pháp thì họ nên được một
tỉ lệ cao tương ứng với vị trí ưu việt mà họ có trong quốc gia”.
Tiếp theo Montesquieu nói đến công cụ để hành pháp ngăn chặn lập pháp.
Trước tiên là quyền của hành pháp quy định thời hạn và thời gian các phiên họp
của nghành lập pháp: “cơ quan lập pháp không nên tự mình triệu tập lấy mình. Nếu
để cho cơ quan hành pháp quy định thời hạn và thời gian các cuộc họp Nghị viện
tùy theo tình huống mà cơ quan hành pháp cho là cần thiết”. Ngoài ra, quyền hành
pháp không có quyền đưa ra các sáng kiến trước lập pháp (như quyền trình dự án
luật của Chính phủ trước Nghị viện ở nhiều nước châu Âu ngày nay), nhưng có
quyền ngăn cản việc thi hành các đạo luật đã được nghành lập pháp thông qua (như
quyền phủ quyết của Tổng thống Mỹ ngày nay). Montesquieu lập luận: “nếu cơ
quan hành pháp không có quyền ngăn cản các dự định của các cơ quan lập pháp,
thì cơ quan lập pháp sẽ trở thành chuyên chế, tự ban cho mình mọi thứ quyền hành
mà xóa bỏ mọi thứ quyền lực khác”. Nếu như quyền hành pháp có quyền ngăn cản
đối với quyền lập pháp thì quyền lập pháp cũng có quyền xem xét việc thi hành các
đạo luật mà mình đã ban hành ra: “trong một nước tự do, nếu cơ quan lập pháp
không nên có quyền ngăn cản cơ quan hành pháp thì nó phải có chức năng xem xét
các đạo luật đã ban hành được thực hiện như thế nào”. Ngày nay, ta gọi đây là
quyền giám sát của Nghị viện.
Ngày nay, theo một quan niệm rất thực tế Vedel quan niệm: “nguyên tắc phân
quyền xét cho cùng có thể thu hẹp và tóm lược bằng một ý tưởng thuộc loại lẽ phải
thông thường. Ý tưởng đó như sau: chế độ độc tài là chế độ tập trung mọi quyền
hành, là chế độ quyền hành võ đoán, là quyền hành có thể vừa làm luật, vừa điều
Dưới góc độ là một hệ tư tưởng chính trị - pháp lý, Nhà nước pháp quyền đã
xuất hiện sớm trong lịch sử loài người. Khi có Nhà nước và pháp luật ra đời thì
cũng đã bắt đầu xuất hiện một số tư tưởng quan niệm về xây dựng Nhà nước pháp
quyền. Coi trọng pháp luật được hiểu là mầm mống đầu tiên về một mô hình Nhà
nước pháp quyền. Hệ tư tưởng này đặc biệt phát triển vào thời kỳ cuối cùng của xã
hội phong kiến khi giai cấp tư sản đã bắt đầu xuất hiện và ngày càng lớn mạnh.
Dưới góc độ là một tổ chức bộ máy Nhà nước thì Nhà nước pháp quyền là
mô hình Nhà nước mà ở đó pháp luật giữ vị trí tối thượng trong việc điều chỉnh các
Trịnh Thị Huyền
22
Lớp 48 B2 – Luật
Khóa luận tốt nghiệp
quan hệ xã hội và tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước. Sự điều chỉnh thống
nhất của pháp luật, Nhà nước đảm bảo tốt nhất các giá trị của con người (nhân
quyền và quyền công dân) thừa nhận một xã hội dân sự phát triển và một hệ thống
pháp luật được xây dựng thống nhất, đồng bộ ở kỹ thuật lập pháp cao.
Nhà nước pháp quyền là con đẻ của cách mạng tư sản châu Âu diễn ra
khoảng thế kỷ XVII gắn liền với phong trào giải phóng nhân loại ra khỏi chế độ
chuyên chế phong kiến. Nhà nước pháp quyền với ý nghĩa là một mô hình hiện
thực chỉ ra đời khi Nhà nước TBCN và Nhà nước XHCN xuất hiện. Còn tư tưởng
về xây dựng một Nhà nước pháp quyền lại xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử gắn
liền với các học thuyết chính trị - pháp lý: học thuyết “tam quyền phân lập”, học
thuyết “tự nhiên”, học thuyết “nhân quyền”…
Tóm lại, Nhà nước pháp quyền TBCN mang những đặc trưng sau:
Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền được xây dựng trên cơ sở nền tảng của học
thuyết “tam quyền phân lập”. Lúc này tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước
Bản chất của Nhà nước pháp quyền là đề cao vai trò điều chỉnh của pháp luật,
pháp luật là công cụ, phương tiện hữu hiệu và đắc lực nhất để bộ máy Nhà nước đó
sử dụng điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, nếu như việc đề cao vai trò
pháp luật chỉ vì bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, Đảng phái cầm quyền thì đó là
một Nhà nước có bản chất trái ngược với Nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp
quyền có nghĩa là sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền con người một cách tối ưu.
Thứ tư, Nhà nước pháp quyền tư sản gắn liền với một hệ thống pháp luật
thống nhất, đồng bộ và được xây dựng bởi một trình độ lập pháp tiên tiến và hiện
đại.
Điều đó được thể hiện ở tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật. Pháp luật là
cơ sở của mọi hình thức tổ chức quyền lực công khai, mọi chủ thể trong xã hội đều
phải tuân theo pháp luật. Mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đều
phải dựa vào pháp luật không được trái với Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp là
văn bản có giá trị hiệu lực pháp lý cao nhất.
Mặt khác hệ thống pháp luật đó được xây dựng bởi một trình độ lập pháp tiên
tiến và hiện đại. Tức là trình độ con người, khả năng tư duy được đánh giá rất cao.
Thứ năm, Nhà nước pháp quyền tư sản xác lập mối quan hệ hợp tác, bình
đẳng, đoàn kết vì mục đích phát triển và cùng có lợi với các quốc gia khác trên thế
giới đảm bảo nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết dân tộc, không can thiệp vào
công việc nội bộ của nhau, cùng nhau hợp tác để giải quyết các công việc mang
tính chất toàn cầu: dịch bệnh, đói nghèo, thiên tai, dân số…Điều này đã trở thành
Trịnh Thị Huyền
24
Lớp 48 B2 – Luật
Khóa luận tốt nghiệp
một thuộc tính và được ghi nhận trong Hiến pháp tư sản - đó là thuộc tính xã hội
25
Lớp 48 B2 – Luật