BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
HOÀNG QUANG HÀM HOμN THIÖN Tæ CHøC KIÓM TO¸N Dù TO¸N NG¢N S¸CH
NHμ N¦íC CñA KIÓM TO¸N NHμ N¦íC VIÖT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2014
B GIO DC V O TO B TI CHNH
HC VIN TI CHNH
nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Hoàng Quang Hàm
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, hình
MỞ ĐẦU 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KIỂM TOÁN
DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC 16
1.1. TỔNG QUAN VỀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 16
1.1.1. Bản chất của ngân sách nhà nước 16
1.1.2. Mối quan hệ giữ
a ngân sách nhà nước với các quĩ tài chính nhà nước
ngoài ngân sách và các đối tượng thụ hưởng ngân sách nhà nước 18
1.1.3. Những lý luận cơ bản về dự toán ngân sách nhà nước và lập dự toán
ngân sách nhà nước 21
1.2. TỔ CHỨC KIỂM TOÁN DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA
KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC 32
1.2.1. Khái quát về kiểm toán nhà nước và vai trò của kiểm toán nhà nước
đối với dự toán ngân sách nhà nước 32
lập, liên quan đến nhiều cơ quan, đơn vị và là văn bản pháp lý có
tính chuyên môn cao đồng thời hoàn thành khi được Quốc hội
quyết định 92
2.2.5. Dự toán ngân sách nhà nước Việt Nam là dự toán ngân sách của toàn
bộ quốc gia bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương 94
2.3. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KIỂM TOÁN DỰ
TOÁN NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 96
2.3.1. Khái quát kết quả tổ chức kiểm toán dự toán ngân sách nhà nước 96
2.3.2. Thực trạng tổ chức kiểm toán dự toán ngân sách nhà nước 101
2.3.3. Đánh giá thực trạng tổ chức kiểm toán dự toán ngân sách nhà nước
của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam 113
2.4. KINH NGHIỆM TỔ CHỨC KIỂM TOÁN DỰ TOÁN NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 121
2.4.1. Tổ chức kiểm toán d
ự toán ngân sách của Kiểm toán Nhà nước
Hungary 121
2.4.2. Tổ chức kiểm toán dự toán dự toán ngân sách nhà nước của Kiểm
toán Nhà nước Cộng hoà Liên bang Đức 123
2.4.3. Những bài học kinh nghiệm đối với Kiểm toán Nhà nước Việt Nam 125
Kết luận Chương 2 128
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC
KIỂM TOÁN DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 129
3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KIỂM TOÁN DỰ TOÁN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦ
A KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 129
3.1.1. Quan điểm đổi mới công tác lập, thẩm định và quyết định dự toán
ngân sách nhà nước của Việt Nam 129
3.1.2. Định hướng phát triển của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam thời gian tới 132
3.1.3. Nguyên tắc, yêu cầu hoàn thiện tổ chức kiểm toán dự toán ngân sách
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN HĐND Hội đồng nhân dân
INTOSAI Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao
KTNN Kiểm toán Nhà nước
KTV Kiểm toán viên
NCKH Nghiên cứu khoa học
NSĐP Ngân sách địa phương
NSNN Ngân sách Nhà nước
NSTW Ngân sách Trung ương
UBND Ủy ban nhân dân
XDCB Xây dựng cơ bản
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH TRONG LUẬN ÁN Số hiệu
Nội dung Trang
Bảng 1.1: Nhiệm vụ kiểm soát chất lượng kiểm toán theo các cấp độ
kiểm soát 73
Bảng 3.1: Phân công nhiệm vụ để tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm toán
dự toán NSNN 148
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước 81
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức thực hiện nhiệm vụ của KTNN để trình ý kiến về
dự toán NSNN 103
như kiể
m toán các chuyên đề chuyên sâu, kiểm toán các dự án đầu tư trong quá
trình triển khai thực hiện dự án Đặc biệt điều 15 Luật KTNN quy định KTNN
có nhiệm vụ trình ý kiến của KTNN để Quốc hội xem xét, quyết định dự toán
ngân sách nhà nước (NSNN), quyết định phân bổ ngân sách trung ương
(NSTW), quyết định dự án, công trình quan trọng quốc gia, phê chuẩn quyết
toán NSNN; tham gia với Uỷ ban kinh tế và ngân sách của Quốc hội (nay là Ủy
ban Tài chính ngân sách) và các cơ quan khác của Quốc h
ội, Chính phủ trong
việc xem xét, thẩm tra báo cáo về dự toán NSNN, phương án phân bổ NSTW,
phương án điều chỉnh dự toán NSNN, phương án bố trí ngân sách cho dự án,
2
công trình quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định. Những quy định này là
tiền đề để KTNN kiểm toán hiệu quả dự toán NSNN.
Trong những năm gần đây chất lượng dự toán NSNN ngày càng được nâng
cao góp phần vào việc nâng cao chất lượng quản lý ngân sách, tạo nên nhiều
chuyển biến tích cực trong quản lý thu NSNN và góp phần thay đổi cơ cấu chi
theo hướng tích cực. Tuy nhiên dự toán thu, chi NSNN còn khá nhiều hạn chế làm
ảnh hưởng đến công tác qu
ản lý, điều hành NSNN, giảm hiệu quả sử dụng ngân
sách và chính sách tài khóa.
Những hạn chế trong dự toán NSNN đặt ra nhiệm vụ cho KTNN phải tham
gia sâu, rộng vào quá trình lập, thẩm định dự toán NSNN. Với qui định trong Luật
KTNN, KTNN đã có đủ căn cứ pháp lý để tiến hành kiểm toán dự toán NSNN và
thực tế cho thấy KTNN đã có nhiều đóng góp cho công tác quản lý, điều hành
NSNN của các cấp chính quyền và giám sát ngân sách của Quốc hội và Hộ
i đồng
nhân dân (HĐND) các cấp, trong đó có việc cung cấp thông thông tin, tài liệu cho
Quốc hội quyết định dự toán NSNN hàng năm. Tuy nhiên, chất lượng kiểm toán
Luận án giới hạn việc nghiên cứu trong phạm vi tổ chức kiểm toán báo cáo
dự toán NSNN do Chính phủ trình Quốc hội là báo cáo dự toán của toàn bộ
NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách chính quyền địa phương do
KTNN Việt Nam tổ chức thực hiện kiểm toán.
Thời kỳ nghiên cứu để đánh giá việc tổ chức kiểm toán d
ự toán NSNN là từ
khi KTNN Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động (1994) trong đó tập
trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2006 (là năm Luật KTNN bắt đầu có hiệu lực
thi hành) đến năm 2013.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận án tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực
tiễn về kiểm toán dự toán NSNN và tổ chức kiểm toán dự toán NSNN như:
Thứ nhất
, trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản, luận án
phát triển và bổ sung thêm lý luận về tổ chức kiểm toán dự toán NSNN.
Thứ hai, trên cơ sở khảo sát thực tiễn, luận án đánh giá thực trạng về tổ
chức kiểm toán dự toán NSNN của KTNN Việt Nam đồng thời chỉ ra những tồn
tại, hạn chế từ đó rút ra những bài họ
c kinh nghiệm để tổ chức kiểm toán dự toán
NSNN một cách có hiệu quả;
Thứ ba, luận án đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng tổ chức kiểm toán
dự toán NSNN của KTNN Việt Nam và điều kiện thực hiện các giải pháp đó;
Thứ tư, luận án là công trình nghiên cứu khoa học (NCKH) chuyên sâu, có
giá trị lý luận và thực tiễn về tổ chức kiểm toán dự toán NSNN của KTNN Việt
Nam,
đồng thời là tiền đề để phát triển các nghiên cứu tiếp theo.
4
Thứ năm, luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu,
giảng dạy tại các trường Đại học, Viện nghiên cứu và là tài liệu tham khảo cho các
kinh tế - xã hội, pháp luật về NSNN và về KTNN của Việt Nam.
5
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan về vấn đề
nghiên cứu, kết luận, danh mục
công trình đã công bố của tác giả có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, nội dung chính của luận án gồm 3 chương (162 trang).
Chương 1: Những lý luận cơ bản về tổ chức kiểm toán dự toán ngân sách
nhà nước của Kiểm toán nhà nước (59 trang).
Chương 2: Thực trạng tổ chức kiểm toán dự toán ngân sách nhà nước của Kiểm
toán nhà nước Việt Nam và kinh nghi
ệm của một số nước trên thế giới (54 trang).
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức kiểm toán dự toán
ngân sách nhà nước Việt Nam (49 trang).
6
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
giúp Quốc hội, HĐND thẩm đị
nh dự toán ngân sách; đề tài cũng nêu các giải
pháp để nâng cao vai trò của KTNN đối với dự toán NSNN. Tuy nhiên đề tài
7
chưa đề cập nhiều đến kiểm toán dự toán NSNN và chưa đề cập đến tổ chức
kiểm toán dự toán NSNN, cụ thể: Đề tài chưa đề cập đến thực trạng kiểm
toán dự toán NSNN (do năm 2005, Luật KTNN chưa ban hành nên KTNN
chưa có nhiệm vụ kiểm toán dự toán NSNN), chưa đề cập đến nội dung kiểm
toán dự toán NSNN, loại hình kiểm toán áp dụng khi kiểm toán dự toán
NSNN, qui trình kiểm toán dự
toán ngân sách Nhà nước; chưa đề cập đến tổ
chức bộ máy nhân sự để kiểm toán dự toán NSNN, tổ chức kiểm toán theo
qui trình kiểm toán dự toán NSNN và tổ chức kiểm soát chất lượng kiểm
toán dự toán
ngân sách Nhà nước.
- Đề tài NCKH cấp Bộ năm 2008 “Tổ chức kiểm toán dự toán ngân
sách nhà nước” do TS. Mai Vinh, Kiểm toán trưởng KTNN Khu vực I,
KTNN làm chủ nhiệm. Đề tài đã đi sâu nghiên cứu về dự toán NSNN và
kiểm toán dự toán NSNN trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn. Về
phương diện lý luận, các tác giả đã khái quát về dự toán NSNN; nội dung
của dự toán NSNN; căn cứ, qui trình và một số phương pháp lập d
ự toán
NSNN; các nhân tố ảnh hưởng đến dự toán NSNN trên cơ sở đó đi sâu
nghiên cứu về kiểm toán dự toán NSNN như vai trò của KTNN trong quá
trình xây dựng và thẩm định dự toán NSNN; những đặc trưng cơ bản của dự
toán NSNN chi phối đến tổ chức kiểm toán dự toán NSNN; về tổng kết thực
tiễn, đề tài đi sâu đánh giá thực trạng lập, thẩm định và quyết định d
ự toán
NSNN, thực trạng công tác kiểm toán dự toán NSNN của KTNN. Trên cơ sở
kiểm toán dự toán NSNN; đối tượng và căn cứ kiểm toán dự toán NSNN.
Luận văn cũng đã tổng kết, đánh giá thực trạng hoạt động thẩm tra dự toán
NSNN, thực trạng Qui trình kiểm toán và công tác kiểm toán dự toán NSNN.
Từ việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn Luận văn đã nêu rõ sự c
ần
thiết phải kiểm toán dự toán NSNN; nguyên tắc, yêu cầu xây dựng Qui trình
kiểm toán dự toán
ngân sách Nhà nước của KTNN và đề xuất xây dựng qui
trình kiểm toán dự toán
ngân sách Nhà nước của KTNN đồng thời đề xuất
các nội dung của qui trình kiểm toán dự toán NSNN cũng như đề xuất các
giải pháp, điều kiện để thực hiện và nâng cao chất lượng, hiệu lực công tác
kiểm toán dự toán
ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên do đề tài hoàn thành khi
Luật KTNN vừa có hiệu lực thực hiện nên chưa đề cập nhiều đến kiểm toán
dự toán NSNN và chưa đề cập đến tổ chức kiểm toán dự toán
ngân sách Nhà
9
nước
, cụ thể: Đề tài chưa nêu được thực trạng kiểm toán dự toán NSNN;
chưa đề cập được rõ nét và toàn diện về nội dung kiểm toán dự toán NSNN,
loại hình kiểm toán áp dụng khi kiểm toán dự toán NSNN; chưa đề cập đến
tổ chức bộ máy nhân sự để kiểm toán dự toán NSNN, tổ chức kiểm toán theo
qui trình kiểm toán dự toán NSNN, tổ chức kiểm soát chất lượng kiểm toán
dự toán
ngân sách Nhà nước.
Đối với một số bài viết trong một số hội thảo có liên quan đến NSNN,
dự toán NSNN và kiểm toán NSNN, dự toán NSNN cũng đề cập đến một số
nội dung có thể tham khảo, kế thừa khi nghiên cứu Luận án, cụ thể:
của PGS, TS Đặng Văn Thanh chủ tịch hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam
với tiêu đề "Vai trò của kiểm toán nhà nước trong việc nâng cao hiệu quả,
hi
ệu lực quản lý tài chính nhà nước"; bài tham luận của PGS.TS Trần Đình
Thiên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam với tiêu đề "ngân sách nhà nước
và kiểm toán nhà nước" Bên cạnh những thành công nêu trên các bài viết
đều chưa đề cập đến nội dung kiểm toán dự toán NSNN, loại hình kiểm toán
áp dụng khi kiểm toán dự toán NSNN, qui trình kiểm toán dự toán NSNN;
chưa đề cập đến tổ chức bộ máy nhân sự để kiểm toán dự toán NSNN, tổ
ch
ức kiểm toán theo qui trình kiểm toán dự toán NSNN, tổ chức kiểm soát
chất lượng kiểm toán dự toán NSNN
Bài tham luận của Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước Lê Hoàng Quân
"KTNN với việc giúp Quốc hội xem xét quyết định dự toán NSNN" trình
bày tại hội thảo "Vai trò của KTNN trong việc hỗ trợ Quốc hội, HĐND
quyết định dự toán NSNN hàng năm" do KTNN và Ủy ban Tài chính - Ngân
sách của Quốc hội tổ chức tháng 10/2011 tại Hà Nội. Bài tham luận đã nêu
m
ột số hạn chế, tồn tại về tình hình lập dự toán NSNN và chấp hành dự toán
NSNN qua kết quả kiểm toán của KTNN và chỉ ra những nguyên nhân của
những tồn tại, hạn chế đó; bài viết cũng nêu một số giải pháp để KTNN phát
huy vai trò trong việc giúp Quốc hội xem xét, quyết định dự toán NSNN. Bài
viết có nhiều nội dung có thể kế thừa để phát triển thành những giải pháp
hoàn thiện tổ ch
ức kiểm toán dự toán ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên là bài
viết trong khuôn khổ một hội thảo nên chưa đề cập nhiều và rõ nét về thực
trạng kiểm toán dự toán NSNN; chưa đề cập đến nội dung kiểm toán dự toán
NSNN, loại hình kiểm toán áp dụng khi kiểm toán dự toán NSNN, qui trình
kiểm toán dự toán
ngân sách Nhà nước; chưa đề cập đến tổ chức bộ máy
Do các quốc gia có KTNN phát triển hầu hết tổ chức nhà nước theo
mô hình liên bang và dự toán NSNN của liên bang chỉ bao gồm NSTW nên
việc lập dự toán NSNN đơn giản hơn và dễ kiểm soát hơn các nước tổ chức
nhà nước theo mô hình đơn nhất như ở Việt Nam (lập dự toán NSNN bao
gồm cả NSTW và ngân sách địa phương (NSĐP). Vì vậ
y ở các nước này,
việc tham gia của KTNN vào quá trình lập, thẩm định, quyết định dự toán
12
NSNN không quá phức tạp khi chỉ phải đánh giá dự toán NSNN mà chủ yếu
là ngân sách của trung ương được tổng hợp từ dự toán của các bộ, ngành. Và
đây cũng là thực tế dẫn đến ít có công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan
đến tổ chức kiểm toán dự toán NSNN. Những công trình nghiên cứu của các
tác giả liên quan đến kiểm toán dự toán NSNN của nước ngoài mà nghiên
cứu sinh có điều kiện tiếp cận là:
- Báo cáo của đoàn cán bộ, ki
ểm toán viên (KTV) của KTNN Việt
Nam đi nghiên cứu học tập về kiểm toán dự toán NSNN tại Hungary và
Cộng hòa Liên bang Đức năm 2006. Trong báo cáo đã nêu khái quát qui
trình lập dự toán NSNN của Hungary và Cộng hòa Liên Bang Đức và khẳng
định vai trò tư vấn quan trọng của KTNN để Quốc hội quyết định dự toán
NSNN. Đồng thời báo cáo cũng nêu rõ việc tham gia của KTNN của hai
nước vào quá trình lập dự toán; cách thức KTNN của hai nước tham gia vào
quá trình soạn lập ngân sách để thu thậ
p, thông tin nhằm đánh giá dự toán
ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên báo cáo hầu hết chỉ đề cập đến kiểm toán
dự toán NSNN chưa đề cập rõ nét đến tổ chức kiểm toán dự toán NSNN của
hai nước.
- Tài liệu hội thảo khoa học năm 2007 “Mối quan hệ giữa Kiểm toán
Nhà nước, Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội và Bộ Tài chính trong
TS.Pasl Csapodi về nội dung "Những thông tin về mối quan hệ giữa KTNN
Hungary và Quốc hội Hungary"; Báo cáo của ông Bihary Zsigmond của
KTNN Hungary về "Qui trình kiểm toán trong quá trình thông qua ngân
sách trung ương". Các bài tham luận trong hội thảo tập trung trình bày qui
trình lập dự toán NSNN của Hungary; một số bài viết nêu rõ mối quan hệ
của KTNN với Quốc hội trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và bài viết của
ông Bihary Zsigmond của KTNN Hungary đã đề cập đến qui trình kiểm toán
d
ự toán NSNN của KTNN Hungary. Tuy nhiên các bài tham luận cũng chưa
đề cập rõ nét đến tổ chức kiểm toán dự toán NSNN mà chủ yếu đề cập đến
việc tham gia của KTNN Hungary vào các bước của qui trình soạn lập
NSNN đồng thời do NSNN của của Hungary cũng không mang tính lồng
ghép như NSNN Việt Nam nên khi vận dụng kinh nghiệm của KTNN
Hungary vào hoạt động kiểm toán dự toán NSNN của KTNN Việt Nam phải
kế thừa có chọn lọc cho phù hợp với
điều kiện thực tiễn.
14
3. Đánh giá về các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến
tổ chức kiểm toán dự toán ngân sách nhà nước
Một số nghiên cứu, bài viết đã trình bày cơ sở lý luận về dự toán
NSNN và kiểm toán dự toán NSNN theo quy định pháp luật của một số quốc
gia như Việt Nam, Cộng hòa Liên bang Đức, Hungary Bên cạnh việc trình
bày khái niệm về dự toán NSNN, kiểm toán dự toán NSNN, các nghiên cứu
còn đề cập đến nội dung dự toán NSNN, căn c
ứ, phương pháp lập, qui trình
lập dự toán NSNN, các nhân tố ảnh hưởng đến dự toán NSNN. Đa số các ý
kiến đều có chung quan điểm về việc cần thiết phải kiểm toán dự toán
NSNN, nhấn mạnh vai trò của KTNN đối với quá trình xây dựng và thẩm
định dự toán NSNN.
m toán dự toán NSNN như tổ chức
bộ máy, nhân sự để tiến hành kiểm toán dự toán NSNN; tổ chức kiểm toán
theo qui trình kiểm toán dự toán NSNN; tổ chức kiểm soát chất lượng kiểm
toán dự toán NSNN để định hướng cho việc đánh giá những thành công, hạn
chế của KTNN Việt Nam trong việc tổ chức kiểm toán dự toán NSNN và từ
đó đề xuất giải pháp khắc phục. 16
Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KIỂM TOÁN DỰ TOÁN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
1.1. TỔNG QUAN VỀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Bản chất của ngân sách nhà nước
Thuật ngữ NSNN đã có từ lâu, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của
Nhà nước và nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ. Có hai giác độ cơ bản khi nhìn nhận về
NSNN như sau:
Thứ nhất, nếu dựa vào biểu hiện bên ngoài, NSNN là bảng dự toán thu, chi
bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường là m
ột năm)
do các cơ quan lập pháp (Quốc hội) quyết định [26, tr. 4]. NSNN là một quĩ tiền tệ
luôn gắn liền với chủ thể là Nhà nước; việc quản lý NSNN tuân theo một chu trình
mà trong đó dự toán NSNN luôn là khâu mở đầu và có vai trò đặc biệt quan trọng.
Thứ hai, nếu xét về bản chất và luôn đặt trong trạng thái động thì NSNN
được coi là khâu tài chính chủ đạo trong hệ thống tài chính Nhà nước, là kế hoạch
tài chính vĩ mô được Nhà nước sử
dụng để phân phối một bộ phận của cải xã hội
dưới hình thức giá trị nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã
không thực hiện được hoặc không được pháp luật cho phép thực hiện.
Từ những phân tích trên có thể khái niệm "NSNN là kế hoạch tài chính vĩ
mô, là khâu tài chính chủ đạo của hệ thống tài chính quốc gia. NSNN phản ánh
các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể trong nền kinh tế xã hội,
phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại của cải xã hội, nhằm tập trung
một phần nguồn lực tài chính vào trong tay Nhà nướ
c để đáp ứng các nhu cầu chi
gắn với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Quan hệ trong tạo
lập và sử dụng NSNN mang tính pháp lý cao và chủ yếu không mang tính hoàn trả
trực tiếp".
Theo Luật NSNN Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt nam thông qua ngày 16/12/2002 tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XI
"NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà n
ước đã được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước" [44, tr.1].
NSNN bắt đầu từ việc lập dự toán ngân sách, kế tiếp là chấp hành ngân sách
và cuối cùng là quyết toán NSNN. Trình tự này gọi là một chu trình ngân sách và
được lặp đi lặp lại có tính chu kỳ, khi năm ngân sách này kết thúc, thì năm ngân
sách mới lại bắt đầu nên các chu trình ngân sách luôn kế tiếp nhau và diễn ra liên
tục. Về thời gian, một chu trình ngân sách liên quan đến 3 năm ngân sách kế tiếp
nhau. Việc chấp hành ngân sách trùng với thời gian của năm ngân sách nhưng việc
lập ngân sách phải tiến hành trước khi bắt đầu năm ngân sách (có nghĩa là phải thực