Lời mở đầu
Là phân hệ thông tin trong hệ thống quản lý, tổ chức kế toán có vai trò cung
cấp những thông tin hữu ích về tình hình tài chính của đơn vị hạch toán thông qua hệ
thống ghi chép, tổng hợp trên chứng từ, sổ tài khoản và biểu mẫu báo cáo nhằm phục
vụ đắc lực cho công tác quản lý.
Trên cơ sở tìm hiểu tổ chức kế toán trong thực tế hoạt động của Xí nghiệp Dợc
phẩm 120, em đã chọn đề tài cho Chuyên đề thực tập môn học hạch toán kế toán của
mình là: "Hoàn thiện tổ chức kế toán tại Xí nghiệp Dợc phẩm 120 lấy tổ chức kế
toán vật liệu làm ví dụ", đồng thời thông qua mô tả thực tế kết hợp phân tích để đề
xuất ý kiến góp phần hoàn thiện tổ chức kế toán của đơn vị.
Với mục đích kết hợp lý luận và thực tiễn, củng cố và vận dụng kiến thức đã
học, đa ra những phân tích cụ thể và kiến nghị cho đơn vị, bài viết của em, ngoài Lời
mở đầu và Kết luận, gồm 3 phần chính:
Phần I: Lý luận chung tổ chức kế toán trong doanh nghiệp.
Phần II: Thực trạng tổ chức kế toán tại Xí nghiệp Dợc phẩm 120.
Phần III: Phơng hớng hoàn thiện tổ chức kế toán tại Xí nghiệp Dợc phẩm 120.
Với yêu cầu nghiên cứu thực tế trong phạm vi môn học hạch toán kế toán, em
đã sử dụng kết hợp các phơng pháp chung: phơng pháp nghiên cứu quan hệ biện
chứng giữa kế toán với bộ phận quản lý và giữa các phần hành kế toán với nhau...và
các một số phơng pháp riêng nh: mô tả và phân tích, sơ đồ và bảng biểu...để minh
hoạ và hoàn thiện Chuyên đề thực tập của mình.
1
Phần I:
Lý luận chung về tổ chức kế toán
trong doanh nghiệp
Hệ thống kế toán đợc xem nh là một hệ thống thông tin dùng để đo lờng, xử lý
và truyền đạt thông tin về tài chính của một đơn vị kinh tế.
Sơ đồ 1: Quan hệ kế toán với hoạt động kinh doanh và hoạt động quản lý.
Hệ thống kế toán doanh
Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thị trờng, đứng trớc nhu cầu cạnh tranh và xu
thế hội nhập, các doanh nghiệp ngày càng đề cao vai trò của kế toán trong việc cung
cấp những thông tin phục vụ nhu cầu quản lý bên trong doanh nghiệp bởi họ chẳng
những cần số liệu chi tiết của kế toán nh trớc đây mà hơn thế, họ rất cần kế toán
bằng ngôn ngữ của mình, thể hiện một cách chính xác các mục tiêu của doanh
nghiệp thông qua các bản dự toán, giúp họ kiểm soát quá trình thực hiện mục tiêu và
2
Hoạt
động
kinh
doanh
của
doanh
nghiệp
Ra
quyết
định
quản lý
khi ra quyết định về quản lý. Chính vì vậy, bên cạnh kế toán tài chính, kế toán quản
trị ra đời với t cách là nhánh thứ hai trong hệ thống kế toán nhằm cung cấp tất cả
thông tin kế toán đã đợc đo lờng, xử lý và truyền đạt để sử dụng trong việc quản trị
nội bộ của đơn vị.
Hiện nay, trên thế giới, kế toán quản trị đang thực sự trở thành một công cụ đắc
lực và có hiệu quả giúp các nhà quản lý trong việc ra quyết định về quản lý. ở Việt
Nam, tuy Chế độ Kế toán ban hành theo Quyết định số 1141 TC/QĐ/CĐKT ngày
1/11/1995 của Bộ Tài chính về cơ bản khắc phục đợc hạn chế của hệ thống Kế toán
Việt Nam trớc đó nhng còn cha đề cập sâu đến kế toán quản trị, hơn nữa hệ thống
Chuẩn mực Kế toán Việt Nam vẫn đang đợc từng bớc soạn thảo và công bố, do vậy
đòi hỏi có nhận thức đầy đủ, hớng dẫn cụ thể về kế toán quản trị ở Việt Nam đang là
Xây dựng quy trình hạch toán trên sổ tạo thành nguyên tắc kế toán chung.
Xây dựng mô hình ghi chép của cả hệ thống sổ hay còn gọi là hình thức tổ
chức sổ kế toán.
3
Hiện nay, hình thức tổ chức sổ kế toán đang dần đợc phát triển và hoàn thiện
theo yêu cầu của công tác quản lý và công tác kế toán trong nền kinh tế cạnh tranh.
Trong thực tế, nhiều nớc trên thế giới đang có xu hớng sử dùng duy nhất 1 hình thức
tổ chức sổ cho các doanh nghiệp. Khác với Mỹ chủ yếu áp dụng 1 hình thức sổ Nhật
ký chung, ở Việt Nam hiện có 4 hình thức phổ biến:
Hình thức Nhật ký chung
Hình thức Nhật ký - Sổ cái
Hình thức Chứng từ - Ghi sổ
Hình thức Nhật ký - Chứng từ
Hình thức Nhật ký-Sổ cái rất ít đợc áp dụng do tính chất cồng kềnh, mở rộng
chiều ngang của sổ, hơn nữa sổ chỉ thích hợp cho đơn vị kinh doanh đơn giản, sử
dụng rất ít tài khoản và lao động kế toán, trình độ quản lý và lao động kế toán thấp.
Hệ thống sổ sách kế toán phải đợc thiết kế thích hợp với hệ thống tài khoản bởi
sổ sách kế toán chính là phơng tiện vật chất phản ánh, thể hiện tài khoản cùng nội
dung phản ánh của tài khoản. Sổ sách kế toán có phù hợp với tài khoản thì mới phản
ánh (bằng phơng pháp đối ứng tài khoản) đợc nội dung kinh tế của các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh đã đợc phân loại, tập hợp.
Dựa vào đặc điểm vốn và quy mô nghiệp vụ của mình, đơn vị hạch toán tổ chức
hệ thống sổ sách theo một hình thức sổ kế toán thống nhất và thích hợp, tổ chức công
tác kế toán theo hình thức sổ đã áp dụng.
Khối lợng tổ chức công tác hạch toán kế toán của một đơn vị hạch toán đợc
quy định trong Điều lệ tổ chức Kế toán Nhà nớc ban hành theo Quyết định 25-HĐBT
ngày 18/3/1989.
Khối lợng công tác kế toán trớc hết đợc nhìn nhận theo từng giai đoạn của quá
trình hạch toán: giai đoạn hạch toán ban đầu trên hệ thống chứng từ; giai đoạn hệ
Phơng pháp tính giá biểu hiện qua cách thức xác định giá thành thực tế và
các khoản mục chi phí tại mỗi phần hành.
Phơng pháp đối ứng tài khoản đợc biểu hiện qua các quan hệ đối ứng kế toán
và cách ghi chép vào sổ tài khoản chi tiết, tổng hợp của mỗi phần hành.
Phơng pháp tổng hợp-cân đối biểu hiện thông qua hệ hệ thống báo biểu kế
toán của kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Có thể nói, trình tự kế toán của mỗi phần hành đợc bắt đầu từ lập hoặc tiếp
nhận chứng từ từ bên ngoài, kết hợp việc tính giá cho đối tợng hạch toán và luân
chuyển chứng từ đến ghi chép, phản ánh chứng từ vào tài khoản và kết thúc bằng lập
báo cáo kế toán và phân tích. Đồng thời, mỗi phần hành nằm trong một chu kỳ kế
toán của đơn vị, quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên một báo cáo tổng thể về công tác
kế toán của đơn vị đó.
Tổ chức công tác kế toán tại mỗi phần hành cho mỗi công việc cụ thể trong
phần hành đó, trớc hết phải nắm bắt đợc đặc điểm của đối tợng tổ chức hạch toán và
yêu cầu của quản lý đối với công tác hạch toán đối tợng đó, từ đó xác định nhiệm vụ
tổ chức hạch toán từ giai đoạn lập chứng từ đến giai đoạn lên báo cáo.
Ví dụ: Muốn tổ chức công tác kế toán cho phần hành kế toán vật liệu, trớc hết
phải tìm hiểu đặc điểm của đối tợng hạch toán là vật liệu và yêu cầu của quản lý đối
với tổ chức kế toán vật liệu, từ đó xác định nhiệm vụ của tổ chức.
Vật liệu là đối tợng lao động đã qua tác động của lao động con ngời, đợc các
đơn vị sản xuất sử dụng làm chất liệu ban đầu cấu thành hình thái thực thể sản phẩm.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vật liệu chỉ tham gia
vào một chu kỳ sản xuất và giá trị của vật liệu đợc chu chuyển một lần hoàn toàn vào
giá trị của sản phẩm mới tạo ra.
Chất lợng vật liệu có tác động trực tiếp tới chất lợng sản phẩm sản xuất ra. Chi
phí vật liệu lại chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất, trong giá thành sản
phẩm. Do đó, việc tiết kiệm chi phí vật liệu mà vẫn bảo đảm chất lợng và cung cấp
kịp thời, đầy đủ là đòi hỏi đầu tiên cho các nhà doanh nghiệp khi bắt đầu một chu kỳ
sản xuất kinh doanh. Muốn vậy, doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ vật liệu về các
mặt số lợng, chất lợng và giá cả chi phí thu mua.
sau mỗi lần phát sinh nghiệp vụ nhng cũng có thể tính giá sau khi lập chứng từ, khi
mà giá trị xuất thực tế chỉ xác định đợc khi kết thúc kỳ hạch toán.
Tổ chức phân loại và đánh giá cho mỗi đối tợng:
Dựa trên những tiêu chí nhất định và yêu cầu quản lý cũng nh đặc thù riêng của
đơn vị hạch toán, tổ chức phân loại cho từng đối tợng. Việc phân loại thích hợp sẽ
tạo thuận lợi cho công tác kế toán và công tác quản lý.
Tổ chức đánh giá cho từng loại đối tợng đã phân loại nhằm xác định giá trị
hạch toán vào chứng từ, sổ sách một cách phù hợp, chính xác, thống nhất và có hệ
thống. Trên cơ sở đó, tiến hành so sánh, đối chiếu giữa các loại với nhau và với chỉ
tiêu tổng hợp các loại đối tợng đó.
Tổ chức tính giá có thể tiến hành theo nhiều phơng pháp khác nhau tuỳ theo đối
tợng tính giá và đặc điểm của đơn vị hạch toán nhng lựa chọn tính giá theo phơng
pháp nào thì phải nhất quán trong suốt cả kỳ kế toán.
Việt Nam cũng giống 1 số nớc trên thế giới, ví dụ nh Mỹ cũng thông qua hai hệ
thống song song là hệ thống kê khai thờng xuyên và hệ thống kiểm kê định kỳ với
các phơng pháp khác nhau: phơng pháp nhận diện cụ thể, bình quân gia quyền, ph-
ơng pháp nhập trớc xuất trớc hay nhập sau xuất trớc, đánh giá hàng tồn kho. Nhng,
bên cạnh đó, kế toán Mỹ có thể đánh giá giá trị sử dụng còn lại của hàng tồn kho
thông qua báo cáo hàng tồn kho theo mức thấp của chi phí hoặc thị giá với thị giá là
giá thay thế của hàng tồn kho vào ngày lập Bảng tổng kết tài sản. Còn ở Việt Nam sử
dụng phơng pháp hệ số giá và phơng pháp tính theo giá thực tế hàng tồn kho lần
nhập cuối cùng.
Tổ chức tính giá cũng phải xác định đối tợng để tính giá phù hợp với đối tợng
thu mua, sản xuất hoặc tiêu thụ, xác định chi phí tập hợp liên quan trực tiếp hay gián
tiếp đến đối tợng cũng nh lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí chung cho các loại đối
tợng một cách hợp lý.
6
Đối với công việc tổ chức phân loại vật liệu trong quá trình tổ chức kế toán vật
liệu tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, nhìn chung, vật liệu đợc chia thành các
Phơng pháp tính giá thực tế vật liệu xuất kho tính theo vật liệu tồn kho cuối
kỳ (tính theo giá mua thực tế lần cuối cùng)
Mỗi phơng pháp đều có u nhợc điểm riêng, đơn vị hạch toán cần có sự cân
nhắc, chọn lựa kỹ càng để vừa phù hợp với Chế độ kế toán nói chung vừa phù hợp
với đặc điểm kinh doanh của đơn vị. Với một đơn vị hạch toán, phơng pháp đã lựa
chọn có thể là tối u nhng với một đơn vị khác thì phơng pháp đó lại rất bất hợp lý.
Tổ chức chứng từ:
Tổ chức chứng từ là tổ chức vận dụng phơng pháp chứng từ trong ghi chép kế
toán để ban hành và vận dụng chế độ để thiết kế khối lợng công tác hạch toán ban
đầu trên hệ thống các văn bản chứng từ hợp lý, hợp pháp theo một quy trình luân
chuyển nhất định nhằm tổ chức hạch toán thông tin ban đầu cho quản lý.
Tổ chức chứng từ cho kế toán phần hành gồm 3 nội dung chính:
7
Trên cơ sở danh mục chứng từ và cấu trúc của chứng từ đã đợc xây dựng
phù hợp với công tác quản lý và hạch toán đối tợng, tổ chức tạo lập chứng
từ thông qua:
Lựa chọn loại chứng từ theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ
Chọn phơng tiện kỹ thuật làm chứng từ
Quy định thời gian luân chuyển cho 1 loại chứng từ
Chứng từ đợc lập theo mẫu do Nhà nớc quy định và có đầy đủ chữ ký của
những ngời liên quan mới đợc coi là hợp lệ và hợp pháp. Khi có sai sót xảy ra, tốt
nhất nên huỷ và lập lại chứng từ mới, đồng thời vẫn bảo đảm số thứ tự liên tục của
chứng từ.
Tổ chức kiểm tra chứng từ
Kiểm tra tính trọn bộ của chứng từ cho nghiệp vụ phản ánh.
Kiểm tra hình thức trình bày các yếu tố trên chứng từ.
Kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ, hợp pháp của từng yếu tố trên chứng từ.
Tổ chức kiểm tra đợc tiến hành trớc khi ghi sổ và sau khi quyết toán nhằm bảo
đảm chất lợng thông tin kế toán trớc khi vào sổ và xác nhận tính chính xác, đúng đắn
B ớc 2: Tổ chức giai đoạn ghi sổ kế toán cho từng loại nghiệp vụ phát sinh trong
phần hành.
Trớc hết, tuỳ theo yêu cầu của quản lý chi tiết cho đối tợng hạch toán nào thì
đơn vị tổ chức hạch toán chi tiết cho đối tợng đó.
Căn cứ vào hệ thống sổ kế toán đã đợc xây dựng ở nội dung đầu tiên của tổ
chức hạch toán kế toán, lựa chọn loại sổ chi tiết sử dụng cho từng đối tợng hạch toán.
Tuỳ đặc điểm, yêu cầu chi tiết đối tợng của đơn vị theo tiêu thức nào mà sổ chi tiết
đợc sử dụng phù hợp. Số lợng và mức độ chi tiết của sổ chi tiết phụ thuộc đối tợng
cần chi tiết.
Thực hiện quy trình hạch toán theo phơng pháp đối ứng kế toán trên hệ thống
sổ chi tiết:
Sơ đồ 3: Quy trình hạch toán chi tiết
Chứng từ Sổ chi tiết Sổ tổng hợp chi tiết Báo cáo
(Bảng kê chứng từ)
Sổ tổng hợp
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng, định kỳ
Quan hệ đối chiếu
Có thể thấy rõ quy trình này thông qua tổ chức hạch toán chi tiết vật liệu nhập,
xuất:
Loại sổ sử dụng:
Sổ kho: theo dõi theo từng kho, từng thứ vật liệu về chỉ tiêu hiện vật.
Sổ chi tiết vật liệu: Tuỳ theo phơng pháp hạch toán chi tiết có loại sổ tơng
ứng, phổ biến tại các đơn vị hiện nay là: Sổ chi tiết thẻ song song, Sổ số d,
Sổ luân chuyển, Bảng luỹ kế nhập-xuất-tồn.
Đối với phơng pháp thẻ song song:
Tại kho, Thủ kho mở Thẻ kho để theo dõi tình hình nhập, xuất, tồn kho về mặt
số lợng hiện vật. Mỗi loại vật liệu đợc theo dõi trên một Thẻ kho và đợc ghi trên cơ
cở chứng từ nhập, xuất.
Tại phòng kế toán, Kế toán vật liệu nhận chứng từ từ Thủ kho, mở Sổ kế toán
- Quy định loại tài khoản và loại sổ cần mở và số lợng mỗi loại.
- Tuỳ hình thức sổ kế toán đơn vị đang áp dụng để thực hiện quy trình hạch
toán trên hệ thống Sổ tổng hợp đã lựa chọn theo nguyên tắc đối ứng tài khoản cho
đối tợng, nghiệp vụ cần hạch toán.
Sơ đồ 4: Quy trình hạch toán tổng hợp
Chứng từ Sổ tổng hợp Sổ cái các TK
Báo cáo
(Bảng kê chứng từ)
Sổ tổng hợp chi tiết
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng, định kỳ
Quan hệ đối chiếu
Tổ chức ghi sổ tổng hợp cho nhập, xuất, tồn vật liệu cần sử dụng các tài khoản
nh: 152, 111, 112, 141, 331, 621, 627,...
Nếu đơn vị áp dụng hình thức sổ "Nhật ký chung" để tổ chức bộ sổ kế toán thì
các loại sổ sử dụng là: sổ Nhật ký mua hàng, Nhật ký chung, Sổ cái TK 152,...và việc
vận dụng quan hệ đối ứng cho ghi sổ đợc tiến hành theo quy trình: hàng ngày song
song với kênh hạch toán chi tiết, kế toán vật liệu tập hợp chứng từ nhập, xuất vật liệu
hoặc Bảng kê chứng từ để ghi các sổ nhật ký. Định kỳ hay cuối tháng chọn lọc, tổng
hợp các số liệu ghi vào Sổ cái TK 152. Số d, số phát sinh của TK 152 đợc phản ánh 1
dòng trên Bảng cân đối phát sinh để đối chiếu với Sổ tổng hợp chi tiết.
Nếu đơn vị áp dụng hình thức "Chứng từ-ghi sổ" thì kế toán vật liệu cũng dựa
vào số liệu trên chứng từ hoặc Bảng kê chứng từ để lập Chứng từ ghi sổ riêng cho
nghiệp vụ nhập, riêng cho nghiệp vụ xuất, cuối tháng hoặc định kỳ lên sổ Cái và
Bảng cân đối phát sinh đối chiếu với kênh hạch toán chi tiết vật liệu.
10
Nếu đơn vị áp dụng hình thức "Nhật ký-chứng từ" thì quy trình hạch toán chi
tiết và tổng hợp thờng tiến hành lồng ghép trên một hệ thống sổ để lập báo cáo vật
chức công tác kế toán không thể tách rời 3 giai đoạn hạch toán trong một chu kỳ kế
toán.
Mỗi giai đoạn hạch toán trong phần hành kế toán có vị trí khác nhau trong quá
trình ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế và tạo tiền đề cần thiết để tiếp tục thực hiện giai
đoạn tiếp sau. Quá trình phản ánh của kế toán đợc bắt đầu bởi việc lập chứng từ, các
thông tin từ chứng từ đợc phản ánh trên các tài khoản và kết thúc bằng việc tổng hợp
trên hệ thống báo biểu kế toán. Mỗi bớc trong chu trình kế toán: chứng từ, tính giá,
đối ứng kế toán và tổng hợp-cần đối đáp ứng một yêu cầu khác nhau trong quản lý
các đối tợng kế toán và đồng thời chúng tạo thành một tổng thể hoàn chỉnh các ph-
ơng tiện để kế toán giám đốc và quản lý tài chính.
Khối lợng công tác kế toán phân chia 3 giai đoạn, gắn liền với từng phần hành
kế toán thực hiện thông qua yếu tố con ngời đợc tổ chức thành 1 bộ máy kế toán.
Tổ chức bộ máy kế toán bao hàm tổ chức mô hình bộ máy và tổ chức lao động
kế toán trong bộ máy
11
Cũng tuân theo cách phân chia mô hình kế toán của nhiều quốc gia trên thế
giới, mô hình tổ chức bộ máy tại các doanh nghệp Việt Nam về cơ bản có 3 kiểu tổ
chức:
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung: đơn vị chỉ mở một bộ sổ kế toán,
tổ chức một bộ máy kế toán để thực hiện tất cả các giai đoạn hạch toán ở
mọi phần hành kế toán. Trờng hợp đơn vị kế toán có đơn vị trực thuộc thì
đơn vị trực thuộc chỉ đợc thực hiện giai đoạn hạch toán ban đầu theo chế độ
báo sổ.
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán phân tán: bộ máy tổ chức đợc phân thành
cấp kế toán trung tâm và kế toán trực thuộc. Kế toán cơ sở trực thuộc mở bộ
sổ kế toán riêng thực hiện toàn bộ khối lợng công tác kế toán phần hành từ
giai đoạn hạch toán ban đầu tới giai đoạn lập báo cáo kế toán lên kế toán
trung tâm. Kế toán trung tâm chỉ là nơi thực hiện khâu tổng hợp số liệu báo
cáo của cơ sở, lập báo cáo tổng thể toàn đơn vị. Đây là mô hình đợc áp
12
Bộ máy kế toán tổ chức theo kiểu chức năng: kế toán trởng chỉ đạo kế toán phần
hành thông qua các trởng phòng (ban) kế toán.
Mô hình kế toán trực tuyến và chức năng đợc xem là phổ biến ở các nớc trên
thế giới hơn cả. Còn ở Việt Nam, do tổ chức kế toán tập trung lại mang nhiều tính
chất chỉ đạo, quy mô vốn không lớn nên mô hình trực tuyến áp dụng tơng đối rộng
rãi tại các doanh nghiệp.
Nh vậy, trong một đơn vị hạch toán, tổ chức tốt công tác kế toán luôn đi liền
với tổ chức tốt bộ sổ kế toán và tổ chức tốt bộ máy kế toán.
Phần II
Thực trạng tổ chức công tác kế toán
tại Xí nghiệp Dợc phẩm 120
So sánh với lý luận chung về tổ chức kế toán trong doanh nghiệp đã trình bày
ở phần I, thực trạng tổ chức kế toán tại Xí nghiệp Dợc phẩm 120 có gì giống và
khác? Muốn vậy, trớc hết cần phải nắm bắt đợc những đặc điểm cơ bản nhất về Xí
nghiệp, bắt đầu từ quá trình hình thành phát triển cho đến cách thức tổ chức sản xuất
và tổ chức quản lý của Xí nghiệp.
Xí nghiệp Dợc phẩm 120 là một đơn vị kinh tế quốc phòng thuộc ngành Hậu
cần quân đội, trực thuộc Tổng Công ty Dợc phẩm và trang thiết bị y tế quân đội. Xí
nghiệp đợc thành lập vào ngày 1/5/1973 theo Quyết định số 100/QĐ-CQY ngày 15
tháng 4 năm 1973 của Cục Quân y với tên gọi ban đầu là Xởng XY2.
Trải qua gần 30 năm xây dựng và trởng thành, cùng với nhiều biến động của xã
hội từ khi thành lập cho đến nay, các thế hệ cán bộ, công nhân viên của Xí nghiệp đã
không ngừng phấn đấu vơn lên, lao động hết mình để duy trì hoạt động sản xuất các
loại thuốc chữa bệnh phục vụ quân đội và nhân dân cả nớc. Với sự năng động và
sáng tạo của mình, Xí nghiệp đã phát triển lớn mạnh về mọi mặt cả chiều rộng lẫn
chiều sâu.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, nhiệm vụ chính của đơn vị
là nhanh chóng củng cố lực lợng, bắt tay vào sản xuất các loại thuốc phục vụ chiến
nghiệp làm ăn có hiệu quả. Sự hiệu quả này còn đợc thể hiện qua một số chỉ tiêu
kinh tế tổng hợp dới đây:
Bảng 1: Một số chỉ tiêu hoạt động kinh doanh qua các năm
Stt Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000
1
Tổng vốn lu động
3.562.500.000 3.980.785.000 5.750.000.000
2
Tổng doanh thu 17.980.235.056 18.958.237.200 20.857.692.233
3
Lợi nhuận trớc thuế
400.523.164 450.002.987 524.403.956
4
Các khoản nộp NS 138.810.200 145.680.371 167.809.265
5
Thu nhâp bình
quân
610.000 650.500 750.500
Xí nghiệp không chỉ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với Nhà nớc, hoàn thành
kế hoạch sản xuất cấp trên giao mà còn tạo thêm nhiều công ăn, việc làm, nâng cao
đời sống, phúc lợi và nhiều chế độ khác cho ngời lao động.
Tóm lại, Xí nghiệp Dợc phẩm 120 cùng với sự nỗ lực phát triển liên tục trong
suốt mấy chục năm qua đã và đang khẳng định vai trò quan trọng của mình trong hệ
thống ngành Công nghiệp Dợc ở Việt Nam cũng nh tính đúng đắn và năng động
sáng tạo của đội ngũ lãnh đạo, của toàn thể cán bộ công nhân viên trong Xí nghiệp
từ khi ra đời cho đến nay.
Vừa là một doanh nghiệp trong đội hình thống nhất của Tổng Công ty vừa là
Viện bào chế độc lập, có nhiệm vụ bào chế thuốc ở quy mô công nghiệp, sản phẩm
chính của Xí nghiệp là những hàng hoá đặc biệt, liên quan trực tiếp tới hiệu lực của
công tác điều trị, phòng bệnh; tới sinh mạng và sức khoẻ của con ngời. Xí nghiệp
Trộn bột kép
Nhào ẩm
Sát hạt
Sấy khô
Đóng nang
ép vỉ
Đóng hộp và in nhãn
Trộn bột kép
ống
Cắt ống
Rửa ống
Pha chế
Hàn ống
Hấp ống
Soi sp
In nhãnvà đóng gói
mọi cấp độ, phù hợp tiêu chuẩn Ngành, tiêu chuẩn Quốc tế và tiêu chuẩn Xí nghiệp.
Theo đó, tổ chức sản xuất có thể thực hiện theo kế hoạch hoặc theo hợp đồng.
Việc tổ chức sản xuất đợc tiến hành tại 3 phân xởng chính:
Phân xởng thuốc viên: chuyên sản xuất các loại thuốc viên dới dạng viên
nén rời đóng lọ, viên nén đóng vỉ và viên con nhộng đóng vỉ Hiện nay, phân
xởng lắp đặt 2 dây chuyền sản xuất: dây chuyền sản xuất viên nén và dây
chuyền đóng nang (viên con nhộng).
Phân xởng thuốc tiêm: chuyên sản xuất các loại thuốc dới dạng dung dịch.
Sản phẩm của phân xởng này đợc đóng gói theo thể thức 1kg x 140hộp x
10ống. Để phục vụ sản xuất, phân xởng cũng đợc lắp đặt hai dây chuyền
sản xuất là dây chuyền ống 1ml nhọn, bằng đáy và dây chuyền ống 2ml,
5ml và 10ml.
Phân xởng sản xuất bao bì: có nhiệm vụ trọng yếu là hoàn thiện bao bì tr-
công tác kinh doanh, công tác kế hoạch, công tác quản lý tài chính... mà còn về quy
16
chế, yêu cầu và nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng. Trên cơ sở hệ thống tổ chức sản xuất
đặc thù với quy trình sản xuất hàng loạt dới hai dạng sản phẩm chủ yếu, Xí nghiệp
Dợc phẩm 120 tổ chức quản lý theo mô hình trực tuyến chức năng, bộ máy quản lý
với quy mô nhỏ, tơng đối gọn nhẹ.
Bộ máy quản lý của Xí nghiệp gồm: 1 giám đốc, 1 phó giám đốc, 7 phòng ban.
Sơ đồ 7: Tổ chức bộ máy quản lý
Giám đốc: ngời có quyền hành cao nhất trong Xí nghiệp về toàn bộ hoạt
động quản lý tài sản, nguồn vốn và tiến trình hoạt động trong đơn vị.
Giám đốc có quyền quyết định cuối cùng không chỉ đối với công tác lập
và luân chuyển chứng từ mà còn đối với những biến động tình hình tài chính
trong Xí nghiệp thông qua ký duyệt, đóng dấu.
Phó giám đốc: là ngời giúp giám đốc điều hành mọi hoạt động trong Xí
nghiệp, vừa có nghĩa vụ hoàn thành tốt các công việc giám đốc giao vừa có
quyền bàn bạc, góp ý kiến nhằm đẩy mạnh hoạt động sản xuất.
Phó giám đốc trong một số trờng hợp có toàn quyền quyết định phê
chuẩn việc lập và theo dõi công tác luân chuyển các chứng từ, đặc biệt chứng
từ vật t (sản phẩm, hàng hóa) nhằm xúc tiến kế hoạch sản xuất và rút ngắn
chu kỳ tuần hoàn vốn.
Phòng Hành chính: đợc thành lập để bảo đảm hoạt dộng cho Xí nghiệp
trong công tác hành chính hậu cần nh văn th, lễ tân, tiếp khách làm việc,
công vụ, công tác y tế bảo vệ.
Các thành viên trong phòng đều có nghĩa vụ bảo vệ, quản lý tài sản của
phòng cũng nh nơi tiếp khách. Họ là những ngời có vai trò mở đầu cho một
quá trình hình thành luân chuyển các chứng từ với t cách là chủ thể của các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến công tác hành chính. Họ cũng là ng-
ời trực tiếp lập 1 số chứng từ gốc nh: Giấy đề nghị tạm ứng,... và tham gia vào
quá trình luân chuyển chứng từ đó từ giám đốc đến Kế toán phần hành và Thủ
Ban
chính
trị
Phòng
kỹ
thuật
theo quy định và phản ánh chính xác tình hình thực tế, góp phần lành mạnh
hóa công tác quản lý tài chính.
Ban Thị trờng: có nhiệm vụ tổ chức tiêu thụ sản phẩm và quảng cáo tiếp
thị, quan hệ ngoại giao mở rộng thị trờng.
Tại các Cửa hàng tiêu thụ sản phẩm thuộc sự quản lý của Ban thị trờng
có vai trò khá quan trọng trong hình thành một số chứng từ liên quan tiêu
thụ phục vụ công tác thanh toán ngay, từ đó thông qua ban Thị trờng chuyển
chứng từ đến phòng Tài chính để theo dõi tình hình tiêu thụ và quản lý tài
chính.
Phòng Tài chính: có nhiệm vụ quản lý tiền vốn của Xí nghiệp, kiểm tra,
theo dõi việc chi tiêu, thực hiện thống kê, hạch toán, phân tích hoạt động tài
chính phục vụ kịp thời cho sản xuất kinh doanh, thực hiện thanh toán với
cán bộ công nhân viên, thanh quyết toán trích nộp Ngân sách, đồng thời
tham mu cho giám đốc trong lĩnh vực kinh doanh.
Phòng Tài chính vừa là nơi lập các chứng từ thu-chi tài chính hoặc tiếp
nhận chứng từ từ phòng, ban, bộ phần khác và từ bên ngoài đơn vị, rồi luân
chuyển đến nơi có liên quan vừa là nơi cuối cùng tập hợp tất cả chứng từ để
tiến hành phân loại, ghi chép, bảo quản, lu trữ nhằm theo dõi, tổng hợp và
kiểm tra tình hình tài chính.
Phòng Kiểm nghiệm: có nhiệm vụ thực hiện chức năng kiểm tra phân tích
chất lợng nguyên vật liệu trớc khi sản xuất, bán thành phẩm và thành phẩm
sau khi sản xuất.
Cán bộ phòng Kiểm nghiệm có nghĩa vụ bảo đảm việc hình thành trọn