I/ ĐÁNH GIÁ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ
NƯỚC VIỆT NAM TỪ NĂM 1995 ĐẾN NAY
1. Giai đoạn từ năm 1995 đến tháng 7/2000: Cơ chế điều hành lãi suất trần
Năm 1995 vẫn là cơ chế điều hành khung lãi suất.
Từ ngày 1/1/1996 đến tháng 7/2000, NHNN thực hiện bước thay đổi căn bản cơ
chế điều hành lãi suất đồng Việt Nam theo hướng điều hành linh hoạt trần lãi suất cho
vay (quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn thấp hơn cho vay trung hạn, trần lãi suất
cho vay trên địa bàn nông thôn cao hơn thành thị), bước đầu thực hiện tự do hóa lãi
suất huy động. NHNN không còn quy định từng mức cụ thể lãi suất huy động, mà chỉ
khống chế chênh lệch bình quân giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay là
0,35%/tháng, mức lãi suất huy động cụ thể do các NHTM tự quy định.
Tiếp đến từ năm 1998, trong mối quan hệ hài hòa với tỷ giá nhằm hạn chế những
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông á 1997/1998 đến Việt Nam, cơ
chế điều hành lãi suất của NHNN Việt Nam có một số thay đổi cơ bản, đó là tự do hóa
toàn lãi suất huy động (không còn quy định biên độ) và tiếp tục điều chỉnh linh hoạt
trần lãi suất cho vay. Đồng thời, từ tháng 6/1999-8/2000 NHNN chỉ quy định 1 trần lãi
suất cho vay áp dụng với cả cho vay ngắn hạn và cho vay trung hạn, nhưng vẫn giữ quy
định trần lãi suất cho vay khác nhau giữa thành thị và nông thôn để đảm bảo chi phí
hoạt động của các NHTM trên địa bàn nông thôn.
Tuy nhiên, so với yêu cầu đổi mới của nền kinh tế, yêu cầu phát triển của thị trường
tiền tệ, thị trường vốn…, cơ chế lãi suất trần đã trở nên không còn thích hợp, làm méo
mó sự phân bổ nguồn vốn trong xã hội và hạn chế khả năng cạnh tranh giữa các TCTD,
hạn chế sự luân chuyển vốn trong xã hội, cũng như sự phát triển các công cụ thị trường
tiền tệ. Đặc biệt trong tình hình diễn biến lãi suất trên thị trường quốc tế trong năm
2000 có xu hướng ngày càng tăng, việc thực hiện cơ chế lãi suất trần cho cả đồng Việt
Nam và ngoại tệ đã cản trở việc huy động vốn từ nước ngoài, gây thua thiệt cho DN
cũng như các TCTD.
NHNN tiếp tục ấn định mức lãi suất tái cấp vốn và có những đổi mới căn
bản về điều hành lãi suất:
1
- Thay vì qui định khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi - lãi suất tối đa
2
thành và phát triển của các công cụ tài chính, có nguy cơ làm suy yếu năng lực tài chính
của TCTD.
2. Giai đoạn từ 8/2000 đến 5/2002: cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên
độ
Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ là Ngân hàng Nhà nước
đã điều hành cơ chế lãi suất theo luật ngân hàng để thay thế cho cơ chế lãi suất trần. Lãi
suất cơ bản và biên độ được công bố định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết, Ngân
hàng Nhà nước sẽ công bố điều chỉnh kịp thời.
Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản các ngân hàng thương mại, các tổ
chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và
cung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ.
Theo quy định số 241/2000/QĐ-NHNN1 ngày 02 tháng 8 năm 2000 về việc thay
đổi cơ chế điều hành lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng của
thống đốc ngân hàng Nhà Nước Việt Nam có những nội dung như sau:
Nay thay thế cơ chế điều hành trần lãi suất cho vay bằng cơ chế điều hành lãi suất
cơ bản đối với cho vay bằng Đồng Việt Nam và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý
đối với cho vay bằng ngoại tệ theo quy định cụ thể tại các điều dưới đây.
• Đối với lãi suất cho vay bằng Đồng Việt Nam:
- Tổ chức tín dụng ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng trên cơ sở
lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố theo nguyên tắc lãi suất
cho vay không vượt quá mức lãi suất cơ bản và biên độ do Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước quy định từng thời kỳ.
- Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo mức
lãi suất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ
chức tín dụng được lựa chọn theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước trong từng thời kỳ. Lãi suất cơ bản và biên độ được công bố
định kỳ hàng tháng, trường hợp cần thiết, Ngân hàng Nhà nước sẽ công
bố điều chỉnh kịp thời.
• Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ:
LSCV ngắn hạn bình quân vượt trên trần lãi suất.
4
Từ tháng 8/2000, lãi suất cơ bản được đặt ở mức mà khi cộng với biên độ
0,3%/tháng đã cao hơn hẳn lãi suất cho vay thực tế. Như vậy, từ khi có cơ chế lãi suất
cơ bản, các ngân hàng đã bắt đầu ấn định lãi suất trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng.
Một điểm đáng chú ý nữa là LSCV của các NHTM, mặc dù luôn cao hơn lãi suất
cơ bản, nhưng thay đổi theo lãi suất cơ bản. Trong năm 2000 và 2001, cả hai mức lãi
suất này đều giảm. Nhưng trong thời gian đó, lãi suất tiền gửi lại tăng lên. Cạnh tranh
giữa các ngân hàng đã dẫn tới gia tăng lãi suất huy động vốn, nhưng LSCV vẫn không
tăng và nằm trong biên độ lãi suất cơ bản. Chênh lệch lãi suất, do vậy, đã giảm đi rõ
rệt.
3. Giai đoạn từ 6/2002 đến nay: Cơ chế lãi suất thoả thuận
Từ ngày 1/6/2002, NHNN thay cơ chế điều hành lãi suất đồng Việt Nam thông qua
lãi suất cơ bản và biên độ bằng việc áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận trong hoạt động
tín dụng thương mại bằng đồng Việt Nam của TCTD đối với khách hàng. Theo đó, các
TCTD xác định lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam trên cơ sở cung cầu vốn thị
trường và mức độ tín nhiệm của khách hàng. NHNN không quy định biên độ lãi suất
cho vay so với lãi suất cơ bản nhưng vẫn tiếp tục công bố lãi suất cơ bản để làm tham
khảo và định hướng lãi suất thị trường. Có thể nói, đó là bước tiến quan trọng trong quá
trình tự do hóa lãi suất ở Việt Nam. Để định hướng lãi suất thị trường, từ tháng 3/2003,
NHNN đã bước đầu hình thành khung lãi suất với lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh
dần theo hướng làm lãi suất trần, lãi suất chiết khấu được quy định theo hướng làm lãi
suất sàn của thị trường liên ngân hàng; đồng thời áp dụng phân bổ hạn mức chiết khấu.
Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở được điều hành linh hoạt trong khung lãi suất tái cấp
vốn và lãi suất chiết khấu.
Quá trình đổi mới kiểm soát lãi suất nền kinh tế từ cơ chế lãi suất trần sang cơ chế
lãi suất thỏa thuận (thực chất là tự do hóa lãi suất) là những bước đi rất thận trọng và
đến nay đã đạt được một số thành công nhất định.
Tuy nhiên, trong thực tế, các lãi suất do NHNN công bố chưa có tác động hiệu quả
đến lãi suất thị trường bởi các nguyên nhân chủ yếu sau: Thị trường tiền tệ liên ngân