B GIO DC V ĐO TO
TRƯỜNG ĐI HỌC
KHOA
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Đánh giá cơ chế điều hành lãi suất Việt Nam
giai đoạn 1995 đến nay.
Mục lục
I.Lý thuyết chung về lãi suất 3
1.Những khái niệm về lãi suất 3
2.Phân loại lãi suất 3
3.Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế 4
4.Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất 6
5. Mối quan hệ giữa lãi suất và các biến cố kinh tế vĩ mô khác 7
II.Diễn biến lãi suất và cơ chế điều hành lãi suất 8
1.Nguyên nhân điều chỉnh lãi suất 8
2.Diễn biến các giai đoạn điều chỉnh lãi suất <1995 đến nay> 9
III.Đánh giá về cơ chế điều hành lãi suất 14
IV.Bài học kinh nghiệm từ một vài nước 18
V.Một số giải pháp điều hành lãi suất ở Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới 20
1.Cụ thể những việc cần làm trước mắt của NHNN trong giai đoạn hiện nay là:
20
2. Về lâu dài đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, góp sức của cả NHNN và hệ
thống NHTM nói riêng, hệ thống tài chính trong nền kinh tế nói chung. Dưới
đây là một số biện pháp được đề xuất: 21
I.Lý thuyết chung về lãi suất
1.Những khái niệm về lãi suất
Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định
mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó. Lãi suất được sinh ra là bởi lẽ
người đi vay đã sử dụng vốn đó để phục vụ các nhu cầu sinh lời của mình
• Lãi suất thị trường liên ngân hàng: Là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi
cho vay vốn trên thị trường liên ngân hàng
b.Theo cơ chế điều hành của nhà nước
• Lãi suất trần(lãi suất sàn) : Là mức lãi suất cao nhất (thấp nhất)trong một
khung lãi suất nào đó mà NHTƯ quy định để can thiệp vào hoạt động tín
dụng nhằm bảo vệ quyền của người cho vay và người đi vay.
• Lãi suất cơ bản : Là lãi suất do NHTƯ công bố làm cơ sở cho các NHTM
và tổ chức tín dụng (TCTD) khác ấn định lãi suất kinh doanh.
c.Theo ảnh hưởng của lạm phát
• Lãi suất danh nghĩa : Là mức lãi suất được công bố trên bảng niêm yết lãi
suất, trên các hợp đồng tín dụng và các công cụ nợ
• Lãi suất thực: Là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ
3.Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế
• Là công cụ khuyến khích tiết kiệm đầu tư.
Lãi suất là công cụ khuyến khích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiết
kiệm của chủ thể kinh tế, tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh
tế.
Theo lý thuyết tài chính chúng ta có thể đưa ra phương trình thu nhập
sau:Thu nhập = tiêu dùng + tiết kiệm
Phương trình trên không những đúng với đặc điểm của hộ gia đình, các
doanh nghiệp mà còn đúng với cả nền kinh tế quốc gia.
Giả sử trong điều kiện của một nền kinh tế bình thường, tỉ lệ giữa tiêu dùng
và tiết kiệm là hợp lý để tăng tỷ lệ tiết kiệm cho nền kinh tế quốc dân thì
biện pháp hiệu quả là tăng lãi suất huy động vốn. Khi lãi suất vốn tăng lên,
thì trước hết các hộ gia đình phải xem xét các khoản chi cho tiêu dùng
thường xuyên có thể giảm chi hoặc hoãn một số khoản chi để tăng thêm
khoản tiết kiệm cho tổng thu nhập. Sau từ khoản tiết kiệm này họ sẽ hướng
đầu tư gửi vào ngân hàng, vào quỹ bảo hiểm hay đầu tư vào chứng khoán
khi thấy có lợi hơn.
Như vậy, lãi suất là công cụ có hiệu lực để phân chia tỉ lệ giữa tiêu dùng và
Lãi suất có tác dụng trong việc phân phối vốn. Đối với các dự án có mức độ
rủi ro như nhau, dự án nào có lãi cao hơn thường thu hút được vốn nhanh
hơn, nhiều hơn. Còn những dự án nào chứa đựng nhiều rủi ro thì phải trả lãi
suất cao mới có khả năng thu hút được vốn. Như vậy bằng cách đưa ra
những mức lãi suất khác nhau có thể tạo được sự phân phối các luồng vốn
theo mục đích mong muốn.
• Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế.
Lãi suất là biến cố thường xuyên biến động trong nền kinh tế. Căn cứ vào sự
biến động đó của lãi suất, người ta có thể dự báo được các yếu tố khác cùa
nền kinh tế, như tính sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát dự tính,
mức thiếu hụt của ngân sách, người ta có thể dựa vào lãi suất trong một thời
kỳ để dự báo tình hình kinh tế trong tương lai.
4.Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất
• Khả năng cung ứng và nhu cầu vốn trên thị trường
Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến việc hình thành lãi suất trên thị trường
cụ thể : Khi lượng vốn cung ứng trên thị trường lớn hơn nhu cầu sẽ làm cho
lãi suất giảm và ngược lại. Dựa vào quy luật này, nhà nước có thể khống chế
lãi suất hoặc tác động vào phía cung hay phía cầu trên thị trường vốn nhằm
thuwch hiện mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn .
• Lạm phát
Lạm phát có ảnh hưởng rất lớn đến lãi suất, khi lạm phát tăng lên thì lãi suất
cũng có xu hướng tăng theo. Khi đó khả năng cung ứng vốn trên thị trường
sẽ giảm, điều này sẽ làm cho lãi suất tín dụng tăng lên. Như vậy lạm phát và
lãi suất luôn có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau.
• Chính sách tiền tệ của chính phủ
Khi lãi suất tăng làm giảm nhu cầu tiêu dùng và đầu tư, ngân hàng Trung
ương sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu cho các ngân hàng thương mại, các ngân
hàng thương mại được giảm lãi suất tái chiết khấu sẽ hạ lãi suất cho vay đối
với các doanh nghiệp, làm cho toàn bộ hệ thống lãi suất, đối với các thành
phần kinh tế đều giảm, các khoản cho vay tiêu dùng tăng lên.
mô đầu tư.
• Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm
Thu nhập của một hộ gia đình thường được chia thành hai bộ phận: tiêu
dùng và tiết kiệm. Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như
thu nhập, vấn đề hàng hóa lâu bền tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của tiết
kiệm trong đó tiết kiệm có tác dụng tích cực tới các nhân tố đó.
Khi lãi suất thấp chi phí tín dụng tiêu dùng thấp, người ta vay nhiều cho
việc tiêu dùng hàng hóa nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn. Khi lãi suất cao
đem lại thu nhập từ khoản tiền để dành nhiều hơn sẽ khuyến khích tiết
kiệm, do đó tiết kiệm tăng.
• Lãi suất với tỉ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu
Tỷ giá chịu ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ.
Sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ ở đây là sự thay đổi trong lãi suất danh
nghĩa. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do tỷ lệ lạm phát tăng ( lãi suất thực
không đổi) thì tỷ giá giảm. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất thực
tế tăng ( tỷ lệ lạm phát không đổi) thì tỷ giá tăng. Khi tỷ giá đồng ngoại
tệ tăng đồng nội tệ sẽ giảm giá (tỷ giá giảm) và ngược lại.
-Vai trò của lãi suất trong nước với quá trình xuất nhập khẩu: Khi lãi suất
thực tế tăng lên làm cho tỉ giá hối đoái tăng lên. Tỷ giá hối đoái cao hơn
làm hàng hóa của nước đó ở nước ngoài trở nên đắt hơn và hàng hóa
nước ngoài ở nước đó sẽ trở nên rẻ hơn, dẫn đến giảm xuất khẩu ròng.
-Vai trò của lãi suất nước ngoài với xuất khẩu ròng.
Khi lãi tiền gửi bằng ngoại tệ tăng lên, đường lợi tức dự tính của đồng
ngoại tệ dịch chuyển sang phải làm giảm tỷ giá hối đoái. Hàng xuất khẩu
trở nên rẻ hơn so với các quốc gia khác.
• Lãi suất và lạm phát
Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất và
lạm phát. Fishes chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát, do
đó lãi suất được sử dụng để điều chỉnh lạm phát. Cụ thể, lãi suất tăng sẽ
thu hẹp được lượng tiền trong lưu thông, lạm phát được kiềm chế.
của các đồng tiền trong khu vực do có khủng hoảng tiền tệ năm 1997-
1998 ở các nước Đông Nam Á.
NHNN tiếp tục ấn định mức lãi suất tái cấp vốn và có những đổi mới
căn bản về điều hành lãi suất: Thay vì qui định khung lãi suất tối thiểu
về tiền gửi, lãi suất tối đa về tiền vay, NHNN chỉ qui định các mức lãi
suất “trần” theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi
suất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân là 0,35%/tháng
(4,2%/năm) để khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương
mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi các doanh nghiệp lại gặp khó
khăn về tài chính (khi thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận ở giai đoạn
trước).
Trong năm1997, NHNN đã thay đổi hình thức qui định lãi suất tái cấp
vốn, chuyển sang qui định mức lãi suất cụ thể. Mức lãi suất tái cấp
vốn cũng được điều chỉnh giảm xuống trong thời gian này (từ 1,1%
năm 1997 xuống 0,7%/tháng từ 4/9/ 99) để phù hợp với chỉ số lạm
phát, quan hệ cung- cầu vốn trên thị trường và thực hiện giải pháp
kích cầu về đầu tư của Chính phủ.
Đến cuối tháng 1/1998, NHNN xoá bỏ qui định chênh lệch lãi suất,
chỉ còn qui định trần lãi suất cho vay. Cùng với nới lỏng sự kiểm soát
lãi suất, NHNN liên tục điều chỉnh trần lãi suất cho vay theo hướng
giảm cơ cấu trần và mức khống chế, đặc biệt trong năm các năm 1998,
1999.
Để bổ sung thêm công cụ điều hành lãi suất, tháng 11/1999 NHNN
đưa vào sử dụng nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá
cho các NHTM, lãi suất tái chiết khấu được qui định ở mức thấp hơn
0,05%/tháng so lãi suất tái cấp vốn.
Tháng 7/2000, NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ thị trường mở, lãi
suất thị trường mở được hình thành qua các phiên giao dịch. (Việc
điều chỉnh chính sách lãi suất như trên nhằm tiến tới việc duy trì một
trần lãi suất cho vay, tạo điều kiện để áp dụng mức lãi suất cơ bản và
lãi suất cho vay nội tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất
cơ bản do NHNN. Tuy nhiên, các ngân hàng không được tính lãi
suất cho vay vượt quá lãi suất cơ bản 0,3%/tháng đối với vốn ngắn
hạn và 0,5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn.
Cơ chế giới hạn biên độ lãi suất so với lãi suất cơ bản về bản chất
không khác gì so với trần lãi suất áp dụng trước đây. Tuy nhiên, trên
thực tế mức trần (lãi suất cơ bản cộng biên độ) được định ở mức cao
hơn trần lãi suất theo cơ chế cũ rất nhiều. Trước thời điểm áp dụng
lãi suất cơ bản, lãi suất cho vay bình quân của bốn ngân hàng
thương mại quốc doanh đã kịch trần (0,85%/tháng). Thực tế là trong
năm 1999, các NHTM không theo kịp 5 đợt hạ trần lãi suất của
NHNN, LSCV ngắn hạn bình quân vượt trên trần lãi suất
Từ tháng 8/2000, lãi suất cơ bản được đặt ở mức mà khi cộng với
biên độ 0,3%/tháng đã cao hơn hẳn lãi suất cho vay thực tế. Như
vậy, từ khi có cơ chế lãi suất cơ bản, các ngân hàng đã bắt đầu ấn
định lãi suất trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng.
Một điểm đáng chú ý nữa là LSCV của các NHTM, mặc dù luôn cao
hơn lãi suất cơ bản, nhưng thay đổi theo lãi suất cơ bản. Trong năm
2000 và 2001, cả hai mức lãi suất này đều giảm. Nhưng trong thời
gian đó, lãi suất tiền gửi lại tăng lên. Cạnh tranh giữa các ngân hàng
đã dẫn tới gia tăng lãi suất huy động vốn, nhưng LSCV vẫn không
tăng và nằm trong biên độ lãi suất cơ bản. Chênh lệch lãi suất, do
vậy, đã giảm đi rõ rệt.
Vào tháng 11/2001, trần lãi suất cho vay ngoại tệ được xóa bỏ, từ đó
cho phép những người vay ngoại tệ trong nước có thể thương lượng
lãi suất với các ngân hàng nội địa và ngân hàng nước ngoài. Vào
tháng 6/2002, lãi suất được tự do hóa hoàn toàn với việc các ngân
hàng được phép xác định lãi suất cho vay trên cơ sở tự thẩm định và
thương lượng với khách hàng.
Như đã trình bày, các ngân hàng đã chủ động xác định LSTG và
trong hoạt động tín dụng trong nước. Nhìn một cách tổng quát thì
quá trình thực thi cơ chế tự do hóa lãi suất ở VN bước đầu đã có kết
quả nhất định.
NHNN tiếp tục công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo mức lãi
suất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các
TCTD để làm tham khảo và định hướng lãi suất thị trường.
Theo Thống đốc NHNN Lê Đức Thúy, đây là một bước chuyển căn
bản của VN trong việc điều hành lãi suất, tạo điều kiện cho các
TCTD mở rộng mạng lưới để huy động, cho vay vốn với mức lãi
suất phù hợp với quan hệ cung cầu vốn thị trường, đồng thời nâng
cao năng lực tài chính, khả năng cạnh tranh, các tiêu chuẩn an toàn
và khả năng hội nhập với thị trường tài chính tiền tệ quốc tế của các
TCTD VN.
Với cơ chế này, Nhà nước chính thức không can thiệp vào hoạt động
điều hành lãi suất bằng việc ấn định lãi suất cho vay mà chỉ gián tiếp
điều tiết lãi suất nhằm có lợi nhất cho nền kinh tế. Cơ chế này cũng
giúp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng và giúp các ngân
hàng nới lỏng các biện pháp bảo đảm tiền vay (thế chấp) đối với
khách hàng.
Ngày 30 tháng 5 năm 2002, NHNN đưa ra Quyết định số
546/2002/QĐ-NHNN về việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận
trong hoạt động tín dụng thương mại bằng đồng Việt Nam của tổ
chức tín dụng đối với khách hàng áp dụng từ 1-6-2002là
0,60%/tháng (7,2%/năm).
Năm 2003,mức chênh lệch giữa lãi suất trần và lãi suất sàn đã được
nới rộng từ 0,05%/tháng tức là 0,6%/năm (tháng 3/2003) lên
2,4%/năm(tháng 6/2003) và tháng 9/2003 là 2%/năm.
Năm 2004,mức lãi suất cơ bản là 0,625%/tháng và 7,5%/năm.
Năm 2005,mức lãi suất cơ bản là 0,65%/tháng và 7,8%/năm
Năm 2006,mức lãi suất cơ bản là 0,6875%/tháng và 8,25%/năm
phát.
III.Đánh giá về cơ chế điều hành lãi suất
Có thể nói quá trình đổi mới cơ chế điều hành lãi suất ngân hàng ở nước ta
từ khi có mô hình ngân hàng hai cấp (1988) đến nay đã trải qua sáu bước
chuyển đổi căn bản, đó là những bước đi khá thận trọng, phù hợp với tình
hình kinh tế từng thời kỳ và khẳng định xu hướng tất yếu của quá trình tự
do hóa lãi suất ở nước ta.
a. Giai đoạn từ năm 1995 đến tháng 7/2000 (cơ chế điều hành lãi suất trần)
Ưu điểm:
- Kích cầu thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng.
Nhược điểm:
- Mức ảnh hưởng của lãi suất đối với tổng cầu của nền kinh tế Việt Nam rất
hạn chế.
-Tác động của chính sách vĩ mô vào tổng cầu sẽ chỉ đem lại hiệu quả hạn
chế, sự điều chỉnh thường chậm nên mất đi lợi thế bất ngờ của sự thay đổi
lãi suất.
b.Giai đoạn từ tháng 8/2000 đến 5/2002(cơ chế điều hành lãi suất cơ bản
kèm biên độ)
Ưu điểm:
-Chính sách lãi suất thời kỳ này đã tiến gần đến các nguyên tắc lãi suất thị
trường hơn
-Việc sử dụng lãi suất cơ bản làm lãi suất tham chiếu khi cấp tín dụng của
các tổ chức tín dụng là bước chuẩn bị cho tụ do hóa lãi suất hoàn toàn sau
này.
Nhược điểm:
-Việc khống chế biên độ dao động trên của lãi suất cơ bản làm hạn chế phần
nào tính thị trường của lãi suất, làm cho cơ chế này về bản chất vẫn là cơ chế
điều hành trần lãi suất.
c. Giai đoạn từ 6/2002 đến năm 2006 (cơ chế lãi suất thỏa thuận)
Ưu điểm:
chủ động và thuận lợi.
• Chính sách lãi suất qua các lần biến đổi đã tiến dần đến tự do hóa lãi
suất, chuẩn bị cho sự hội nhập về lãi suất với nền kinh tế thế giới.
Những phản ứng tích cực của thị trường là cơ sở khẳng định tính đúng
đắn của Thông tư 07, 13. Và những phản ứng này là một tín hiệu tốt để
NHNN thực hiện những bước tiếp theo nhằm tự do hóa hoàn toàn lãi
suất.
Quá trình vẫn còn một số hạn chế:
• Hiệu lực, hiệu quả của các cơ chế điều hành LS chưa cao
Nguyên nhân: Năng lực tài chính, năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh
của các thành viên trên thị trường tài chính không đồng đều, tính bền
vững trong phát triển chưa cao.
Trên thị trường có sự cạnh tranh không lành mạnh. Biểu hiện là tình
trạng đua nhau tăng lãi suất cho vay và lãi suất huy động của các
NHTM. Khi NHNN thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với cho vay
trung hạn, các NHTM đã đẩy mức lãi suất cho vay rất cao, khoảng 18%.
Những động thái tiêu cực đó là nguyên nhân gây ra sự bất ổn trong hệ
thống tài chính. Các dự án trung và dài hạn gặp nhiều khó khăn hơn
trong việc tìm kiếm các nguồn vốn từ Ngân hàng. Điều này là 1 trở ngại
đối việc phát huy hiệu lực, hiệu quả của các chính sách do NHNN đưa
ra.
Bên cạnh đó, đối với nhóm ngân hàng lớn, thông qua vị thế mạnh của
mình trong hệ thống, những hành vi chi phối thị trường của các ngân
hàng này có thể gây ảnh hưởng tới tác động tổng thể của chính sách
NHNN nói chung và chính sách lãi suất nói riêng.
• Mức độ tự do của LS còn hạn chế:
Một trong những lý do là thị phần tín dụng áp dụng mức lãi suất chính
sách là không nhỏ. Ngoài các khoản vay áp dụng cơ chế hỗ trợ lãi suất
trong thời gian qua, thì chúng ta cũng có không ít các dự án, các lĩnh vực
sản xuất được áp dụng lãi suất ưu đãi được thực hiện thông qua Ngân
so với quý trước. Tuy nhiên, ngoài lãi suất thực còn nhiều yếu tố khác
tác động lên tăng trưởng kinh tế, vì vậy, mức độ biến động của lãi suất
thực mới chỉ giải thích được 12,3% biến động của tăng trưởng kinh tế.
• Tính kỷ luật trong hoạch định các chính sách vĩ mô chưa cao, tình trạng
mâu thuẫn của các mục tiêu của các chính sách vẫn thường xảy ra.
Là một nền kinh tế đôla hóa, lãi suất đồng nội tệ, lãi suất ngoại tệ và tỷ
giá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, với mức chênh lệch quá lớn giữa
lãi suất nội tệ với lãi suất đồng ngoại tệ cộng với mức kỳ vọng về tỷ giá
sẽ làm dịch chuyển sự nắm giữ giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ của các
thành viên trong thị trường, điều này sẽ gây ra những rối loạn thị trường,
tạo áp lực lên tỷ giá. Do vậy, chính sách lãi suất tiền đồng cũng phải giải
quyết hài hòa mối quan hệ này. Trong năm 2009, vấn đề tỷ giá nổi lên
như một điểm nhấn của sự ổn định, chính sách lãi suất của NHNN cùng
hàng loạt các chính sách khác ( như yêu cầu các tổng công ty lớn bán
ngoại tệ cho NHNN, điều chỉnh tỷ giá công bố, điều chỉnh dự trữ bắt
buộc bằng ngoại tệ, qui định trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các doanh
nghiệp ) đã phải hướng tới sự ổn định này.
IV.Bài học kinh nghiệm từ một vài nước
Mỗi quốc gia khác nhau, vào từng thời kỳ khác nhau của nền kinh tế, tùy
thuộc vào mô hình của NHTW mà quốc gia đó sở hữu, sẽ có khả năng quyết
định việc điều chỉnh hay giữ nguyên mức lãi suất cũng như những chính
sách tiền tệ phù hợp để phục vụ cho mục tiêu phát triển của đất nước đó.
• Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) thực hiện chính sách tiền tệ chủ yếu
bằng cách định hướng “lãi suất quỹ vốn của FED” (tỷ lệ các ngân
hàng ấn định với nhau cho khoản vay qua đêm các quỹ đặt cọc tại
FED).Khi nền kinh tế có dấu hiệu chậm lại thì FED sẽ cắt giảm lãi
suất,còn khi lạm phát gia tăng sẽ nâng cao lãi suất.
• Ngân hàng liên bang Đức coi trọng điều kiện cấp tín dụng và cấp lãi
suất chiết khấu.
• Ở Pháp, lãi suất cơ bản là lãi suất Ngân hàng trên cơ sở đó tính các
chế điều hành lãi suất phù hợp trong từng thời kỳ nhằm ổn định và phát
triển thị trường tiền tệ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và
sự phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế. Đối với nước ta,
một nước có nền kinh tế đang phát triển với mức tăng trưởng cao, NHTW
cần phải nghiên cứu kĩ các cơ chế điều hành lãi suất của các nước phát triển
trên thế giới như :Mỹ,pháp,hàn quốc,trung quốc, Để có những chính sách
đưa ra kịp thời và hợp lý.
V.Một số giải pháp điều hành lãi suất ở Việt Nam hiện nay và trong thời
gian tới
Chính sách lãi suất là một công cụ của CSTT, vì vậy mục tiêu theo đuổi của
chính sách lãi suất phải nằm trong mục tiêu của CSTT, quá trình
hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời kỳ luôn phải đảm
bảo mục tiêu bao trùm của CSTT là ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát,
hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều đó có
nghĩa, sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất không được gây ra
những cú sốc thị trường, đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục
tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế.
1.Cụ thể những việc cần làm trước mắt của NHNN trong giai đoạn hiện nay là:
• Trước mắt là phải thiết lập một mức lãi suất cơ bản định hướng được lãi suất
thị trường.
• Trên cơ sở mức lãi suất cơ bản, hình thành đồng bộ các mức lãi suất chỉ đạo,
như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm và lãi
suất nghiệp vụ thị trường mở nhằm chủ động điều tiết lãi suất thị trường và
các hành vi cho vay, đi vay của các thành viên trên thị trường tiền tệ. Lượng
tiền cung ứng sẽ được điều tiết hợp lý để đảm bảo các mức lãi suất mục tiêu.
• Đối với lãi suất huy động, do những bất cập về cấu trúc thị trường hiện nay
làm nảy sinh tình trạng cạnh tranh lãi suất thiếu lành mạnh, cũng như là diễn
biến của lãi suất thực huy động có thể làm kỳ vọng lạm phát gia tăng nên
việc thực hiện duy trì mức lãi suất trần trong giai đoạn này là cần thiết để
bình ổn mặt bằng lãi suất.
của Ngân hàng thương mại chuyển từ thanh tra tuân thủ sang
thanh tra, giám sát, kiểm toán nội bộ theo định hướng rủi ro.
Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, tiếp tục hiện đại hoá
ngân hàng, đẩy mạnh các hoạt động ngân hàng mới…
Phát huy vai trò của các công cụ gián tiếp
Công cụ dự trữ tối thiểu bắt buộc (dự trữ bắt buộc)
Công cụ lãi suất cho vay
Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Phát triển thị trường tài chính đặc biệt là thị trường chứng khoán
Thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán có mối liên hệ mật
thiết với nhau, khi lãi suất trên thị trường tiền tệ tăng lên, thị trường
tiền tệ nóng lên, thì thịtrường chứng khoán cũng sôi động. Phát triển
thị trường tiền tệ, làm tăng tốc độ chuchuyển vốn ngắn hạn trong nền
kinh tế, nâng cao khả năng kinh doanh trên thị trường tiền tệ của các
tổ chức trung gian tài chính, tạo điều kiện cho các tổ chức này sẵn
sàng tham gia có hiệu quả trên thị trường chứng khoán
Nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản lý và năng lực kiểm soát rủi
ro của các TCTD
Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý