LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn này chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Đặng Hồng Chiến
MỤC LỤC
24
1.3.
Sự ra đời và phát triển của thuyết phân quyền
27
1.3.1.
Tư tưởng phân quyền thời kỳ cổ đại
28
1.3.2.
Tư tưởng phân quyền thời kỳ Cách mạng tư sản
30
1.3.2.1.
Tư tưởng phân quyền của John Locke
30
1.3.2.2.
Tư tưởng phân quyền của Montesquieu
33
1.3.2.3.
Tư tưởng phân quyền của một số tác giả khác
38
Chương 2
SỰ PHÂN CÔNG, PHỐI HỢP QUYỀN LỰC
TRONG TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
47
2.1.
Sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan quyền lực trong
Hiến pháp Việt Nam – những dấu hiệu của thuyết phân
quyền
48
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM
90
3.1.
Quan điểm chung về tổ chức quyền lực nhà nước
92
3.1.1.
Nguyên tắc/mục đích tối cao trong tổ chức quyền lực nhà
nước là phục vụ lợi ích của nhân dân
92
3.1.2.
Quyền lực nhà nước thống nhất vào nhân dân, do nhân dân
phân công thực hiện
94
3.2.
Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trung
ương trên cơ sở vận dụng những hạt nhân hợp lý của thuyết
phân quyền
96
3.2.1.
Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo hướng
chuyên nghiệp hoá
96
3.2.2.
Thay đổi nhiệm kỳ bầu cử, đảm bảo tính liên tục trong hoạt
động của Quốc hội
102
3.2.3.
Tăng cường chất vấn tại kỳ họp của Quốc hội, gắn với “truy
cứu trách nhiệm chính trị” đối với những người giữ chức vụ
1. đề tài:
,
.
, Th
.
2
nhà nước Việt
Nam.
.
:
.
, hành
:
; “
" v
.
.
3
3. :
.
:
-
.
-
.
-
.
:
Quyền lực là vấn đề đã được các nhà tư tưởng đề cập đến từ rất sớm
trong triết học và chính trị học. Đã có nhiều quan điểm được đưa ra xung
quanh vấn đề này, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào về
quyền lực được chính thức thừa nhận một cách rộng rãi, các quan điểm đưa ra
chưa nhận được sự thống nhất của đông đảo những nhà lý luận và nhà hoạt
động thực tiễn.
Từ thời Hy Lạp cổ đại, Aristote (384 – 322 TCN) – một trong các nhà
triết học vĩ đại nhất, đã đưa ra quan niệm về quyền lực với nội hàm rất rộng.
Theo ông, quyền lực là yếu tố không chỉ có trong thế giới biết cảm giác, mà
quyền lực còn tồn tại trong cả giới vô cơ, tức là ngay cả những vật vô tri, vô
giác trong thế giới tự nhiên cũng có quyền lực, có khả năng tác động đến
những sự vật khác. Có thể thấy quan điểm của Aristote về quyền lực rất gần
với quan điểm về mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng của chủ
nghĩa Mác – Lênin.
Sau Aristote, các nhà tư tưởng thường quan niệm về quyền lực với nội
hàm hẹp hơn nhiều, đa số ý kiến đều cho rằng quyền lực là yếu tố đặc trưng
trong xã hội loài người, không tồn tại trong thế giới tự nhiên. Tuy vậy, khi
đưa ra các định nghĩa về quyền lực, vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau:
Theo cuốn Bách khoa triết học Liên Xô, quyền lực là khả năng thực
hiện ý chí của mình có tác động đến hành vi của của người khác nhờ một
phương tiện nào đó như uy tín, sức mạnh. Theo B.Russel, một nhà xã hội học
6
người Anh, thì quyền lực là khả năng tạo ra những sản phẩm một cách có chủ
ý. Trong khi đó, các nhà chính trị học và xã hội học của Mỹ lại quan niệm
khác, họ cho rằng, quyền lực là cái mà nhờ đó người khác phải phục tùng
(Robert Dahl), hoặc quyền lực là khả năng đạt tới kết quả nhờ một hành động
phối hợp (Lebi Clipson), hoặc quyền lực là cái buộc người khác phải hành
động theo ý của ta (A.Toffer)
Ngay ở Việt Nam cũng có những định nghĩa khác nhau về quyền lực.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, được Nhà xuất bản Khoa học
và có người phục tùng thì các hoạt động chung mới có thể đạt được kết quả.
Chính hoạt động sơ khai mang tính tổ chức xã hội đó là tiền đề và là biểu hiện
ban đầu, đơn giản nhất của quyền lực.
Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chứng minh một cách khoa học rằng, trong
xã hội nguyên thủy, thị tộc là tế bào đầu tiên và là cơ sở của xã hội này. Đây
là hình thức tự quản ở mức độ thấp, nhưng để tổ chức và điều hành hoạt động
xã hội, thì thị tộc cũng đã sử dụng đến quyền lực và một hệ thống quản lý
quyền lực, tuy còn rất đơn giản, gồm Hội đồng thị tộc và các Tù trưởng.
Trong xã hội nguyên thủy, quyền lực của các thị tộc có hiệu lực cao và được
đảm bảo bằng sự cưỡng chế của cả cộng đồng, nó hoàn toàn thuộc về xã hội,
phục vụ lợi ích của cả cộng đồng và không tồn tại bộ máy cưỡng chế riêng.
Đó là quyền lực xã hội.
Xã hội càng phát triển, các quan hệ, thiết chế xã hội trở nên phong phú
hơn, thì cấu trúc quyền lực trong xã hội cũng càng trở nên phức tạp hơn. Các
loại quyền lực trong xã hội tồn tại đan xen, chi phối lẫn nhau và cùng tác
8
động đến hành vi của con người, trong đó đáng chú ý nhất là quyền lực nhà
nước – quyền lực được thực hiện bởi nhà nước.
Khi xã hội diễn ra sự phân hoá sâu sắc và các mâu thuẫn đối kháng
trở nên gay gắt đến mức không thể điều hoà được, để đáp ứng yêu cầu quản lý
xã hội đòi hỏi phải có một thiết chế mới, thay thế thị tộc và có đủ sức mạnh
để điều hoà mâu thuẫn giữa các lực lượng đối lập trong xã hội, kìm chế xung
đột trong một giới hạn nhất định, đảm bảo cho xã hội có thể tồn tại và phát
triển. Thiết chế mới đáp ứng yêu cầu đó chính là Nhà nước.
Như vậy, sự ra đời của nhà nước là để đáp ứng yêu cầu khách quan của
xã hội, đồng thời với chức năng bảo vệ lợi ích của giai cấp đã thiết lập ra nó,
nhà nước còn có chức năng vô cùng quan trọng và không thể thay thế là giữ
gìn trật tự, an ninh xã hội. Hoạt động của nhà nước là hoạt động quản lý xã
hội, tức là quản lý con người và điều khiển hành vi của con người. Để hoạt
động đó đạt được kết quả, nhà nước cần phải nắm trong tay quyền lực rất lớn,
toàn quyền quyết định tất cả mọi việc trong xã hội. Nhà vua có thể thâu tóm
mọi quyền hành, từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp và thực thi nó một cách
tùy tiện theo ý chí của cá nhân ông ta. Nhà vua có thể tự mình ban hành
những đạo luật hà khắc nhất, hoặc những chiếu chỉ, thậm chí là "khẩu dụ" về
bất kỳ việc gì, buộc các thần dân phải tuyệt đối chấp hành. Nhà vua cũng là
người trực tiếp điều hành công việc hàng ngày của đất nước thông qua việc
phê duyệt các tấu chương và các buổi thiết triều. Nhà vua cũng là vị quan tòa
tối cao có quyền quyết định sự sống, chết của bất kỳ thần dân nào. Cách thức
tổ chức quyền lực nhà nước như vậy chính là mô hình phổ quát của chế độ
chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến – một chế độ mà nhà vua đứng trên cả
10
pháp luật và tạo nên một chính thể quân chủ chuyên chế.
Trong chính thể quân chủ hạn chế (còn gọi là quân chủ lập hiến), nhà
vua không thể thâu tóm quyền lực như trong chế độ quân chủ chuyên chế,
quyền lực của nhà vua bị hạn chế bởi các thiết chế khác như cơ quan đại diện
đẳng cấp, Quốc hội hoặc Hiến pháp. Sự hạn chế quyền lực của nhà vua được
thể hiện qua việc nhà vua phải tham khảo ý kiến của cơ quan đại diện đẳng
cấp khi tăng thuế, khi thay đổi hoặc ban hành luật mới; hoặc quyền lực nhà
vua bị hạn chế trong lĩnh vực lập pháp (được giao cho Quốc hội) và tư pháp
(giao cho toà án), song lại được mở rộng về hành pháp. Trong thế giới hiện
đại, chính thể quân chủ có xu hướng suy yếu dần và hình thức phổ biến của
quân chủ hạn chế là chính thể quân chủ đại nghị, trong đó mặc dù vẫn có nhà
vua (hoặc nữ hoàng) với tư cách nguyên thủ quốc gia, nhưng về thực chất
quyền lực của nhà vua chỉ mang tính hình thức – một kiểu quyền lực hành
pháp tượng trưng theo nguyên tắc "Nhà vua trị vì nhưng không cai trị".
Trong chính thể cộng hòa, việc tổ chức quyền lực nhà nước có nhiều
tiến bộ hơn so với chính thể quân chủ, vì việc tổ chức nhà nước này cố gắng
đoạn tuyệt với cách thức tổ chức của chế độ phong kiến. Không còn sự trị vì
của nhà vua hay nữ hoàng theo chế độ thế tập truyền ngôi, mà nguyên thủ
quốc gia được lựa chọn thông qua bầu cử. Ở các nước theo chế độ cộng hòa,
tách thành các nhánh quyền lực riêng rẽ gồm lập pháp, hành pháp, tư pháp, và
các quyền lực đó được giao cho các cơ quan nhà nước khác nhau, ngang bằng
nhau, độc lập và kiềm chế đối trọng nhau trong quá trình thực thi quyền lực.
Phân quyền chính là thành tựu to lớn của con người trong quá trình tìm kiếm
một giải pháp tổ chức quyền lực nhà nước, nhằm tránh cho nó lâm vào tình
trạng tha hóa, tránh sự lạm dụng của những người nắm quyền lực và vì mục 1
Điều 83 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992
12
tiêu bảo vệ nhân quyền. Thực tế đã chứng minh đây là phương thức tổ chức
quyền lực nhà nước khoa học, hiện nay, ở các mức độ khác nhau được nhiều
nước phát triển trên thế giới vận dụng vào tổ chức bộ máy quyền lực của
mình.
1.2. Sự cần thiết phải phân chia quyền lực nhà nước.
1.2.1. Nhà nước - sự cần thiết và nguy cơ tha hóa.
"Cuộc sống mà không có nhà nước hiệu lực để duy trì trật tự, thì
rất đơn độc, nghèo nàn, đồi bại, tàn bạo và ngắn ngủi".
Thomas Hobbes (1588 - 1679), nhà triết học và xã hội học người Anh
đã viết như vậy trong tác phẩm nổi tiếng mang tên "Leviathan"
2
của mình để
khẳng định vai trò quan trọng của nhà nước đối với cuộc sống của con người.
Không chỉ Thomas Hobbes, mà các nhà triết học khác trên thế giới,
thuộc các trường phái khác nhau, dù không thống nhất trong quan điểm về
nguồn gốc nhà nước, nhưng tư tưởng của họ đều thể hiện một sự thống nhất
rằng: Nhà nước là một thiết chế thiết yếu đối với sự tồn tại của xã hội loài
người.
Chủ nghĩa Mác giải thích sự ra đời của các nhà nước khuôn mẫu ở
trì trật tự chung trong xã hội, phục vụ và bảo vệ lợi ích của các thành viên đó
theo các điều khoản đã thỏa thuận. Tư tưởng về khế ước xã hội của các học
giả tư sản ra đời vào khoảng thế kỷ 16, phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ 17,
18, thật sự có tính cách mạng, là cơ sở tư tưởng quyết định của cách mạng tư
sản, lật đổ ách thống trị của giai cấp phong kiến. Tư tưởng đó được thể hiện
rất rõ trong bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776:
“Chúng ta thừa nhận những chân lý tự nhiên rằng tất cả mọi người
đều sinh ra bình đẳng, rằng tạo hóa cho họ những quyền không thể tước đoạt,
đó là quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
“Để bảo đảm những quyền này, các chính phủ được lập ra trong
nhân dân và có được những quyền lợi chính đáng trên cơ sở nhất trí của nhân 3
Nguyễn Cửu Việt (chủ biên), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2003, tr. 33.
4
Ph.Ăngghen – Chống Đuyrinh, NXB Sự thật, Hà Nội, 1984, tr. 148
14
dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền đó phá vỡ những mục tiêu
này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên
một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũng như tổ chức
thực thi quyền hành theo một thể thức sao cho có hiệu quả nhất đối với an
ninh và hạnh phúc của họ”
Sự ra đời của nhà nước là xuất phát từ nhu cầu của xã hội, nhằm đáp
ứng những đòi hỏi khách quan của cuộc sống về sự an toàn, trật tự và ổn định
chung. Với ý nghĩa như vậy, thì đòi hỏi của xã hội đối với nhà nước tất nhiên
không chỉ là một sự hiện diện đơn thuần, mà cùng với sự hiện diện đó, nhà
nước phải có đầy đủ các yếu tố đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả trong hoạt
động của nó. Nếu không có nhà nước, hoặc giả có tồn tại nhà nước mà bản
Đivoa có thể cảm thấy có ít liên hệ với chính phủ của mình và không có liên
hệ gì với nhau cả. Chính phủ đã tác động đến cuộc sống của họ chỉ ở mức độ
là cung cấp một số hàng hoá công cộng cổ điển, như luật pháp và trật tự và
cơ sở hạ tầng cơ bản, và thu thuế từ họ.
“Ngày nay, nhà nước đã mở rộng rất nhanh chóng – và thế giới đã co
lại. Con cháu của chính những người nông dân này gửi con cái mình đến
những trường học do Chính phủ quản lý, được điều trị y tế ở những bệnh viện
chuyên khoa được nhà nước cung cấp và có thể được lợi từ những biện pháp
kiểm soát giá của chính phủ đối với hạt giống và phân bón mà họ mua hay
lúa mì và cà phê mà họ bán. Vì vậy, những thế hệ sau của người Canada và
người Cốt Đivoa chắc chắn là quan tâm ở mức độ lớn hơn nhiều cha ông của
họ đến tính hiệu quả của chính phủ và đến những kiểm tra và cân đối của về
16
những quyết định của chính phủ. Và chắc chắn là họ nhận thức rõ hơn về khả
năng so sánh giữa kết quả thực hiện của chính phủ của họ và kết quả thực
hiện của những chính phủ khác.”
5
Trong xã hội hiện đại, với tư cách là một tổ chức quyền lực công, nhà
nước càng khẳng định vai trò không thể thiếu của nó trong gìn giữ an ninh,
trật tự, thực hiện phúc lợi công cộng, chống đói nghèo, phòng chống dịch
bệnh, bảo vệ môi trường , bảo đảm sự phát triển về mọi mặt của đời sống xã
hội, thúc đẩy sự tiến bộ chung của nhân loại. Khẳng định điều đó, ông James
D.Wulfenson – Chủ tịch Ngân hàng thế giới, trong Lời nói đầu của bản báo
cáo của cơ quan này với tiêu đề “Nhà nước trong một thế giới đang chuyển
đổi” đã viết: “Lịch sử đã liên tiếp chứng minh rằng chính phủ tốt không phải
là món xa xỉ, mà là một nhân tố cần thiết. Nếu không có một nhà nước hiệu
quả thì sẽ không thể có phát triển kinh tế và xã hội được”.
Như vậy, rõ ràng nhà nước là rất cần thiết cho cuộc sống. Để tồn tại
và phát triển, trong cả hiện tại và tương lai (hoặc ít nhất là cho đến khi xây
đáo hơn, nhưng nguy cơ tha hoá quyền lực nhà nước thì vẫn chưa bao giờ
hết. Biểu hiện của sự tha hoá quyền lực ở các nhà nước hiện đại, chủ yếu là
vấn đề tham nhũng của các công chức nhà nước, sự tuỳ tiện, lạm dụng chức
vụ, quyền hạn được nhà nước giao cho để mưu lợi cá nhân, vì bản thân họ
hoặc vì bạn bè, người thân của họ hoặc một nhóm người nào đó, mà họ có
quan hệ mật thiết.
Khẳng định về nguy cơ tha hoá quyền lực, Báo cáo của Ngân hàng thế
giới năm 1997, có đoạn viết:
“Một nhà nước hoạt động có hiệu quả có thể đóng góp rất nhiều cho
sự phát triển bền vững và giảm đói nghèo. Nhưng chẳng có đảm bảo nào cho
rằng mọi can thiệp của nhà nước đều sẽ mang lại lợi ích cho xã hội. Độc
18
quyền của nhà nước về cưỡng chế, cái mang lại cho nhà nước quyền lực can
thiệp một cách có hiệu lực vào hoạt động kinh tế, cũng mang lại cho nhà
nước quyền can thiệp một cách độc đoán, chuyên quyền. Quyền lực này, cộng
với việc thâm nhập nguồn thông tin, mà dân chúng bình thường không có
được, tạo ra những cơ hội cho các công chức xúc tiến các lợi ích riêng của họ
hay những bạn bè hoặc đồng minh của họ, làm thiệt hại cho lợi ích chung.
Những khả năng kiếm lợi và tham nhũng là rất lớn. Do đó, các nước phải cố
gắng thiết lập và nuôi dưỡng những cơ chế mang lại cho các cơ quan nhà
nước sự mềm dẻo và sự khuyến khích để hoạt động vì lợi ích chung, đồng thời
kiềm chế những hành vi độc đoán tham nhũng trong cách cư xử với các
doanh nghiệp và công dân”
6
Vậy đâu là nguyên nhân của nguy cơ tha hóa quyền lực nhà nước?
Câu trả lời được tìm thấy trên hai khía cạnh:
Trước hết là từ bản thân quyền lực nhà nước. “Lỗi” của nó là mang
trong mình một khả năng quá lớn để có thể thoả mãn những tham vọng lớn
lao của con người, nó khiến cho con người phải thèm khát. “Ma lực” của
sau: " thật ra con Leviathan này là một tác phẩm nghệ thuật, cái mà người
ta gọi là Quốc gia, hay bằng tiếng Latinh là Civitas, và nó không là gì khác
hơn là một con người giả tạo, mặc dù nó cao lớn hơn và có sức mạnh nhiều
hơn là con người tự nhiên, được tạo ra và che trở cho con người tự nhiên này.
Nơi con Leviathan này có chủ quyền là một linh hồn giả tạo, bởi vì nó cho sự
sống và cử động cho toàn thân Phần thưởng và sự trừng phạt là gân cốt của
nó. Sự giàu sang và tài sản của những cá nhân hợp thành sức mạnh của nó.
Hạnh phúc của nhân dân là nhiệm vụ của nó Sự công bằng và luật pháp là
ý chí giả tạo của nó. Sự hòa hợp là sức mạnh của nó, sự hỗn loạn là bệnh
hoạn của nó, và nội chiến là cái chết của nó.”
7
7
Jean Jacques Chevallier: Les grandes œuvres politiques (Bản Việt dịch“Những danh tác chính trị” của
Giáo sư Lê Thanh Hoàng Dân,Giaos sư Nguyễn Văn Bông đề tựa, NXB Trẻ, Chợ Lớn 1971, tr.100)
20
Ở nhiều nước phương Đông, do sự ngự trị của Đạo Khổng
8
trong một
thời gian dài của lịch sử, cho rằng những người làm quan, thì đều là những
người có đạo đức hơn người dân bình thường. Họ được coi là những kẻ sỹ,
những bậc chính nhân, quân tử, luôn hơn hẳn những khác về cả trí và đức.
Những người theo đạo Khổng không hiểu (hoặc vì lợi ích giai cấp mà cố tình
không hiểu) rằng, tất cả người quyền cao chức trọng đó, cũng như bất kỳ
người bình thường nào, đều có thói hư, tật xấu. Thậm chí họ có thể có đạo
đức kém hơn bất kỳ người dân nào khác và họ dễ bị tha hóa hơn dân thường
rất nhiều vì trong tay họ nắm quyền lực - một thứ công cụ đầy ma lực, dễ đẩy
người ta đến chỗ đam mê mù quáng. Từ cổ chí kim, đã có không biết bao
cao, đặc biệt là nạn tham nhũng trong bộ máy nhà nước hiện nay đã rất trầm
trọng và trở thành quốc nạn, gây rất nhiều bức xúc trong nhân dân. Mặc dù
Đảng, nhà nước đã nhiều lần lên tiếng quyết tâm chống tham nhũng, đã có
những giải pháp được đưa ra, thậm chí một đạo luật riêng (Luật phòng, chống
tham nhũng) đã được ban hành, một thiết chế riêng (Ban phòng, chống tham
nhũng) đã được thành lập, nhưng kết quả thu được vẫn rất hạn chế. Đảng và
Nhà nước dường như vẫn chưa tìm ra được liều thuốc hữu hiệu để điều trị
hiệu quả căn bệnh tham nhũng này.
Từ những điều phân tích ở trên, có thể nhận thấy rằng nhà nước là
một thiết chế rất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, quyền lực
nhà nước là yếu tố không thể thiếu để quản lý xã hội vì lợi ích chung của cộng
đồng. Nhưng, bên cạnh sự cần thiết đó, luôn luôn tiềm ẩn nguy cơ của sự tha
hoá quyền lực nhà nước, bất kỳ lúc nào, những người nắm quyền lực cũng có
thể lạm dụng nó để mưu cầu cá nhân mà gây hại cho cộng đồng. Thực tế này
đã hối thúc loài người tìm kiếm không mệt mỏi một cơ chế tổ chức quyền lực
nhà nước sao cho hạn chế những khả năng xấu xảy ra, tránh sự tha hoá quyền
lực và bảo vệ nhân quyền. Một giải pháp được tìm ra bởi các nhà tư tưởng
phương Tây đã trở thành nguyên tắc tổ chức bộ máy của nhiều nước phát
triển là phân chia quyền lực. Phân chia quyền lực nhằm bảo vệ nhân quyền.
1.2.2. Phân quyền - giải pháp giảm thiểu sự tha hóa quyền lực nhà
nước.
1.2.2.1. Hạn chế quyền lực nhà nước để chống nguy cơ tha hóa.
Như đã trình bày ở trên, sự “tha hóa quyền lực nhà nước” được hiểu
là một trạng thái của quyền lực nhà nước, trong đó quyền lực không được sử
dụng vì lợi ích cộng đồng như mục đích ban đầu sinh ra nó, mà bị biến thành