Đánh giá cơ chế điều hành lãi suất Việt Nam giai đoạn 1995 đến nay - Pdf 22

Đề tài:Đánh giá cơ chế điều hành lãi suất Việt Nam giai đoạn 1995 đến nay.
I.Lý thuyết chung về lãi suất
1.Những khái niệm về lãi suất
 Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định
mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó. Lãi suất được sinh ra là bởi lẽ
người đi vay đã sử dụng vốn đó để phục vụ các nhu cầu sinh lời của mình
( trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng ) trong khi người cho
vay đã hi sinh quyền đó.
2.Phân loại lãi suất
a.Theo nghiệp vụ tín dụng của các tổ chức tín dụng
• Lãi suất huy động : Là lãi suất quy định tỷ lệ lãi phải trả cho các hình thức
nhận tiền gửi của khách hàng
 Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn :Là loại lãi suất áp dụng với những khoản
tiền gửi không xác định cụ thể thời hạn gửi tiền và thông thường lãi suất
này thấp hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn
 Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn : Là loại lãi suất áp dụng với những khoản
tiền gửi có xác định rõ thời hạn gửi tiền (3 tháng,6 tháng,12 tháng...)
• Lãi suất cho vay (LSCV): Là lãi suất quy định tỷ lệ lãi mà người đi vay phải
trả cho người cho vay ( về nguyên tắc trong điều kiện bình thường lãi suất
cho vay không được nhỏ hơn lãi suất huy động để đảm bảo cho tổ chức kinh
doanh tín dụng có lãi )
 Lãi suất cho vay thông thường :Là loại lãi suất áp dụng với những khoản
tín dụng thông thường (vay để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ,bổ sung
vốn sản xuất...)
 Lãi suất cho vay ưu đãi :Là loại lãi suất áp dụng đối với một số đối
tượng hoặc các dự án nằm trong kế hoạch ưu tiên của chính phủ
 Lãi suất nợ quá hạn :Là loại lãi suất áp dụng đối với những khoản nợ
vượt quá thời hạn nợ theo thỏa thuận song người này chưa có khả năng
thanh toán
• Lãi suất chiết khấu: Là lãi suất cho vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại
(NHTM) đối với khách hàng dưới hình thức triết khấu các giấy tờ có giá

thường xuyên có thể giảm chi hoặc hoãn một số khoản chi để tăng thêm
khoản tiết kiệm cho tổng thu nhập. Sau từ khoản tiết kiệm này họ sẽ hướng
đầu tư gửi vào ngân hàng, vào quỹ bảo hiểm hay đầu tư vào chứng khoán
khi thấy có lợi hơn.
Như vậy, lãi suất là công cụ có hiệu lực để phân chia tỉ lệ giữa tiêu dùng và
tiết kiệm.
• Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính sách lãi suất là một bộ phận trong tiền tệ của nhà nước nhằm điều tiết
lưu thông tiền tệ kích thích điều tiết và hướng hoạt động sản xuất kinh doanh
của các đơn vị kinh tế.
Lãi suất phải trả cho khoản vay là các khoản chi phí của doanh nghiệp. Do
vậy, lãi suất sẽ khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển sản
xuất kinh doanh. Ngược lại lãi suất cho vay cao sẽ thu hẹp đầu tư của doanh
nghiệp.
Lãi suất là công cụ buộc các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả các ưu đãi
về lãi suất, về điều kiện cung cấp tín dụng và thanh toán, là công cụ của nhà
nước khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành, các sản phẩm
cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế.
• Lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô.
Lãi suất tạo chi phí của người đi vay, vì vậy sự biến động của lãi suất có tác
động đến đầu tư, đến tiêu dùng qua đó tác động đến các mục tiêu của kinh tế
vĩ mô biểu hiện trong các trường hợp:
-Lãi suất thấp  kích thích đầu tư, kích thích tiêu dùng  tăng tổng cầu 
sản lượng tăng, giá tăng, thất nghiệp giảm  nội tệ có xu hướng giảm giá so
với ngoại tệ.
-Lãi suất cao  hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng  giảm tổng cầu  sản
lượng giảm  giảm giá  thất nghiệp tăng  nội tệ có xu hướng tăng giá so
với ngoại tệ.
Như vậy bằng cách giảm lãi suất, NHNN có thể tạo điều kiện cho các hoạt
động kinh tế phát triển.Tương tự ngân hàng có thể tăng lãi suất khi muốn

Khi lãi suất tăng làm giảm nhu cầu tiêu dùng và đầu tư, ngân hàng Trung
ương sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu cho các ngân hàng thương mại, các ngân
hàng thương mại được giảm lãi suất tái chiết khấu sẽ hạ lãi suất cho vay đối
với các doanh nghiệp, làm cho toàn bộ hệ thống lãi suất, đối với các thành
phần kinh tế đều giảm, các khoản cho vay tiêu dùng tăng lên.
Khi lãi suất giảm Ngân hàng Trung ương sẽ sử dụng các chính sách tiền tệ
như dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại.Tăng lãi suất chiết
khấu để làm giảm các khoản cho vay.
Như vậy thông qua các chính sách tiền tệ của chính phủ mà lãi suất trên thị
trường đã có những thay đổi nhằm đảm bảo mục tiêu ổn định, phát triển kinh
tế -xã hội.
• Rủi ro và kỳ hạn của tín dụng
Thời hạn cho vay dài, độ rủi ro lớn thì lãi suất cho vay sẽ cao và ngược
lại.Vì thế lãi suất cho vay trong ngắn hạn sẽ nhỏ hơn lãi suất cho vay trong
dài hạn,lãi suất trái phiếu chính phủ thường thấp hơn lãi suất trái phiếu của
các công ty kinh doanh
• Các nhân tố ảnh hưởng khác
Sự ổn định về kinh tế -chính trị, tình hình cân đối của ngân sách nhà nước,
mức độ phát triển của các thể chế tài chính trung gian, chính sách tài khóa
của nhà nước, tỷ giá hối đoái, tình hình tài chính quốc tế,....cũng ảnh hưởng
rất lớn đến lãi suất.
5. Mối quan hệ giữa lãi suất và các biến cố kinh tế vĩ mô khác
• Lãi suất và đầu tư
Quá trình đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản cố định được thực hiện khi
mà họ dự tính lợi nhuận thu được từ tài sản cố định này nhiều hơn số lãi
phải trả cho các khoản đi vay để đầu tư. Do đó khi lãi suất xuống thấp
các hãng kinh doanh có điều kiện tiến hành mở rộng đầu tư và ngược lại.
Trong môi trường tiền tệ hoàn chỉnh, ngay cả khi doanh nghiệp thừa vốn
thì chi tiêu đầu tư có kế hoạch vẫn bị ảnh hưởng bởi lãi suất, bởi vì thay
cho việc đầu tư vào mở rộng sản xuất doanh nghiệp có thể mua chứng

• Lãi suất và lạm phát
Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất và
lạm phát. Fishes chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát, do
đó lãi suất được sử dụng để điều chỉnh lạm phát. Cụ thể, lãi suất tăng sẽ
thu hẹp được lượng tiền trong lưu thông, lạm phát được kiềm chế.
Tuy nhiên dùng lãi suất để chống lạm phát không thể duy trì lâu dài vì nó
sẽ làm giảm đầu tư, tổng cầu, sản lượng. Do vậy phải kết hợp nó với các
công cụ khác.
• Lãi suất và cầu tiền
Cầu tiền là lượng tiền mà mọi người muốn nắm giữ. Đối với cầu giao
dịch dự phòng, khi lãi suất tăng thì cầu tiền để giao dịch và dự phòng sẽ
giảm. Lý do là khi giữ tiền trong tay người ta phải chịu một khoản chi phí
cơ hội, cho dù đó là tiền mặt hay tiền trong tài khoản séc. Chi phí cơ hội
của việc giữ tiền là lãi suất mà lẽ ra bạn có thể được hưởng bằng cách
này hay cách khác, nếu như không giữ tiền. Như vậy khi lãi suất càng cao
thì chi phí cơ hội càng lớn. lúc đó người ta càng ít muốn giữ tiền trong
tay, tức là cầu về tiền để giao dịch và dự phòng sẽ giảm.
II.Diễn biến lãi suất và cơ chế điều hành lãi suất
1.Nguyên nhân điều chỉnh lãi suất
Nguyên nhân điều chỉnh của ngân hàng Nhà nước là do những biến động
của tình hình nền kinh tế như: Lạm phát, thiểu phát, biến động của thị
trường vàng, thị trường ngoại hối, sự thay đổi trong cán cân cung-cầu
tiền, hoặc do mức lãi suất cũ chưa hợp lý, gây cản trở sự phát triển của
nền kinh tế, nên ngân hàng Nhà nước phải có biện pháp giữ ổn định cho
thị trường tài chính.
2.Diễn biến các giai đoạn điều chỉnh lãi suất <1995 đến nay>
a.Cải cách trong chính sách lãi suất từ giữa năm 2000 trở về trước
• Giai đoạn từ năm 1995 đến tháng 7/2000( cơ chế điều hành lãi suất
trần)
 Nét cơ bản của cơ chế điều hành trần lãi suất, đó là Ngân hàng Nhà

0,05%/tháng so lãi suất tái cấp vốn.
 Tháng 7/2000, NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ thị trường mở, lãi
suất thị trường mở được hình thành qua các phiên giao dịch. (Việc
điều chỉnh chính sách lãi suất như trên nhằm tiến tới việc duy trì một
trần lãi suất cho vay, tạo điều kiện để áp dụng mức lãi suất cơ bản và
từng bước tự do hoá lãi suất, mặt khác nhằm mục đích kích cầu thúc
đẩy đầu tư và tiêu dùng). Tuy nhiên ảnh hưởng của lãi suất đối với
tổng cầu của nền kinh tế Việt Nam rất hạn chế. Có hai lý do: trước
hết, việc giảm phát trong thời gian từ 1996 xuất phát từ sự suy giảm
các yếu tố sản xuất liên quan đến tổng cung nhiều hơn tổng cầu, vì thế
các chính sách vĩ mô tác động vào tổng cầu sẽ chỉ đem lại hiệu quả
hạn chế; thứ hai, sự điều chỉnh lãi suất thường là chậm so với thị
trường, nên mất đi lợi thế bất ngờ của sự thay đổi lãi suất. Hơn nữa
việc sử dụng các công cụ gián tiếp khác chưa thực sự có hiệu quả;
việc điều hành trần lãi suất vẫn là một biện pháp can thiệp hành chính
của Nhà nước do vậy đã hạn chế tính chủ động, linh hoạt trong kinh
doanh của các TCTD, hạn chế việc hình thành và phát triển của các
công cụ tài chính, có nguy cơ làm suy yếu năng lực tài chính của
TCTD.
b.Tự do hóa lãi suất từng bước từ giữa năm 2000 đến nay
• Giai đoạn từ tháng 8/2000 đến 5/2002(cơ chế điều hành lãi suất cơ
bản kèm biên độ)
 Nội dung của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ là Ngân
hàng Nhà nước đã điều hành cơ chế lãi suất theo luật ngân hàng để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status