SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG PHÂN CHIA QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TƯ SẢN. - Pdf 28

A/ LỜI MỞ ĐẦU.
Nhà nước là một thiết chế đặc biệt của xã hội. Lịch sử đã chứng kiến rất nhiều công lao trong việc
duy trì và phát triển xã hội loài người cũng như sức mạnh đàn áp, nô dịch gây không ít đau đớn cho nhân
loại của nhà nước. Cùng với sự hình thành và phát triển của nó, việc nghiên cứu các tư tưởng về nhà nước
luôn chiếm một vị trí quan trọng bậc nhất trong lịch sử tư tưởng chính trị loài người. Trong số các tư
tưởng ấy, tư tưởng phân chia quyền lực của nhà nước luôn là một vấn đề phức tạp và nhận được nhiều sự
quan tâm từ các nhà khoa học, nghiên cứu.
Bài tiểu luận của em sau đây nhằm mục đích đi tìm hiểu những nét bao quát nhất về tư tưởng phân
chia quyền lực nhà nước đề cập dưới góc độ vận dụng tư tưởng này trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước tư sản.
B/ NỘI DUNG CHÍNH.
I/ KHÁI QUÁT CHUNG.
1. Quyền lực nhà nước.
a. Khái niệm:
Quyền lực được hiểu là sức mạnh mà ở đó một chủ thể (1 cá nhân, tổ chức hay toàn xã hội) có thể
bắt các chủ thể khác phải phục tùng ý chí của mình. Trong xã hội có giai cấp thì chủ thể có đủ khả năng
chỉ huy và phối hợp hoạt động của tất cả các chủ thể khác chính là nhà nước nên quyền lực nhà nước là
quan trọng nhất.
Từ đây có thể hiểu rằng, quyền lực nhà nước chính là sức mạnh của nhà nước có thể bắt các chủ thể
khác trong quốc gia từ các cá nhân, tổ chức đến mọi tầng lớp hay giai cấp trong xã hội phải phục tùng ý
chí của nó. Vai trò của quyền lực nhà nước hết sức quan trọng, nó có thể điều hòa xung đột giữa các giai
cấp cũng như thực hiện và bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị. Thêm vào đó, nhà nước có thể điều hành, tổ
chức và quản lí xã hội, thiết lập, bảo vệ và củng cố trật tự xã hội, làm xã hội phát triển theo chiều hướng
mà mình mong muốn.
b. Cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước:
Cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước trong thực tế rất đa dạng tùy theo hình thức
chính thể của mỗi nhà nước. Song tựu chung lại có thể khái quát thành hai cơ chế cơ bản, đó là tập quyền
và phân quyền.
Tập quyền là cơ chế mà quyền lực nhà nước thuộc về một cá nhân hoặc một cơ quan và cá nhân hay
chính cơ quan ấy có thể chi phối sự hình thành và hoạt động của các chức vụ nhà nước hoặc các cơ quan
nhà nước khác.

khác. Tìm hiểu tư thưởng của John Locke, ta sẽ thấy đây là 1 tư tưởng được hình thành dựa trên cơ sở 1 sự
suy diễn pháp lí diễn dịch từ thực tế sinh động của lịch sử kết hợp với sự kế thừa từ các bậc tiền bối thì ở
Montesquieu lại là “một quy tắc của nghệ thuật chính trị, một thủ đoạn chính trị, hơn nữa, một bí quyết
chính trị và đồng thời, nguồn cảm hứng suy luận chính là sự quan sát Hiến pháp nước Anh, chính thể nước
đó thời bấy giờ”, tất nhiên là trên cở sở kế thừa người đi trước. Ngoài ra còn một số tác giả khác như
Rousseau (1712-1778) hay Kant (1724-1804) đã góp phần hoàn thiện thêm tư tưởng này dù không cụ thể
và toàn diện được như Montesquieu.
Sau các tác giả trên đây cho đến ngày nay, dường như loài người chỉ quan tâm đến việc “vật chất
hóa” hay “hiện thực hóa” tư tưởng phân quyền hơn là tiếp tục trình bày những lí luận về nó. Dù thế, tư
tưởng chia quyền quyền lực vẫn được thể hiện rõ nét và hoàn thiện trong tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước tư sản đương đại.
c. Ưu điểm và hạn chế:
Về ưu điểm, khái quát mà nói, đây là một tư tưởng dân chủ, nhân đạo và tiến bộ vì nó phục vụ đắc
lực cho cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài, chuyên chế, sự lạm quyền trong quá trình thực hiện quyền
lực nhà nước, bảo vệ tự do cho con người. Phân quyền là để đảm bảo cho quyền lực nhà nước không
những không tập trung trong tay một tổ chức hay cá nhân nào mà còn bị kiềm chế, kiểm soát. Nhờ đó mà
hạn chế được quyền lực của chính quyền, phát triển các kỹ năng chuyên môn, gia tăng tính hiệu quả và tác
dụng của chính quyền. Từ đó khẳng định được vị trí và vai trò của mỗi ngành trong cơ chế thực hiện
quyền lực nhà nước và việc đảm bảo tự do cho nhân dân. Vì thế, phân quyền chỉ thích hợp với chế độ dân
chủ, chỉ có thể hiện diện và tồn tại trong chế độ ấy. Bằng chứng là nó được ghi nhận trong những văn bản
có hiệu lực tối cao của nhiều nhà nước.
Tuy nhiên, hạn chế của tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước là nó không thể áp dụng một cách
triệt để hay tuyệt đối trung thành với lí thuyết trong tổ chức bộ máy nhà nước. Nếu như áp dụng triệt để
thì sẽ dấn đến sự cô lập, tách biệt hoàn toàn hoặc mâu thuẫn với nhau trong hoạt động của các cơ quan nhà
nước. Thực tế đã chứng minh điều này, thể thức cô lập hoàn toàn các quyền đã đưa đến tình trạng bế tắc
hay mâu thuẫn giữa hành pháp và lập pháp như trong bối cảnh thời kì cách mạng Pháp. Trong chính quyền
đó, người ta đã áp dụng triệt để phân quyền tới mức không có công quyền nào tiếp xúc với công quyền
nào. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Pháp lúc bấy giờ. Từ những lí do đó, việc áp
dụng triệt để tư tưởng phân quyền khó có thể bảo đảm được sự thống nhất của quyền lực nhà nước – một
tất yếu khách quan cho sự tồn tại của thiết chế này. Ngoài ra, mỗi quốc gia có một điều kiện, hoàn cảnh

quyền lực có sự kiềm chế, giám sát và đối trọng nhau để không xảy ra tình trạng lạm quyền và bảo vệ
được các quyền tự do dân chủ của nhân dân.
Ngày nay, tùy theo các hình thức chính thể của các nhà nước tư sản khác nhau mà dẫn tới việc áp
dụng tư tưởng phân quyền ở những mức độ khác nhau. Đại diện cho các mức độ ấy là sự mềm dẻo trong
chính thể cộng hòa đại nghị, sự cứng rắn trong chính thể cộng hòa tổng thống và sự trung gian trong chính
thể cộng hòa hỗn hợp. Bên cạnh đó, thời kì hiện đại chứng kiến một số thay đổi trong phân quyền ngang ở
một số bộ máy nhà nước tư sản: sự phát triển thêm các nhánh quyền lực mới thuộc quyền lực nhà nước. Ví
dụ ở một số nước Mĩ Latinh áp dụng hình thức tứ quyền, nghĩa là ngoài 3 quyền cơ bản kể trên còn xuất
hiện thêm quyền “bầu cử” thuộc về Hội đồng bầu cử cấp độ toàn quốc. Hoặc theo Hiến pháp Nicaragoa
năm 1986, ngoài bốn quyền này còn thêm quyền “kiểm tra” do tổng thanh tra nhà nước và bộ máy dưới
quyền ông ta đảm nhận.
b. Phân quyền dọc:
Sự phân quyền dọc này cũng là điểm tiến bộ của việc áp dụng tư tưởng phân quyền thời hiện đại so
với thời kì cách mạng tư sản trước đây: quyền lực nhà nước được phân chia giữa các cơ quan trung ương
với địa phương. Theo đó, nhà nước trung ương chỉ giữ lại những thẩm quyền quan trọng nhất như các
quyền về chủ quyền quốc gia, thực hiện và bảo đảm pháp luật hay đảm bảo sự thống nhất giữa chính
quyền các địa phương, … Nhà nước sẽ xác định các thẩm quyền trao cho cơ quan địa phương với điều
kiện phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định, trong đó có thể kể đến như: hoạt động của cơ quan địa
phương phải thể hiện được ý chí, nguyện vọng của cộng đồng dân cư ở địa phương đó, đảm bảo tuân thủ
các quy định của pháp luật, chịu sự giám sát của chính quyền trung ương. Ngoài các cơ quan quản lý còn
có các cơ quan do dân cư hợp thành, trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra cũng tham gia vào cơ chế vận hành bộ
máy chính quyền địa phương. Việc tổ chức các cơ quan này mang nhiều tính chất tự quản. Khi hoạt động,
các đơn vị hành chính theo quy định của pháp luật có quyền thành lập các hội đồng tự quản của đia
phương chịu sự kiểm tra của đại diện cơ quan quyền lực nhà nước cấp trên. Ở những nơi theo cơ cấu tự trị,
chính quyền địa phương buộc phải có một cơ quan ra nghị quyết và một cơ quan thi hành các nghị quyết
đó giống như mô hình nghị viện và chính phủ. Nói cách khác, đây là cách chia quyền của chính quyền
trung ương cho chính quyền địa phương dựa theo địa giới hành chính - lãnh thổ.
3
Để xem xét cụ thể hơn, ta sẽ đi tìm hiểu sự thể hiện và áp dung tư tưởng phân chia quyền lực nhà
nước theo chiều ngang ở một số nhà nước tư sản có các hình thức chính thể khác nhau.

được sự tín nhiệm này hoặc kết quả hoạt động của chính phủ không được nghị viện thông qua, điều này sẽ
gây nên mâu thuẫn giữa chính phủ và nghị viện thậm chí hậu quả có thể là khủng hoảng chính trị. Chính
phủ phải ra đi để nghị viện thành lập một chính phủ mới. Đây là chế định bất tín nhiệm chính phủ. Cụ thể,
hiến pháp tư sản quy định việc việc sử dụng chế định này rất khắt khe. Ví dụ, sáng kiến đặt vấn đề tín
nhiệm phải thu được số lượng chữ kí rất lớn so với các sáng kiến của pháp luật. Ở Italia, phải có ít nhất 1
trên 10 tổng số hạ nghị sĩ đồng ý kí tên và trong mỗi khóa họp, Hạ nghị viên không được không được đặt
vấn đề bất tín nhiệm quá 1 lần. Mặt khác, chế định này được kìm chế bởi quy định giải tán nghị viện, trong
trường hợp không tìm được chính phủ mới thì nghị viện, lập pháp sẽ bị giải tán. Bởi lẽ, theo các nhà tư sản,
nếu cứ để cho nghị viện có quyền lật đổ chính phủ mà không có sự chế ngự nào sẽ phát sinh ra một thứ độc
tài mới như thứ độc tài cá nhân của chủ nghĩa phong kiến trước đây. Hiến pháp một số nước tư sản đã quy
định: nghị viện có thể bị nguyên thủ quốc gia với tư cách một người đứng đầu nhà nước giải tán
theo yêu cầu của thủ tướng hoặc theo sáng kiến của mình sau khi tham khảo ý kiến của thủ tướng. Hoặc là,
nếu một nghị sĩ muốn chất vấn hay đặt vấn đề gay gắt như bất tín nhiệm chính phủ thì rất có thể chính phủ
lại đặt vấn đề giải tán nghị viện trước.
Bên cạnh đó, quyền tư pháp thuộc về hệ thống tòa án, cơ quan xét xử. Tòa án hoạt động theo nguyên
tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Dựa vào pháp luật và Hiến pháp, tòa án có thể tác động tới hoạt
4
động của chính phủ và nghị viện. Ví dụ, ở Đức, tòa án Hiến pháp có thể kiềm chế lập pháp qua việc giải
quyết kháng nghị chống lại quyết định của Hạ viện, kiềm chế hành pháp thông qua việc tước cương vị
Tổng thống liên bang hoặc quy định không cho tiếp tục giữ cương vị của mình khi xác định được rằng
Tổng thống liên bang cố tình vi phạm Hiến pháp hoặc pháp luật. Một mặt, tòa án độc lập trong hoạt động
song vẫn chịu ảnh hưởng từ chính phủ trong tổ chức. Đơn cử đó là việc bổ nhiệm, thăng chức cho các thẩm
phán. Và dĩ nhiên, vai trò kiềm chế của hành pháp với tư pháp cũng được thể hiện qua điều này.
Tóm lại, ưu điểm của sự phân quyền mềm dẻo này là dễ dang tạo ra sự bình ổn trong đời sống chính
trị đất nước nhưng nhược điểm lại là sự bị động, thiếu linh hoạt trong vai trò của nguyên thủ quốc gia và
không đảm bảo được sự độc lập, cạnh tranh, kìm chế - đối trọng giữa hành pháp và lập pháp. Từ đó biến
nghị viện và chính phủ từ chỗ thể hiện sự phân chia quyền lực thành hai cơ quan thực hiện chính sách của
đảng cầm quyền.
4. Sự phân quyền cứng rắn ở những nước theo chính thể cộng hòa tổng thống.
Trong chính thể cộng hòa tổng thống, tư tưởng phân quyền được áp dụng ở mức độ cứng rắn với

tại điều 1, khoản 7 Hiến pháp Mỹ: “ Tất cả các dự án luật được Hạ viện và Thượng viện thông qua, trước
khi ban hành luật sẽ phải đệ trình lên Tổng thống Hợp chủng quốc. Tổng thống tán thành dự luật sẽ kí vào
dự luật đó. Nếu không, ông ta sẽ gửi trả lại với lời bác cho viện đã khởi xướng dựa án luật đó. Viện này
phải ghi lại tường tận các bác luận vào sổ hoạt động của nghị viện và xem xét lại dự luật đó. Nếu sau khi
đã xem xét lại, dự án luật sẽ được truyền đạt cùng với các điều bác luận của Tổng thống tới viện thứ hai và
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status