Báo cáo chuyên đề thực tập Lê Ngọc Dung
Lời mở đầu
Là phân hệ thông tin trong hệ thống quản lý, tổ chức kế toán có vai trò
cung cấp những thông tin hữu ích về tình hình tài chính của đơn vị hạch toán
thông qua hệ thống ghi chép, tổng hợp trên chứng từ, sổ tài khoản và biểu mẫu
báo cáo nhằm phục vụ đắc lực cho công tác quản lý.
Trên cơ sở tìm hiểu tổ chức kế toán trong thực tế hoạt động của Xí nghiệp
Dợc phẩm 120, em đã chọn đề tài cho Chuyên đề thực tập môn học hạch toán kế
toán của mình là: "Hoàn thiện tổ chức kế toán tại Xí nghiệp Dợc phẩm 120 lấy
tổ chức kế toán vật liệu làm ví dụ", đồng thời thông qua mô tả thực tế kết hợp
phân tích để đề xuất ý kiến góp phần hoàn thiện tổ chức kế toán của đơn vị.
Với mục đích kết hợp lý luận và thực tiễn, củng cố và vận dụng kiến thức
đã học, đa ra những phân tích cụ thể và kiến nghị cho đơn vị, bài viết của em,
ngoài Lời mở đầu và Kết luận, gồm 3 phần chính:
Phần I: Lý luận chung tổ chức kế toán trong doanh nghiệp.
Phần II: Thực trạng tổ chức kế toán tại Xí nghiệp Dợc phẩm 120.
Phần III: Phơng hớng hoàn thiện tổ chức kế toán tại Xí nghiệp Dợc phẩm
120.
Với yêu cầu nghiên cứu thực tế trong phạm vi môn học hạch toán kế toán,
em đã sử dụng kết hợp các phơng pháp chung: phơng pháp nghiên cứu quan hệ
biện chứng giữa kế toán với bộ phận quản lý và giữa các phần hành kế toán với
nhau...và các một số phơng pháp riêng nh: mô tả và phân tích, sơ đồ và bảng
biểu...để minh hoạ và hoàn thiện Chuyên đề thực tập của mình.
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 1
Báo cáo chuyên đề thực tập Lê Ngọc Dung
Phần I:
Lý luận chung về tổ chức kế toán
trong doanh nghiệp
Hệ thống kế toán đợc xem nh là một hệ thống thông tin dùng để đo lờng,
xử lý và truyền đạt thông tin về tài chính của một đơn vị kinh tế.
Sơ đồ 1: Quan hệ kế toán với hoạt động kinh doanh và hoạt động quản lý.
quản lý
Báo cáo chuyên đề thực tập Lê Ngọc Dung
cũng đang từng bớc đợc cải cách và hoàn thiện cho phù hợp yêu cầu của cơ chế
kinh tế mới trong nền kinh tế mở, phù hợp thông lệ và Chuẩn mực quốc tế.
Trải qua 6 năm thực hiện Chơng trình cải cách Kế toán Việt Nam 10 năm
1995-2005, hệ thống kế toán Việt Nam đã có sự phát triển đáng khích lệ trong
việc tiếp cận và hình thành những nguyên tắc kế toán hiện đại của kinh tế thị tr-
ờng, từng bớc tạo dựng khuôn khổ pháp lý cho kế toán, kiểm toán trong môi tr-
ờng chung của thông lệ quốc tế. Hệ thống Chuẩn mực Kế toán quốc gia đã bắt
đầu đợc tạo lập, tạo môi trờng tin cậy cho đầu t và kinh doanh trên cơ sở chia sẻ
kinh nghiệm với bạn bè quốc tế, vận dụng có chọn lọc thông lệ và Chuẩn mực
quốc tế về kế toán và kiểm toán, phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế, với
năng lực quản lý tài chính ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thị trờng, đứng trớc nhu cầu cạnh tranh và
xu thế hội nhập, các doanh nghiệp ngày càng đề cao vai trò của kế toán trong
việc cung cấp những thông tin phục vụ nhu cầu quản lý bên trong doanh nghiệp
bởi họ chẳng những cần số liệu chi tiết của kế toán nh trớc đây mà hơn thế, họ
rất cần kế toán bằng ngôn ngữ của mình, thể hiện một cách chính xác các mục
tiêu của doanh nghiệp thông qua các bản dự toán, giúp họ kiểm soát quá trình
thực hiện mục tiêu và khi ra quyết định về quản lý. Chính vì vậy, bên cạnh kế
toán tài chính, kế toán quản trị ra đời với t cách là nhánh thứ hai trong hệ thống
kế toán nhằm cung cấp tất cả thông tin kế toán đã đợc đo lờng, xử lý và truyền
đạt để sử dụng trong việc quản trị nội bộ của đơn vị.
Hiện nay, trên thế giới, kế toán quản trị đang thực sự trở thành một công cụ
đắc lực và có hiệu quả giúp các nhà quản lý trong việc ra quyết định về quản lý.
ở Việt Nam, tuy Chế độ Kế toán ban hành theo Quyết định số 1141
TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 của Bộ Tài chính về cơ bản khắc phục đợc hạn
chế của hệ thống Kế toán Việt Nam trớc đó nhng còn cha đề cập sâu đến kế toán
quản trị, hơn nữa hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam vẫn đang đợc từng bớc
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 3
Nội dung tổ chức sổ kế toán:
Xây dựng hệ thống các loại sổ với nhiệm vụ xác định loại sổ và số lợng
sổ mỗi loại.
Thiết kế nội dung, hình thức kết cấu của các sổ tài khoản mỗi loại.
Xây dựng quy trình hạch toán trên sổ tạo thành nguyên tắc kế toán
chung.
Xây dựng mô hình ghi chép của cả hệ thống sổ hay còn gọi là hình thức
tổ chức sổ kế toán.
Hiện nay, hình thức tổ chức sổ kế toán đang dần đợc phát triển và hoàn
thiện theo yêu cầu của công tác quản lý và công tác kế toán trong nền kinh tế
cạnh tranh. Trong thực tế, nhiều nớc trên thế giới đang có xu hớng sử dùng duy
nhất 1 hình thức tổ chức sổ cho các doanh nghiệp. Khác với Mỹ chủ yếu áp
dụng 1 hình thức sổ Nhật ký chung, ở Việt Nam hiện có 4 hình thức phổ biến:
Hình thức Nhật ký chung
Hình thức Nhật ký - Sổ cái
Hình thức Chứng từ - Ghi sổ
Hình thức Nhật ký - Chứng từ
Hình thức Nhật ký-Sổ cái rất ít đợc áp dụng do tính chất cồng kềnh, mở
rộng chiều ngang của sổ, hơn nữa sổ chỉ thích hợp cho đơn vị kinh doanh đơn
giản, sử dụng rất ít tài khoản và lao động kế toán, trình độ quản lý và lao động
kế toán thấp.
Hệ thống sổ sách kế toán phải đợc thiết kế thích hợp với hệ thống tài khoản
bởi sổ sách kế toán chính là phơng tiện vật chất phản ánh, thể hiện tài khoản
cùng nội dung phản ánh của tài khoản. Sổ sách kế toán có phù hợp với tài khoản
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 5
Báo cáo chuyên đề thực tập Lê Ngọc Dung
thì mới phản ánh (bằng phơng pháp đối ứng tài khoản) đợc nội dung kinh tế của
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đã đợc phân loại, tập hợp.
Dựa vào đặc điểm vốn và quy mô nghiệp vụ của mình, đơn vị hạch toán tổ
chức hệ thống sổ sách theo một hình thức sổ kế toán thống nhất và thích hợp, tổ
hay tổng hợp, theo nhu cầu quản lý bên trong hay bên ngoài. Theo đó, các ph-
ơng pháp hạch toán kế toán: chứng từ, tính giá, đối ứng tài khoản, tổng hợp-cân
đối gắn liền với 3 giai đoạn hạch toán của một chu trình khép kín và mối quan
hệ giữa các phơng pháp đó đợc cụ thể hoá thích hợp với mỗi phần hành cụ thể:
Phơng pháp chứng từ biểu hiện trên thực tế thông qua hệ thống bản
chứng từ và quy trình luân chuyển chứng từ tại mỗi phần hành.
Phơng pháp tính giá biểu hiện qua cách thức xác định giá thành thực tế
và các khoản mục chi phí tại mỗi phần hành.
Phơng pháp đối ứng tài khoản đợc biểu hiện qua các quan hệ đối ứng kế
toán và cách ghi chép vào sổ tài khoản chi tiết, tổng hợp của mỗi phần
hành.
Phơng pháp tổng hợp-cân đối biểu hiện thông qua hệ hệ thống báo biểu
kế toán của kế toán tài chính và kế toán quản trị.
Có thể nói, trình tự kế toán của mỗi phần hành đợc bắt đầu từ lập hoặc tiếp
nhận chứng từ từ bên ngoài, kết hợp việc tính giá cho đối tợng hạch toán và luân
chuyển chứng từ đến ghi chép, phản ánh chứng từ vào tài khoản và kết thúc bằng
lập báo cáo kế toán và phân tích. Đồng thời, mỗi phần hành nằm trong một chu
kỳ kế toán của đơn vị, quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên một báo cáo tổng thể
về công tác kế toán của đơn vị đó.
Tổ chức công tác kế toán tại mỗi phần hành cho mỗi công việc cụ thể trong
phần hành đó, trớc hết phải nắm bắt đợc đặc điểm của đối tợng tổ chức hạch
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 7
Báo cáo chuyên đề thực tập Lê Ngọc Dung
toán và yêu cầu của quản lý đối với công tác hạch toán đối tợng đó, từ đó xác
định nhiệm vụ tổ chức hạch toán từ giai đoạn lập chứng từ đến giai đoạn lên báo
cáo.
Ví dụ: Muốn tổ chức công tác kế toán cho phần hành kế toán vật liệu, trớc
hết phải tìm hiểu đặc điểm của đối tợng hạch toán là vật liệu và yêu cầu của
quản lý đối với tổ chức kế toán vật liệu, từ đó xác định nhiệm vụ của tổ chức.
Vật liệu là đối tợng lao động đã qua tác động của lao động con ngời, đợc
toán vật liệu.
Trên cơ sở đối tợng và nhiệm vụ, nội dung tổ chức công tác kế toán bao
gồm các bớc sau:
B ớc 1 : Tổ chức giai đoạn hạch toán ban đầu bao gồm việc kết hợp tổ chức
chứng từ và tính giá.
Do các chu kỳ sản xuất luôn nối tiếp nhau, do mỗi phần hành luôn có sự
đan xen trong chu kỳ đó nên đối với một số phần hành việc tổ chức đánh giá cho
đối tợng hạch toán thờng đợc thực hiện trớc hoặc song song với tổ chức chứng từ
cho đối tợng đó, nhng đối với một số phần hành khác việc tính giá phải dựa vào
công tác ghi sổ tài khoản của phần hành trớc đó mới thực hiện đợc.
Ví dụ: Tổ chức tính giá cho vật liệu xuất kho có thể đợc thực hiện trớc khi
tổ chức chứng từ cho nghiệp vụ xuất kho và trị giá vốn vật liệu xuất đợc xác
định ngay sau mỗi lần phát sinh nghiệp vụ nhng cũng có thể tính giá sau khi lập
chứng từ, khi mà giá trị xuất thực tế chỉ xác định đợc khi kết thúc kỳ hạch toán.
Tổ chức phân loại và đánh giá cho mỗi đối tợng:
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 9
Báo cáo chuyên đề thực tập Lê Ngọc Dung
Dựa trên những tiêu chí nhất định và yêu cầu quản lý cũng nh đặc thù riêng
của đơn vị hạch toán, tổ chức phân loại cho từng đối tợng. Việc phân loại thích
hợp sẽ tạo thuận lợi cho công tác kế toán và công tác quản lý.
Tổ chức đánh giá cho từng loại đối tợng đã phân loại nhằm xác định giá trị
hạch toán vào chứng từ, sổ sách một cách phù hợp, chính xác, thống nhất và có
hệ thống. Trên cơ sở đó, tiến hành so sánh, đối chiếu giữa các loại với nhau và
với chỉ tiêu tổng hợp các loại đối tợng đó.
Tổ chức tính giá có thể tiến hành theo nhiều phơng pháp khác nhau tuỳ
theo đối tợng tính giá và đặc điểm của đơn vị hạch toán nhng lựa chọn tính giá
theo phơng pháp nào thì phải nhất quán trong suốt cả kỳ kế toán.
Việt Nam cũng giống 1 số nớc trên thế giới, ví dụ nh Mỹ cũng thông qua
hai hệ thống song song là hệ thống kê khai thờng xuyên và hệ thống kiểm kê
định kỳ với các phơng pháp khác nhau: phơng pháp nhận diện cụ thể, bình quân
nghĩa rất lớn trong việc quyết định quy mô phí vật liệu trong giá phí sản phẩm
mới và độ lớn dự trữ vật liệu ngày cuối kỳ.
Trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, có nhiều phơng pháp đánh giá
vật liệu xuất kho nhng cho dù mục đích xuất kho khác nhau thì giá thực tế lợng
xuất phải đợc xác định theo phơng pháp đã đăng ký áp dụng và phải bảo đảm
tính nhất quán trong niên độ kế toán.
Về nguyên tắc, vật liệu nhập theo giá nào, thì xuất kho theo giá đó. Song
trên thực tế do giá thực tế từng đợt nhập biến động rất khác nhau nên việc tính
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 11
Báo cáo chuyên đề thực tập Lê Ngọc Dung
giá đầy đủ của vật liệu mỗi loại tại thời điểm xuất dùng hết sức phức tạp. Vì vậy,
có thể tính gần đúng giá thực tế vật liệu xuất kho theo một số phơng pháp phổ
biến sau:
Phơng pháp giá thực tế bình quân gia quyền
Phơng pháp giá thực tế đích danh
Phơng pháp nhập trớc, xuất trớc
Phơng pháp nhập sau, xuất trớc
Phơng pháp giá hạch toán
Phơng pháp tính giá thực tế vật liệu xuất kho tính theo vật liệu tồn kho
cuối kỳ (tính theo giá mua thực tế lần cuối cùng)
Mỗi phơng pháp đều có u nhợc điểm riêng, đơn vị hạch toán cần có sự cân
nhắc, chọn lựa kỹ càng để vừa phù hợp với Chế độ kế toán nói chung vừa phù
hợp với đặc điểm kinh doanh của đơn vị. Với một đơn vị hạch toán, phơng pháp
đã lựa chọn có thể là tối u nhng với một đơn vị khác thì phơng pháp đó lại rất
bất hợp lý.
Tổ chức chứng từ:
Tổ chức chứng từ là tổ chức vận dụng phơng pháp chứng từ trong ghi chép
kế toán để ban hành và vận dụng chế độ để thiết kế khối lợng công tác hạch toán
ban đầu trên hệ thống các văn bản chứng từ hợp lý, hợp pháp theo một quy trình
luân chuyển nhất định nhằm tổ chức hạch toán thông tin ban đầu cho quản lý.
đồng hay Báo cáo dự kiến mua vật liệu,...
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 13
Báo cáo chuyên đề thực tập Lê Ngọc Dung
Chứng từ vật t: Phiếu nhập kho, Phiếu xuất kho, Biên bản kiểm nghiệm,
Hoá đơn kiêm phiếu xuất, Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, Biên bản
kiểm kê...
Xây dựng và thực hiện quy trình luân chuyển chứng từ nhập, xuất vật
liệu theo mô hình chung:
Sơ đồ 2: Quy trình luân chuyển chứng từ vật t
Ngời có nhu cầu Ngời có trách nhiệm Kế toán vật liệu
Nghiệp vụ Bảo quản
Chứng từ Lập, ký duyệt Ghi sổ lu trữ
ban đầu chứng từ
Nh vậy, trong mô hình trên đã bao hàm đầy đủ các bớc của tổ chức chứng
từ từ tạo lập chứng từ, kiểm tra chứng từ cho đến bảo quản, lu trữ các chứng từ.
Các bớc đều gắn với chức năng, nhiệm vụ từng bộ phận hay cá nhân bảo đảm
việc hình thành, luân chuyển chứng từ đợc liên tục và hợp lệ góp phần tăng cờng
hiệu quả quản lý tài chính.
B ớc 2: Tổ chức giai đoạn ghi sổ kế toán cho từng loại nghiệp vụ phát sinh
trong phần hành.
Trớc hết, tuỳ theo yêu cầu của quản lý chi tiết cho đối tợng hạch toán nào
thì đơn vị tổ chức hạch toán chi tiết cho đối tợng đó.
Căn cứ vào hệ thống sổ kế toán đã đợc xây dựng ở nội dung đầu tiên của tổ
chức hạch toán kế toán, lựa chọn loại sổ chi tiết sử dụng cho từng đối tợng hạch
toán. Tuỳ đặc điểm, yêu cầu chi tiết đối tợng của đơn vị theo tiêu thức nào mà sổ
chi tiết đợc sử dụng phù hợp. Số lợng và mức độ chi tiết của sổ chi tiết phụ thuộc
đối tợng cần chi tiết.
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 14
Báo cáo chuyên đề thực tập Lê Ngọc Dung
Thực hiện quy trình hạch toán theo phơng pháp đối ứng kế toán trên hệ
Tại phòng kế toán, Kế toán vật liệu mở Sổ đối chiếu luân chuyển để theo
dõi tình hình nhập, xuất, tồn cả về số lợng và giá trị nhng chỉ ghi 1 lần vào cuối
tháng trên cơ sở Bảng kê nhập và Bảng kê xuất. Mỗi loại vật liệu chiếm 1 dòng
trên sổ. Tuy nhiên, vì đặc điểm này, công việc ghi chép bị dồn vào cuối tháng,
ảnh hởng đến tính kịp thời của thông tin đợc cung cấp.
Đối với phơng pháp sổ số d:
Tại kho, công việc ghi Thẻ kho giống hai phơng pháp trên. Nhng định kỳ,
tập hợp chứng từ lập phiếu giao nhận chứng từ, đến cuối tháng, cộng Thẻ kho để
ghi vào Sổ số d về chỉ tiêu số lợng.
Tại phòng kế toán: Kế toán vật liệu định kỳ tiếp nhận phiếu giao nhận
chứng từ tại kho, ghi đơn giá, thành tiền để lập Bảng luỹ kế nhập-xuất-tồn. Cuối
tháng, kế toán ghi Sổ số d về chỉ tiêu giá trị để đối chiếu với Bảng luỹ kế nhập-
xuất-tồn.
Phơng pháp này tránh đợc ghi chép trùng lặp của hai phơng pháp trên nhng
lại dễ xảy ra sai sót, gian lận nếu không đợc thờng xuyên kiểm tra.
Song song với kênh hạch toán chi tiết nh trên, kế toán phần hành cũng căn
cứ vào chứng từ gốc để tiến hành ghi sổ tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh trên nguyên tắc đối ứng tài khoản.
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 16
Báo cáo chuyên đề thực tập Lê Ngọc Dung
Tuỳ theo hình thức tổ chức hệ thống sổ tài khoản mà đơn vị áp dụng, kế
toán viên lựa chọn loại sổ tổng hợp và thực hiện quy trình hạch toán trên sổ phù
hợp với quy định của Chế độ kế toán hiện hành.
- Quy định loại tài khoản và loại sổ cần mở và số lợng mỗi loại.
- Tuỳ hình thức sổ kế toán đơn vị đang áp dụng để thực hiện quy trình hạch
toán trên hệ thống Sổ tổng hợp đã lựa chọn theo nguyên tắc đối ứng tài khoản
cho đối tợng, nghiệp vụ cần hạch toán.
Sơ đồ 4: Quy trình hạch toán tổng hợp
Chứng từ Sổ tổng hợp Sổ cái các TK Báo cáo
(Bảng kê chứng từ)
từ và việc khái quát hoá tình hình kinh tế bằng báo cáo kế toán.
B ớc 3: Từ hệ thống sổ chi tiết và sổ tổng hợp, Kế toán tổng hợp tập hợp số
liệu để lên báo cáo tài chính và báo cáo quản trị.
Báo cáo tài chính tổng hợp tất cả phần hành trong đơn vị thờng yêu cầu 4
báo cáo chính sau:
Bảng cân đối kế toán.
Báo cáo kết quả kinh doanh.
Báo cáo lu chuyển tiền tệ.
Bảng thuyết minh.
Báo cáo quản trị thờng có 4 loại:
Báo cáo phản ánh tình hình TSCĐ và nguồn vốn sản xuất kinh doanh.
Báo cáo phản ánh tình hình chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Báo cáo phản ánh tình hình chi phí và kết quả tiêu thụ.
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 18
Báo cáo chuyên đề thực tập Lê Ngọc Dung
Báo cáo phản ánh quỹ xí nghiệp, vốn bằng tiền và tín dụng.
Báo cáo vật liệu thờng gồm: bảng báo cáo thu mua vật liệu, báo cáo tình
hình nhập-xuất-tồn tất cả các loại vật liệu theo tháng, quý, năm,... tuỳ theo yêu
cầu quản lý trong đơn vị.
Báo cáo kế toán thông qua phơng pháp tổng hợp-cân đối cung cấp những
thông tin khái quát, tổng hợp nhất về vốn mà các bớc tổ chức hạch toán trớc đó
nh chứng từ, tính giá, ghi sổ tài khoản không thể cung cấp đợc. Những thông tin
này có ý nghĩa to lớn cho các quyết định quản lý có tính chiến lợc.
Các phơng pháp hạch toán kế toán thể hiện trong tổ chức công tác kế toán
ở mỗi giai đoạn hạch toán trên không thể tiến hành một cách riêng biệt. Do vậy,
tổ chức công tác kế toán không thể tách rời 3 giai đoạn hạch toán trong một chu
kỳ kế toán.
Mỗi giai đoạn hạch toán trong phần hành kế toán có vị trí khác nhau trong
quá trình ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế và tạo tiền đề cần thiết để tiếp tục thực
hiện giai đoạn tiếp sau. Quá trình phản ánh của kế toán đợc bắt đầu bởi việc lập
nửa tập trung, nửa phân tán do sự kết hợp đặc trng của cả mô hình kế
toán tập trung và mô hình kế toán phân tán.
Dù vận hành theo mô hình bộ máy kế toán nào đơn vị hạch toán vẫn cần
phải tổ chức lao động kế toán thông qua sự lựa chọn, sắp xếp, phân công con ng-
ời tạo mối liên hệ dọc ngang một cách hợp lý trong bộ máy đó.
Dựa trên các nguyên tắc: bất vị thân, bất kiêm nhiệm, hiệu quả và tiết
kiệm, chuyên môn hoá và hợp tác lao động..., thứ nhất,tổ chức xây dựng đội ngũ
lao động kế toán với 2 nhiệm vụ là xác định số lợng ngời lao động và chất lợng
chuyên môn gắn với từng phần hành trong công tác kế toán; thứ hai, tổ chức
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 20
Báo cáo chuyên đề thực tập Lê Ngọc Dung
phân công lao động theo hệ thống quản lý tài chính, theo các phần hành công
việc nhằm thiết lập mối quan hệ lao động trong bộ máy kế toán.
Trong bộ máy kế toán, mỗi kế toán viên và kế toán tổng hợp đều có chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng về khối lợng công tác kế toán đợc giao. Kế
toán phần hành có thể chuyên môn hoá sâu theo từng phần hành hoặc có thể
kiêm nhiệm một số phần hành mà vẫn đảm các nguyên tắc nêu trên. Kế toán
phần hành quản lý trực tiếp, ghi chép, tổng hợp, phản ánh đối tợng kế toán phần
hành từ giai đoạn hạch toán ban đầu trên hệ thống chứng từ tới giai đoạn ghi sổ
kế toán phần hành và lập báo cáo phần hành đợc giao. Kế toán tổng hợp có
nhiệm vụ thực hiện công tác kế toán cuối kỳ, tổng hợp tất cả các phần hành, ghi
sổ cái và lập báo cáo nội bộ và cho bên ngoài đơn vị theo yêu cầu, hoàn tất một
chu trình kế toán khép kín, bảo đảm tổ chức công tác kế toán hiệu quả.
Quan hệ lao động trong bộ máy có thể đợc thể hiện theo một trong ba cách
tổ chức:
Bộ máy kế toán tổ chức theo kiểu trực tuyến: kế toán trởng trực tiếp điều
hành các nhân viên kế toán phần hành không thông qua khâu trung gian nhận
lệnh.
Bộ máy kế toán tổ chức theo kiểu trực tuyến tham mu: hình thành bởi mối
liên hệ trực tiếp nh cách tổ chức trên nhng có tính chất tham mu giữa kế toán tr-
Với sự năng động và sáng tạo của mình, Xí nghiệp đã phát triển lớn mạnh về
mọi mặt cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, nhiệm vụ chính của đơn
vị là nhanh chóng củng cố lực lợng, bắt tay vào sản xuất các loại thuốc phục vụ
chiến trờng. Xởng XY2 đã góp phần không nhỏ làm nên những thắng lợi vẻ
vang của quân đội. Từ sau giải phóng đến năm 1981, sản phẩm của Xởng chủ
yếu vẫn là các loại thuốc phục vụ đơn vị, bệnh viện trong quân đội dới sự chỉ
đạo và cung cấp vật liệu của Cục Quân y.
Tháng 7/1981, Đảng uỷ Cục Quân y quyết định đổi tên Xởng XY2 thành
Xí nghiệp Dợc phẩm 120. Ngày 7/5/1992, theo Quyết định 338/HĐBT, Xí
nghiệp chính thức đợc công nhận là một doanh nghiệp Nhà nớc hạch toán độc
lập theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc.
Là một doanh nghiệp ra đời trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam mới xoá
bỏ cơ chế bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trờng Xí nghiệp Dợc phẩm 120 đang
phải đơng đầu với những khó khăn không nhỏ về vật chất lẫn những tác động
xấu của quy luật cạnh tranh gay gắt. Nhng, với ý chí quyết tâm của mình, lãnh
đạo Xí nghiệp cùng toàn thể cán bộ công nhân viên đã mạnh dạn cải tiến kỹ
thuật công nghệ, đầu t trang thiết bị kỹ thuật, nghiên cứu tạo ra những loại thuốc
có đủ sức cạnh tranh đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh trong cả nớc. Vì vậy, kết
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 23
Báo cáo chuyên đề thực tập Lê Ngọc Dung
quả sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp ngày càng tăng cao, sản phẩm của Xí
nghiệp ngày càng có uy tín trên thị trờng.
Do những thành tích đáng kể, năm 1995, Xí nghiệp đợc tặng danh hiệu
Anh hùng Lực lợng vũ trang nhân dân với:
Tên giao dịch: Xí nghiệp Dợc phẩm 120
Tên viết tắt: XNDP 120
Trụ sở chính: số 8 Tăng Bạt Hổ - Hà Nội
Hiện nay, đội ngũ lao động của Xí nghiệp gồm 230 ngời, trong đó có 35
lao động gián tiếp. Nhờ có dây chuyền sản xuất hiện đại, máy móc đạt tiêu
phẩm chính của Xí nghiệp là những hàng hoá đặc biệt, liên quan trực tiếp tới
hiệu lực của công tác điều trị, phòng bệnh; tới sinh mạng và sức khoẻ của con
ngời. Xí nghiệp phải trực tiếp tổ chức triển khai quản lý kỹ thuật bào chế, quản
lý chất lợng và hoàn toàn chịu trách nhiệm về chất lợng sản phẩm của mình. Do
những đặc thù nh vậy, Xí nghiệp vừa phải chấp hành nghiêm chỉnh nguyên tắc
tổ chức sản xuất kinh doanh, nguyên tắc hạch toán vừa phải chấp hành triệt để
các quy định rất chặt chẽ về mặt chuyên ngành, nhất là quy trình công nghệ sản
xuất sản phẩm.
Sản phẩm của Xí nghiệp đợc kết tinh dới hai dạng chủ yếu là thuốc viên
(dạng viên nén hoặc viên nang) và thuốc tiêm dới dạng ống. Do tính chất sản
phẩm kích thớc nhỏ, trải qua nhiều công đoạn chế biến tơng đối ngắn nên quy
trình sản xuất tại các phân xởng là hàng loạt, sản xuất xong mặt hàng này mới
quay sang sản xuất mặt hàng tiếp theo.
Hai loại sản phẩm nêu trên có những đặc thù riêng về mặt chuyên ngành
nên quy trình sản xuất chúng hoàn toàn khác biệt.
Sơ đồ 5: Quy trình công nghệ
sản xuất thuốc viên
Sơ đồ 6: Quy trình công nghệ
sản xuất thuốc tiêm
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân 25
Nguyên liệu và tá dợc
Trộn bột képTrộn bột kép
ống
Cắt ống
Rửa ốngPha chếHàn ốngHấp ốngSoi sp