1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
TIỂU LUẬN MÔN
NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Đề tài: CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT
Ở CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN & VIỆT NAM HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn: Tiến sỹ HOÀNG CÔNG GIA KHÁNH
Học viên thực hiện: Nhóm 02
1. Nguyễn Hùng Dương
2. Vũ Chí Dương
3. Trần Thị Hương Giang
4. Lương Ngọc Hạnh
5. Võ Văn Hoàng
Lớp: Cao học khóa 10 – Kinh tế Tài chính Ngân hàng
Tp. Hồ Chí Minh tháng 3 năm 2011
LỜI MỞ ĐẦU
2
1. Tính cần thiết của đề tài
Trong thời gian qua, Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu to lớn trong
lĩnh vực kinh tế với chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Trong sự phát triển đó, Ngân hàng Trung ương (NHTW) đóng vai trò
cực kỳ quan trọng trong việc định hướng nền kinh tế, điều tiết các mối quan hệ trong
nền kinh tế, chống lạm phát, thiểu phát và các nhân tố phát sinh trong nền kinh tế thị
trường .
Một trong những công cụ được NHTW sử dụng nhiều nhất để thực hiện các chức
năng của mình là công cụ lãi suất. Đây là một công cụ của chính sách tiền tệ được
Phần NỘI DUNG TIỂU LUẬN:
1. Tổng quan về Lãi suất
2. Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương các nước phát triển hiện nay
3. Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay
4. Đề xuất giải pháp
Phần KẾT LUẬN
Phần TÀI LIỆU THAM KHẢO
NỘI DUNG TIỂU LUẬN
1. TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT
4
* Khái niệm: Lãi suất là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan chặt chẽ đến
các phạm trù kinh tế khác, phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể sử dụng vốn (người vay
vốn) với chủ thể sở hữu vốn (người cho vay) theo nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn kèm
theo lãi ở thị trường vốn ở một thời điểm nhất định. Nói cách khác, lãi suất là giá cả
của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định mà người sử dụng trả cho
người sở hữu nó. Lãi suất được sinh ra là bởi lẽ người đi vay đã sử dụng vốn đó để phục
vụ các nhu cầu sinh lợi của mình (trong hoạt động sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng)
trong khi người cho vay đã hi sinh quyền đó. Đánh đổi cho sự hi sinh quyền được sử
dụng tiền tệ ngày hôm nay của người cho vay chính là lãi suất
* Phân loại: Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau (thời hạn tín dụng, loại hình tín
dụng, lãi suất, mức ổn định,…) mà lãi suất lại được chia thành nhiều loại:
- Lãi suất tiền gửi là lãi suất được trả cho các khoản tiền gửi của người đi vay.
- Lãi suất tiền vay là lãi suất người đi vay phải trả cho ngân hàng do việc sử dụng
vốn vay của ngân hàng.
- Lãi suất chiết khấu là lãi suất mà ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức
chiết khấu thương phiếu hay các giấy tờ có giá trị khác chưa đến hạn thanh toán của
khách hàng. Lãi suất chiết khấu được xác định trên tỉ lệ % mệnh giá của giấy tờ có giá
trị và được khấu trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng.
- Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất mà NHTW tái cấp vốn cho các ngân hàng dưới
hình thức chiết khấu lại các thương phiếu hay các giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn
chính nhận tiền gửi có thể vay được, vì vậy lãi suất này có khi được gọi là lãi suất cơ
bản, lãi suất chuẩn.
Về nguyên tắc, lãi suất liên ngân hàng thông thường sẽ thấp hơn lãi suất chiết khấu
vì nếu không, các trung gian tài chính sẽ không vay liên ngân hàng mà sẽ vay từ FED để
hưởng lãi suất chiết khấu thấp hơn. Lãi suất chiết khấu thường cao hơn lãi suất quỹ dự
trữ liên bang.
FED sẽ giữ lãi suất chiết khấu đã ấn định thông qua việc cho vay chiết khấu và giữ
lãi suất quỹ dự trữ liên bang thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Cách điều hành này
của FED sẽ khiến cho lãi suất liên ngân hàng luôn có xu hướng biến động giữa lãi suất
quỹ dự trữ liên bang (có vai trò như lãi suất sàn) và lãi suất chiết khấu (có vai trò như lãi
suất trần) mà không phải đặt ra giới hạn bằng biện pháp hành chính.
2.2 Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương Anh (BOE)
6
Từ ngày 18/5/2006, BOE công bố lãi suất chính thức, là lãi suất mà BOE trả cho
khoản tiền dự trữ của các ngân hàng thương mại để tại BOE. Mức dự trữ là tự nguyện
và các thành viên xác định mức cân bằng theo mục tiêu riêng của mình nhưng không
thấp hơn mức trung bình bắt buộc trong kỳ duy trì. Lãi suất chính thức BOE công bố ở
thời điểm hiện tại là 0,5%.
Các NHTM được phép vay có bảo đảm hoặc gửi tiền ở BOE với lãi suất nằm trong
biên độ +_1% so với lãi suất chính thức cho tất cả các ngày trong tháng. BOE sẽ sử
dụng nghiệp vụ thị trường mở để tác động nhằm duy trì lãi suất qua đêm, lãi suất các kỳ
hạn khác dưới ba tháng luôn nằm trong biên độ. Lãi suất của các khoản vay có kỳ hạn từ
3-12 tháng được xác định bởi các thành viên và không phụ thuộc vào biên độ so với lãi
suất chính thức.
Như vậy, lãi suất chính thức mà BOE công bố là lãi suất mang tính mục tiêu chứ
không mang tính ấn định cụ thể và BOE sẽ giữ lãi suất đã công bố bằng nghiệp vụ thị
trường mở.
2.3 Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB)
ECB ấn định 3 mức lãi suất chủ chốt khu vực đồng tiền Euro gồm:
- Lãi suất cho hoạt động tái cấp vốn là mức lãi suất áp dụng cho các khoản vay
bản hiện nay của BOJ là 0,3%.
2.6 Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc (BOK)
BOK ấn định mức lãi suất cơ bản. Hàng tháng BOK công bố mức lãi suất cơ bản
dù có thay đổi hay không. Từ năm 2009 đến nay lãi suất cơ bản của BOK ổn định dao
đọng quanh mức 2- 2, 75%. Mức lãi suất cơ bản hiện nay của BOK là 2,75%.
Date Base Rate (%)
2011 13.Jan 2.75
2010 16.Nov 2.50
2010 09.Jul 2.25
2009 12.Feb 2.00
2009 09.Jan 2.50
2008 11.Dec 3.00
2008 07.Nov 4.00
2008 27.Oct 4.25
2008 09.Oct 5.00
2008 07.Aug 5.25
2008 07.Mar 5.00
Nguồn: Ngân hàng trung ương Hàn Quốc
2.7 Nhận xét chung về cơ chế điều hành lãi suất của các nước phát triển
8
Mỗi nước đều có tên gọi riêng cho lãi suất công bố của mình nhưng về bản chất
điều hành thì không có sự khác biệt lớn giữa các nước và hầu hết đều có những đặc
điểm sau đây:
- Lãi suất công bố là lãi suất mục tiêu, là định hướng để thị trường tham khảo đồng
thời nó cũng thể hiện ý chí của NHTW.
- Sau khi công bố, NHTW sẽ sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ- thông thường
là nghiệp vụ thị trường mở- để điều tiết lãi suất liên ngân hàng hướng đến lãi suất
mục tiêu mà không hề dùng bất cứ biện pháp hành chính cụ thể nào.
- Việc điều chỉnh lãi suất của NHTW chỉ tác động trực tiếp đến các trung gian tài
chính, không tác động trực tiếp đến khu vực dân chúng và doanh nghiệp.
mục đích định hướng lãi suất thị trường và chỉ có ý nghĩa tham khảo đối với các ngân
hàng khi ấn định lãi suất kinh doanh. Việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong
những năm qua đã tạo điều kiện cho các ngân hàng chủ động trong việc huy động và
cho vay vốn, tăng năng lực cạnh tranh, chủ động phòng ngừa rủi ro và hội nhập vào nền
tài chính khu vực và quốc tế. Quyết định 546 ra đời trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam
đang có sự tăng trưởng ổn định, lạm phát thấp chỉ ở mức 0,8% trong năm 2001 và chỉ
tăng lên 4% trong năm 2002, tình hình thị trường tiền tệ và thị trường vốn cũng không
có những dấu hiệu bất thường như hiện nay.
Trước sự vận động bất lợi của thị trường chứng khoán và lạm phát tăng cao ngay
từ đầu năm 2008, NHNN thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, sử dụng đồng thời các
công cụ lãi suất và hoạt động thị trường mở. Công cụ lãi suất được phát huy tối đa, liên
tục có điều chỉnh và triển khai quyết liệt. Từ giữa tháng 1-2008, dự trữ bắt buộc đã tăng
thêm 1% với tiền gửi nội tệ và ngoại tệ từ không kỳ hạn tới dưới 12 tháng. Lãi suất tái
cấp vốn cũng tăng gấp hai lần trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6-2008. Mức
lãi suất chiết khấu so với cuối năm 2007 tăng thêm 8,5%, ở mức 13%/năm kể từ 10-6-
2008. Thời điểm này, NHNN điều chỉnh lãi suất cơ bản lên 14%/năm. Với quy chế điều
hành là cho phép tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh không vượt quá 150% lãi
suất cơ bản, trần lãi suất cho vay lên tới 21%/năm. Đặc điểm đáng chú ý trong giai đoạn
các ngân hàng gặp khó khăn thanh khoản này là lãi suất huy động ngắn hạn bằng, thậm
chí cao hơn lãi suất huy động dài hạn. Điều này có nghĩa là hiện tại các ngân hàng chỉ
chú trọng vào vốn ngắn hạn để đối phó với tình thế nóng trước mắt. Đối với các ngân
hàng, điều dễ nhận thấy là cấu trúc tài sản nợ sẽ rủi ro hơn do qua biểu lãi suất huy động
10
sẽ chỉ khuyến khích người dân gửi tiết kiệm ngắn hạn vì vừa được lời hơn lại vừa thanh
khoản hơn. Đây là một nghịch lý bởi do đặc tính rủi ro của dòng vốn ngắn hạn rất lớn,
nên trong điều kiện bình thường, các ngân hàng thường khuyến khích người dân gửi
càng dài càng hay bằng mức lãi suất hấp dẫn hơn. Nếu các ngân hàng bất chấp chi phí
để quyết huy động được số vốn cần thiết nhằm mua đủ lượng tín phiếu bắt buộc của
NHNN thì rủi ro đối với hệ thống ngân hàng sau một tháng hay một vài tháng, khi các
khoản tiền huy động có kỳ hạn ngắn trên đến hạn, ngân hàng lấy tiền đâu để hoàn trả