Website: Email : Tel (: 0918.775.368
I. LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là một cơ quan quản lý nhà nước về
tiền tệ tại Việt Nam. Đây là cơ quan đảm trách việc phát hành tiền tệ, quản lý
tiền tệ và tham mưu các chính sách liên quan đến tiền tệ cho Chính phủ Việt
Nam như: phát hành tiền tệ, chính sách tỷ giá, chính sách về lãi suất, quản lý dự
trữ ngoại tệ, soạn thảo các dự thảo luật về kinh doanh ngân hàng và các tổ chức
tín dụng, xem xét việc thành lập các ngân hàng và tổ chức tín dụng, quản lý các
ngân hàng thương mại nhà nước... Thống đốc hiện nay là ông Nguyễn Văn
Giàu.
Ở Việt Nam, Quốc hội là cơ quan quyết định chính sách tiền tệ, nhằm
mục tiêu ổn định giá trị VND, giải quyết việc làm và tăng trưởng kinh tế. Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan của Chính phủ, có trách nhiệm:
- Chủ trì xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc giam kế hoạch cung ứng
tiền bổ sung cho lưu thông hàng năm trình Chính phủ, để Chính phủ trình Quốc
hội.
- Điều hành các công cụ chính sách tiền tệ( dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, thị
trường mở, lãi suất, tỷ giá hối đoái), thực hiện việc đưa ra lưu thông, rút tiền tư
lưu thông về theo tín hiệu của thị trường trong phạm vi lượng tiền cung ứng đã
được Chính phủ phê duyệt.
Để xây dựng và thực thi có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia, tăng
cường hơn nữa quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, góp phần
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nươc, ngày 26 tháng 12 năm 1997, Nhà nước ban hành Luật
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam( có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 1988). Từ
đây, mô hình tổ chức hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được chi
phối bởi Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Hội nhập WTO, vừa là cơ hội, nhưng cũng vừa là thách thức cho Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam. Ngân hàng là lĩnh vực nhạy cảm của Việt Nam trong
quá trình đàm phán đã diễn ra rất gay go và quyết liệt nhưng cuối cùng cũng đi
1
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Hoạt động tín dụng được mở rộng nhanh chóng nhưng rủi ro tín dụng
chưa được kiểm soát và đánh giá một cách chặt chẽ, chưa phù hợp với chuẩn
mực quốc tế và yêu cầu hội nhập.
+ Sản phẩm và dịch vụ còn đơn điệu, tính tiện ích chưa cao, chất lượng
dịch vụ thấp. Qui trình quản trị trong các TCTD Việt Nam chưa phù hợp với
các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế, tính minh bạch thấp, chưa hình thành
môi trường làm việc và văn hóa kinh doanh lành mạnh do vai trò và trách
nhiệm của các vị trí công tác chưa rõ ràng, hệ thống thông tin quản lý và quản
lý rủi ro chưa hiệu quả.
+ Hạ tầng công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán lạc hậu và có nguy
cơ tụt hậu xa hơn so với các nước trong khu vực, chưa đáp ứng kịp yêu cầu
phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ, năng lực quản lý điều hành của
NHNN và khả năng chống đỡ rủi ro của các NHTM còn nhiều hạn chế.
+ Thể chế của hệ thống ngân hàng còn nhiều bất cập, hệ thống pháp luật
về ngân hàng thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với yêu cầu cải cách và lộ trình hội
nhập.
Vì thế, các NHTM Việt Nam sẽ mất dần lợi thế cạnh tranh về qui mô,
khách hàng và hệ thống kênh phân phối, nhất là sau năm 2010, khi những hạn
chế nêu trên và sự phân biệt đối xử bị loại bỏ căn bản. Sau thời gian đó, qui mô
hoạt động và khả năng tiếp cận thị trường, các nhóm khách hàng, chủng loại
dịch vụ do các ngân hàng nước ngoài cung cấp sẽ tăng lên. Đáng chú ý, rủi ro
đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể tăng lên do các ngân hàng nước
ngoài nắm quyền kiểm soát một số tổ chức tài chính trong nước thông qua hình
thức góp vốn, mua cổ phần, liên kết kinh doanh; một số tổ chức tài chính trong
nước sẽ gặp rủi ro và có nguy cơ thua lỗ, phá sản do sức cạnh tranh kém và
không có khả năng kiểm soát rủi ro khi tham gia các hoạt động ngân hàng quốc
tế.
- Mở cửa thị trường tài chính trong nước làm tăng rủi ro do những tác
Đồng chí Đặng Việt Châu
Phó thủ tướng kiêm Tổng giám đốc Ngân
hàng nhà nước Việt Nam từ 1974 đến 1976 –
Mất năm 1990
Đồng chi Hoàng Anh
Phó Thủ tướng được cử giữ chức Tổng giám
đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam Từ 1976
đến 3/1977
Đồng chí Trần Dương
Tổng giám đốc Ngân hàng nhà nước VN Từ
4/1977 đến 2/1981
Đồng chí Nguyễn Duy Gia
Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam Từ 3/1981 đến 6/1986
Đồng chí Lữ Minh Châu
Tổng giám đốc Ngân hàng nhà nước VN Từ
7/1986 đến 5/1989
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đồng chí Cao Sỹ Kiêm
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Từ 6/1989 đến 10/1997
Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Từ 5/1998 đến 12/1999
Đồng chí Lê Đức Thuý
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam Từ 12/1999 đến 8/2007
Đồng chí Nguyễn Văn Giàu
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để phù hợp với hiến pháp 1946 của
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Những năm sau khi Miền Nam giải phóng
1975, việc tiếp quản Ngân hàng Quốc gia Việt Nam cộng hoà và các Ngân hàng
tư bản tư nhân dưới chế độ Nguỵ quyền Sài Gòn đã mở đầu cho quá trình nhất
thể hoá hoạt động ngân hàng toàn quốc theo cơ chế hoạt động ngân hàng của
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Tháng 7 năm 1976, đất nước được thống
nhất về phương diện Nhà nước, nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra
đời. Theo đó, Ngân hàng Quốc gia ở miền Nam được hợp nhất vào NHNN Việt
Nam, tạo thành hệ thống Ngân hàng Nhà nước duy nhất của cả nước. Hệ thống
tổ chức thống nhất của NHNN bao gồm: Ngân hàng Trung ương đặt trụ sở
chính tại thủ đô Hà Nội, các Chi nhánh Ngân hàng tại các tỉnh, thành phố và
các chi điếm ngân hàng cơ sở tại các huyện, quận trên phạm vi cả nước.
Căn cứ vào những biến đổi quan trọng về tình hình và nhiệm vụ cách
mạng cũng như về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, quá trình phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam có thể được
chia làm 4 thời kỳ như sau:
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1. Thời kỳ 1951 - 1954: Trong thời kỳ này, Ngân hàng quốc gia Việt
Nam được thành lập và hoạt động độc lập tương đối trong hệ thống tài chính,
thực hiện trọng trách đầu tiên theo chủ trương của Đảng và nhà nước là: Phát
hành giấy bạc ngân hàng, thu hồi giấy bạc tài chính; Thực hiện quản lý Kho bạc
Nhà nước góp phần tăng thu, tiết kiệm chi, thống nhất quản lý thu chi ngân
sách;Phát triển tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá, tăng
cường lực lượng kinh tế quốc doanh và đấu tranh tiền tệ với địch.
2. Thời kỳ 1955 - 1975: Đây là thời kỳ cả nước kháng chiến chống Mỹ,
miền Bắc xây dựng và chiến đấu, vừa ra sức chi viện cho cách mạng giải phóng
miền Nam; mọi hoạt động kinh tế xã hội phải chuyển hướng theo yêu cầu mới.
Trong thời kỳ này, Ngân hàng Quốc gia đã thực hiện những nhiệm vụ cơ bản
sau;
Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ) đã chính thức chuyển cơ
chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp - Trong
đó lần đầu tiên đối tượng nhiệm vụ và mục tiêu hoạt động của mỗi cấp được
luật pháp phân biệt rạch ròi:
+ Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ Quản lý nhà nước về hoạt động
kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng; Thực thi
nhiệm vụ của một Ngân hàng Trung ương - là ngân hàng duy nhất được phát
hành tiền; Là ngân hàng của các ngân hàng và là Ngân hàng của Nhà nước;
NHTW là cơ quan tổ chức việc điều hành chính sách tiền tệ, lấy nhiệm vụ giữ
ổn định giá trị đồng tiền làm mục tiêu chủ yếu và chi phối căn bản các chính
sách điều hành cụ thể đối với hệ thống các ngân hàng cấp 2.
+ Cấp Ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng,
thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng trong toàn nền kinh tế quốc dân do
các Định chế tài chính Ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện.
Cùng với quá trình đổi mới cơ chế vận hành trong hệ thống ngân hàng là
quá trình ra đời hàng loạt các ngân hàng chuyên doanh cấp 2 với các loại hình
sở hữu khác nhau gồm Ngân hàng thương mại quốc doanh, cổ phần, Ngân hàng
liên doanh, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài, Hợp
tác xã tín dụng, QTDND, công ty tài chính...Trong thời gian này, 4 ngân hàng
thương mại quốc doanh lớn đã được thành lập gồm: 1) Ngân hàng Nông
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghiệp Việt Nam; 2) Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam; 3) Ngân hàng
Công thương Việt Nam; 4) Ngân hàng ngoại thương Việt Nam.
+ Từ năm 1991 đến nay: Thực hiện chủ trương đường lối chính sách của
Đảng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá hệ thống ngân hàng Việt
Nam không ngừng đổi mới và lớn mạnh, đảm bảo thực hiện được trọng trách
của mình trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế đất nước trong thiên
niên kỷ mới. Những dấu ấn dưới đây liên quan trực tiếp và thúc đẩy quá trình
đổi mới mạnh mẽ hoạt động Ngân hàng:
3. Ban hành các quyết định, chỉ thị, thông tư thuộc phạm vi quản lý nhà
nước của Ngân hàng Nhà nước
4. Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm thực hiện các văn bản
quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt
và các văn bản pháp luật khác thuộc phạm vi quản lý của ngành; tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về hoạt động ngân hàng
5. Về tiền tệ và hoạt động ngân hàng:
a) Xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia để Chính phủ xem xét trình
Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chính sách này; Trình Chính phủ đề
án phát triển hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng;
b) Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng,
trừ trường hợp do Thủ tướng Chính phủ quyết định; cấp, thu hồi giấy phép hoạt
động ngân hàng của các tổ chức khác; quyết định giải thể, chấp thuận chia,
tách, hợp nhất, sáp nhập các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật;
c) Kiểm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng, kiểm soát tín dụng; thanh tra,
kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý các vi
phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm quyền
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
d) Quản lý việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo quy định
của Chính phủ
đ) Chủ trì lập và theo dõi kết quả thực hiện cán cân thanh toán quốc tế
e) Quản lý ngoại hối, hoạt động ngoại hối và quản lý hoạt động xuất nhập
khẩu vàng
f) Ký kết tham gia điều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng
theo quy định của pháp luật.
g) Đại diện cho Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức tiền
tệ và ngân hàng quốc tế trong những trường hợp được Chủ tịch nước, Chính
phủ uỷ quyền;
h) Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng
13. Quản lý về tổ chức, bộ máy, biên chế; chỉ đạo thực hiện chế độ tiền
lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ,
công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng Nhà nước
14. Quản lý tài chính, tài sản được giao theo quy định của Pháp luật
15. Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
của Nhà nước.
Trải qua hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, Hệ thống ngân hàng ở
nước ta đã góp phần xứng đáng vào những thành tựu của cuộc cách mạng Việt
Nam qua những chặng đường chói ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng và
thắng lợi vẻ vang, góp phần củng cố nền độc lập, tự chủ, phục vụ sự nghiệp giải
phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Để ghi nhận những cống hiến to lớn của toàn ngành Ngân hàng trong hai
cuộc kháng chiến với những thắng lợi vĩ đại của dân tộc, Đảng và Nhà nước đã
phong tặng và thưởng nhiều danh hiệu cao quý cho nhiều tập thể, cá nhân của
ngành. Trong đó, nhân kỷ niệm 45 năm ngày thành lập, năm 1996 ngành NH đã
vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, 94 đồng
chí được trao tặng các Huân chương công trạng bậc cao từ Huân chương Hồ
Chí Minh đến các Huân chương độc lập hạng nhất, hạng nhì, hạng ba. Tại Đại
Hội thi đua yêu nước ngành Ngân hàng lần thứ IV tháng 9/2000, Đảng Nhà
nước và ngành Ngân hàng đã trao tặng danh hiệu anh hùng lao động và hàng
ngàn Huân, Huy chương, Bằng khen các cấp cho các tập thể và cá nhân của
ngành về những thành tích trong thời kỳ đổi mới.
Cho đến ngày hôm nay, hệ thống ngân hàng vẫn là nhân tố nòng cốt, tích
cực trong công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, vận hành bằng cơ chế kinh tế thị trường có sự quản
lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền văn minh tiền tệ
Việt Nam đã từng bước được khẳng định thông qua tính ổn định giá trị, tính đa
dạng về phương tiện thanh toán thay tiền mặt và không ngừng hoàn thiện các
xâm lược Pháp 1945 - 1951: Chính quyền cách mạng của chính thể VNDCCH
phải lãnh đạo toàn dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Kháng
chiến và kiến quốc - Trong đó vấn đề tài chính, tiền tệ được đặc biệt quan tâm
và coi đó là một vũ khí sắc bén, trực tiếp của cả 2 nhiệm vụ chiến lược nói trên.
Ngày 1/12/1945, đúng 3 tháng sau ngày thành lập nước VNDCCH – Mở đầu
thời đại Hồ Chí Minh ở Việt nam, đồng tiền tài chính với chất liệu nhôm đầu
tiên lọai hai hào của ta được phát hành, tiếp theo đó ngày 21/1/1946 ta phát
hành đồng tiền nhôm loại năm hào, ngày 31/1/1946 phát hành tiền giấy gọi là
"giấy bạc Việt Nam" đầu tiên ở miền Trung, ngày 13 tháng 8/ 1946 phát hành
giấy bạc trên toàn miền bắc và sau kỳ họp Quốc hội lần thứ 2 vào tháng
11/1946, chính phủ đã cho phép Bộ tài chính tiếp tục phát hành giấy bạc Việt
nam trên phạm vi toàn quốc. Để phù hợp với chủ trương "tự cấp, tự túc, toàn
dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến và địa phương tự lập", Chính phủ đã
cho hình thành một chế độ tiền tệ đặc biệt: vừa tập trung, vừa phi tập trung:
Trên toàn quốc, nơi nào có điều kiện (chủ yếu là vùng tự do) thì lưu hành tiền
tài chính (giấy bạc Việt Nam), nơi nào thuộc vùng địch kiểm soát thì tiêu đồng
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thời cả tiền Đông dương, cả tiền tài chính địa phương do chính phủ trung ương
uỷ quyền cho chính quyền cách mạng địa phương phát hành và gồm cả "tiền
Việt Nam hoá" bằng cách đóng dấu của Uỷ ban kháng chiến địa phương lên
tiền địch để lưu hành...Đây không chỉ là thời kỳ đấu tranh trên các lĩnh vực
chính trị, quân sự với địch, mà thuật ngữ "đấu tranh tiền tệ với địch" cũng trở
thành một khẩu hiệu hành động trong chỉ đạo chiến lược của Đảng lao động
Việt nam suốt thời kỳ toàn quốc kháng chiến (từ 19/12/1946 đến chiến thắng
Điện biên phủ 1954). Đến 6/ 5/ 1951 tại sắc lệnh số 15/ SL do Chủ tịch Hồ Chí
Minh ký chuẩn y việc thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt nam (NHQG VN)
(để thay thế “Nha ngân khố quốc gia” và “Nha tín dụng sản xuất” trực thuộc Bộ
Tài Chính đã thành lập trước đó trên cơ sở “Việt nam quốc gia Ngân hàng”
thuộc Bộ Tài chính được thiết lập theo sắc lệnh số 86/SL ngày 17/9/1947 của
tạo ra được sự đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau giữa những đơn vị và cá nhân, giữa
Quân đội với Thanh niên xung phong trên toàn tuyến Trường sơn - Thay vì việc
ủng hộ, tương trợ lẫn nhau bằng hiện vật vốn rất khó khăn và bất tiện thì những
người lính dễ dàng ủng hộ nhau dưới hình thức giá trị của định lượng ...
6.Chế độ tiền của chính quyền Ngụy Sài gòn từ 1954 đến 1975: Dưới sự
đô hộ của Đế Quốc Mỹ, cả miền Nam là một thị trường tiêu thụ và cung ứng
nguồn tài nguyên, sức lao động rẻ mạt - Bức tranh kinh tế thời chiến của chính
quyền Sài gòn là một nền kinh tế phồn vinh giả tạo: Thủ công, lắp ráp và tiêu
thụ. Chính quyền Ngụy có luật nghiêm cấm lưu hành đồng tiền miền Bắc và
đồng tiền Đông Dương ở miền Nam. Chúng thành lập Ngân hàng năm 1954 và
cũng lấy tên là NHQG Việt nam, cho phép tiêu song song đồng USD và đồng
tiền Quốc gia với tỷ giá 35đồng Quốc gia ăn 1 đồng USD. Tỷ giá này ổn định
từ năm 1954 đến năm 1960. Từ năm 1960 đến 1965 đồng tiền Ngụy mất giá
dần dần và đến năm 1965 tỷ giá này còn 118đ/USD. Từ năm 1966 đến 1968
sức mua của đồng tiền Ngụy tiếp tục mất giá mạnh xuống còn 250đ/ USD và
đến năm 1973 thì tỷ giá này đã là 500đ/ USD - giảm 14,3 lần so với thời kỳ
những năm 1954 - 1960.
7.Từ năm 1975 đến năm 1984: Trong 3 năm đầu sau ngày miền nam giải
phóng, để có một thời gian đệm cần thiết và quan trọng, hai miền vẫn dùng hai
đồng tiền khác nhau: Miền Bắc vẫn là tiền NHNN VN, miền Nam tiếp tục dùng
tiền của chính quyền cũ. Ngày 3/5/1975 chính quyền cách mạng tiếp quản
NHQG của Nguỵ quyền Sài gòn và vẫn sử dụng đồng tiền của chế độ cũ trong
lưu thông để không gây rối loạn trong lưu thông tiền tệ ở miền nam những ngày
đầu giải phóng. Ngày 6/6/1975 - 5 tuần sau ngày giải phóng, Chính phủ cách
17