PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH QUẢN lý NGOẠI hối của NGÂN HÀNG NHÀ nước VIỆT NAM TRONG GIAI đoạn từ năm 1995 đến NAY - Pdf 22

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA- KHOA KINH TẾ
d&c
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGOẠI
HỐI CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1995 ĐẾN NAY
GVHD : LÊ THÙY LINH
THỰC HIỆN : NHÓM 10
LỚP : CDTN13TH
Thanh Hóa, tháng 01 năm 2013
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
DANH SÁCH NHÓM
STT HỌ VÀ TÊN MSSV LỚP GHI CHÚ
1 Trần Thị Văn 11013793 CDTN13TH Nhóm trưởng
2 Nguyễn Thị Tuyết 11035273 CDTN13TH
3 Lê Thị Tuyết 11024633 CDTN13TH
4 Nguyễn Thị Vân 10003173 CDTN13TH
5 Nguyễn Thị Vân 11018223 CDTN13TH
6 Trịnh Thị Hằng Vân 11017153 CDTN13TH
7 Nguyễn Thị Vinh 11016703 CDTN13TH
8 Nguyễn Thị Xuyên 11019583 CDTN13TH
9 Đặng Thị Yến 11010643 CDTN13TH
10 Trần Thị Yến 11013523 CDTN13TH
11 Nguyễn Quốc Trung 11035723 CDTN13TH

Thực hiện: Nhóm 10 - Lớp: CDTN13TH
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
MỤC LỤC
DANH SÁCH NHÓM 2
2
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 2
MỤC LỤC 3
TÀI LIỆU THAM KHẢO 5
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
1.1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI 2
1.1.1: Định nghĩa Ngoại hối 2
1.1.2: Vai trò của ngoại hối 2
1.1.3: Mục đích của quản lý ngoại hối 3
1.1.4: Cơ chế quản lý ngoại hối 4
1.1.4.1: Cơ chế tự do ngoại hối: 4
1.1.4.2: Cơ chế quản lý: 4
1.1.5: Hoạt động ngoại hối của NHTW: 5
1.1.5.1: Hoạt động mua bán ngoại hối. 5
1.1.5.2: Hoạt động quản lý ngoại hối. 5
1.2: THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI 6
1.2.1: Thị trường ngoại hối (The Foreign Exchange Market-FOREX): 6
1.2.2: Đặc điểm của thị trường ngoại hối: 6
1.2.3: Chức năng của thị trường ngoại hối: 6
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NGÂN
HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 8
2.1: CƠ CHẾ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NHNN VIỆT NAM 8
2.2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG NHÀ
NƯỚC VIỆT NAM TỪ NĂM 1995 ĐẾN NAY 9
Thực hiện: Nhóm 10 - Lớp: CDTN13TH

3. Một số Website:www.fxpro-vn.com/
thitruongngoaihoi.vn/
www.sbv.gov.vn/ /04_.
congly.com.vn
Thực hiện: Nhóm 10 - Lớp: CDTN13TH
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
LỜI MỞ ĐẦU
Quản lý ngoại hối luôn là một trong các nhiệm vụ quan trọng của Ngân
hàng nhà nước (NHNN) nhằm duy trì nền kinh tế ổn định và tăng trưởng. Trong
thời gian qua từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN
bên cạnh những thành quả đạt được thì nền kinh tế Việt Nam đã phải đương đầu
với không ít khó khăn trên con đường phát triển. Chính bởi vì dự trữ ngoại hối
đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế nên NHNN Việt Nam là cơ
quan được Nhà nước giao cho thực hiện nhiệm vụ quản lý ngoại hối. Việc quản
lý ngoại hối của NHNN Việt Nam rất khó khăn do chịu nhiều nhân tố bên ngoài
tác động vào nhất là trong một nền kinh tế toàn cầu hóa như hiện nay. Thực hiện
tốt việc quản lý ngoại hối mang lại rất nhiều lợi ích cho nền kinh tế, cho đời
sống của dân chúng. Nước nào thực hiện tốt quản lý ngoại hối, vị thế của nước
đó trên trường quốc tế sẽ không ngừng được nâng cao. Chính vì vậy vai trò quan
trọng của hoạt động quản lý ngoại hối của NHNN đối với nền kinh tế nên ta phải
hiểu rõ các thành quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại để không ngừng
nâng cao hiệu quả hoạt động này.
Vì vậy trong khuôn khổ tiểu luận này nhóm em cũng muốn mình nghiên
cứu, phân tích trên góc độ của môn học “Nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương” về
vấn đề quản lý ngoại hối ở nước ta trong những năm qua. Và em đã chọn đề tài
“ Phân tích chính sách quản lý ngoại hối của ngân hàng nhà nước Việt Nam
trong giai đoạn từ năm 1995 đến nay”.
Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn trong lớp
để nhóm em hoàn thiện bài viết của mình hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
Thực hiện: Nhóm 10 - Lớp: CDTN13TH Trang 1

Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
Dự trữ ngoại hối là cơ sở cho việc phát hành tiền đảm bảo cho mối tổng
quan tiền hàng trong nước.
Dự trữ ngoại hối là một công việc quan trọng và cần thiết trong tay Nhà
nước nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Bên cạnh đó, thông qua dự trữ ngoại hối thể hiện vị trí thế lực của quốc gia
trên trường quốc tế. Đối với những nước mà đồng tiền được tự do chuyển đổi,
dự trữ ngoại hối là công cụ can thiệp điều chỉnh nhằm thiết lập thế cân bằng
giữa các đồng tiền trong trật tự tiền tệ quốc tế phục vụ chính sách kinh tế.
1.1.3: Mục đích của quản lý ngoại hối
Quản lý ngoại hối là việc nhà nước áp dụng các chính sách các biện pháp tác
động vào quá trình nhập xuất ngoại hối đặc biệt là ngoại tệ và sử dụng ngoại hối
theo những mục tiêu nhất định.
Điều tiết tỷ giá thức hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
NHTW thực hiện các biện pháp nhằm thúc đẩy tập trung các nguồn ngoại
hối (đặc biệt là ngoại tệ) vào tay mình, để thông qua đó nhà nước sử dụng một
cách hợp lý, có hiệu quả cho các nhu cầu phát triển kinh tế và hoạt động đối
ngoại hối. Đồng thời sử dụng chính sách ngoại hối như một công cụ có hiệu lực
thực hiện chính sách tiền tệ, thông qua mua bán ngoại hối trên thị trường để can
thiệp vào tỷ giá khi cần thiết nhằm ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền, tác
động vào lượng tiền cung ứng.
Bảo tồn quỹ dự trữ ngoại hối.
Ngân hàng trung ương không chỉ bảo quản và quản lý quỹ dự trữ ngoại hối
nhà nước mà còn biết sử dụng phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế, đảm bảo an
toàn không bị ảnh hưởng rủi ro về tỷ giá ngoại tệ trên thị trường quốc tế.
Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
Trong cả hai trường hợp cán cân thanh toán bội thu hoặc bội chi, nếu không
có sự can thiệp của ngân hàng trung ương, tỷ giá sẽ tăng giẳm theo nhu cầu
ngoại hối trên thị trường. Tuy nhiên ở nhiều nước, Ngân hàng trung ương đóng
vai trò điều tiết tỷ giá để thực hiện mục tiêu của chính sách kinh tế. Nếu ngân

trường, nhà nước tiến hành kiểm soát ở mộr mức độ nhất định nhằm phát huy
Thực hiện: Nhóm 10 - Lớp: CDTN13TH Trang 4
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
tính tích cực của thị trường, hạn chế những nhược điểm do thị trường gây ra, tạo
điều kiện cho kinh tế trong nước phát triển ổn định, ngăn chặn ảnh hưởng từ bên
ngoài.
1.1.5: Hoạt động ngoại hối của NHTW:
1.1.5.1: Hoạt động mua bán ngoại hối.
Ngân hàng trung ương tham gia vào hoạt động mua bán ngoại hối với tư
cách là người can thiệp, giám sát, điều tiết nhưng đồng thời cũng là người mua,
người bán bán cuối cùng. Thông qua việc mua, bán ngân hàng trung ương thực
hiện việc giám sát điều tiết thị trường theo mục tiêu của chính sách tiền tệ, đồng
thời theo dõi diễn biến tỷ giá đồng bản tệ để chủ động quyết định hoặc phối hợp
với ngân hàng trung ương các nước khác củng cố sức mua đồng tiền này hay
đồng tiền khác để đảm bảo trong trật tự quốc tế có lợi cho mình.
a) Mua bán trên thị trường trong nước
Trên thị trường hối đoái trong nước, ngân hàng trung ương là người mua,
bán cuối cùng và chỉ tiến hành mua bán với các ngân hàng thương mại tại hội sở
trung ương của các ngân hàng thương mại mà không trực tiếp mua bán với các
công ty kinh doanh xuất nhập khẩu. Tỷ giá hối đoái do ngân hàng trung ương
công bố. Thông qua việc mua bán ngân hàng trung ương thực hiện việc cung
ứng tiền tệ hoặc rút bớt tiền tệ ra khỏi lưu thông, trên cơ sở đó ổn định tỷ giá hối
đoái của đồng bản tệ. Đối với những nước phát triển, thị trường hối đoái đã được
quốc tế hóa thì tỷ giá được thả nổi. Ngân hàng trung ương chỉ can thiệp khi thị
trường có sự biến động lớn hoặc trong những trường hợp đặc biệt.
b) Mua bán trên thị trường quốc tế
Với nhiệm vụ quản lý quỹ dự trữ ngoại hối, ngân hàng trung ương thực hiện
việc mua bán trên thị trường quốc tế nhằm bảo tồn và phát triển quỹ dự trữ
ngoại hối. Ngân hàng trung ương thực hiện việc mua bán ngoại hối sẽ tác động
trực tiếp vào tiền TW (MB) từ đó có thể can thiệp nhằm đạt được tỷ giá mong

- Cung cấp dịch vụ cho khách hàng thực hiện các giao dịch thương mại quốc
tế.
- Luân chuyển vốn, giao dịch tài chính quốc tế.
Thực hiện: Nhóm 10 - Lớp: CDTN13TH Trang 6
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
- Làm cho sức mua đối ngoại của tiền tệ được xác định một cách khách quan
theo quy luật cung cầu.
- Thị trường ngoại hối cung cấp các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá bằng
các hợp đồng như kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn và tương lai.
- Là nơi để NHTW can thiệp lên tỷ giá
Thực hiện: Nhóm 10 - Lớp: CDTN13TH Trang 7
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
2.1: CƠ CHẾ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NHNN VIỆT NAM
Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung NHNN Việt Nam đó ban hành các quy
định về quản lý ngoại hối nhằm thu hút nguồn thu về ngoại hối và hạn chế chi
hối ra nước ngoài. Quản lý ngoại hối trong tay nhà nước và chỉ có các doanh
nghiệp quốc doanh mới được phép tham gia xuất nhập khẩu theo tỷ giá ổn định.
Sau khi nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường thực hiện pháp lệnh Ngân
hàng và đặc biệt thi hành luật NHNN Việt Nam ra đời năm 1997, NHNN Việt
Nam đã ban hành nhiều quy chế về quản lý ngoại hối dựa trên tinh thần khuyến
khích ngoại hối vào và hạn chế ngoại hối ra nhằm khai thác mọi tiềm năng kinh
tế trong nước và phát triển quan hệ hợp tác kinh tế với nước ngoài vì lợi ích
quốc gia và lợi ích toàn dân.
Năm 1997 NHNN đã tăng cường nhiều biện pháp trong lĩnh vức quản lý
ngoại hối bao gồm:
Tăng cường biện pháp quản lý nợ nước ngoài. Lần đầu tiên, kể từ khi chính
phủ ban hành nghị định số 58/CP ngày 30/8/1993 về việc ban hành quy chế
quản lý vay và trả nợ nước ngoài. NHNN thực hiện nhiệm vụ xây dựng tổng hạn

việc thu hút nguồn vốn nước ngoài, tạo điều kiện phất triển ngoại thương, nâng
cao cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu, mở rộng quốc tế Việt Nam trong khu
vực và trên thế giới
2.2.1: Vấn đề về tỷ giá trong quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam từ năm
1995 đến nay
2.2.1.1: Vấn đề tỷ giá trong quản lý ngoại hối giai đoạn từ năm 1995 - 2008
Giai đoạn năm 1995 trong chính sách quản lý ngoại hối NHNN quy định
trạng thái hối đoái đối với NHTM, quy định về kết hối đối với các doanh nghiệp
đó là giới hạn số dư tối đa tiền gửi ngoại tệ trên tài khoản tại ngân hàng thương
mại của khách hàng, tỷ lệ phải bán cho NHTM, quy định mức chuyển, mang
ngoại tệ của cá nhân khi xuất cảnh Đồng thời cơ chế điều hành về tỷ giá là:
Thực hiện: Nhóm 10 - Lớp: CDTN13TH Trang 9
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
hàng ngày NHNN công bố tỷ giá chính thức, các ngân hàng thương mại được
chủ động quy định tỷ giá mua và bán, thu đổi cụ thể của mình trong biên độ giao
động; +/- 5%; +/- 7% hay +/- 10% ở từng giai đoạn khác nhau so với tỷ giá
chính thức NHNN đã công bố
Xu hướng cạnh tranh sử dụng tỷ giá trong giai đoạn này là NHTM tìm cách
thực hiện mua bán, thu đổi ngoại tệ “ kịch trần, giá sàn” theo biên độ, thậm chí
là vượt ra cả ngoài biên độ mà ngân hàng nhà nước cho phép tùy thuộc vào lợi
thế cạnh tranh của tổ chức tín dụng đó. Khi tỷ giá thị trường tăng cao, ngoại tệ
khan hiếm, nhu cầu của các doanh nghiệp tăng, thì các NHTM có xu hướng bán
ngoại tệ với mức giá sàn với biên độ tối đa hoặc sử dụng với danh nghĩa thu phí
ngoài tỷ giá. Ngược lại khi nguồn ngoại tệ trong các ngân hàng dồi dào họ luôn
có xu hướng muốn bán cho các NHNN và thực hiện tỷ giá mua bán thấp hơn
biên độ quy định
Từ ngày 26/12/1999 đến đầu tháng 9/2000 với quyết định số 65/1999/QD-
NHNN7, NHNN bỏ chế độ điều hành tỷ giá theo bao cấp như trước đây tức là
chỉ công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
thay vì công bố tỷ giá mua bán trong phạm vi biên độ của từng kỳ hạn giao dịch

kiểm soát để điều chỉnh hành chính chính sách tiền tệ. Theo đó, tỷ giá chính
thức được thiết lập trên cơ sở tỷ giá bình quân của thị trường tiền tệ liên ngân
hàng và tỷ giá kinh doanh dao động trong biên độ +- 0,25% so với tỷ giá chính
thức (theo quyết định số 697 có hiệu lực từ ngày 1/7/2002). Từ đó NHNN có thể
kiểm soát được sự biến động thất thường của tỷ giá, điều hành tỷ giá theo hướng
phản ánh thực hơn cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Tỷ giá luôn ở mức tăng ổn
định, khoảng cách giữa tỷ giá thị trường tiền tệ liên ngân hàng và thị trường tự
do chênh lệch không cao từ đó điều chỉnh cung cầu ngoại tệ giúp cho ngân hàng
và cá nhân đầu tư sử dụng các giao dịch ngoại hối, hạn chế rủi ro do biến động
tỷ giá. Trên thực tế tỷ giá bình quân trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng đã là
tỷ giá thị trường để NHNN đưa ra quyết định mức can thiệp và đối tượng can
thiệp. Với cơ chế điều hành tỷ giá như vậy, tỷ giá của đồng Việt Nam được hình
thành trên cơ sở giao dịch thị trường và phản ánh tương đối khách quan sức mua
Thực hiện: Nhóm 10 - Lớp: CDTN13TH Trang 11
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
của đồng tiền Việt Nam so với các ngoại tệ khác, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp chủ động hơn trong kinh doanh đồng thời vẫn bảo đảm được vai trò kiểm
soát của nhà nước.
2.2.1.2: Vấn đề tỷ giá trong quản lý ngoại hối giai đoạn từ năm 2008 đến nay
Năm 2008 tỷ giá niêm yết tại các NHTM biến động liên tục, có lúc tỷ giá
này thấp hơn cả tỷ giá chính thức trong khi năm 2009 tỷ giá NHTM luôn luôn ở
mức trần biên độ mà NHNN công bố. Trước áp lực về quan hệ cung cầu ngoại
hối trên thị trường mà tỷ giá trên thị trường tự do tăng rất nhanh. Mặc dù NHNN
đã mở rộng biên độ dao động tử +/- 3% lên +/- 5% (biên độ dao động lớn nhất
trong vòng 10 năm qua) nhưng các NHTM vẫn giao dịch ở mức trần. Đến
26/11/2009 NHNN chính thức giảm biên độ dao động xuông lại còn +/- 3% tuy
nhiên các NHTM vẫn dao dịch ở mức tỷ giá trần.
Tỷ giá VND/USD có xu hướng giảm từ đầu năm 2008. Theo công bố của
tổng cục thông kê, giá tiêu dùng tháng 1/2008 tăng 2,38% so với cuối năm 2007.
Để kiềm chế lạm phát thì NHNN đã điều chỉnh lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm

tự do ổn định hơn.
Trong năm 2009 tỷ giá VND/USD biến động mạnh trên cả thị trường liên
ngân hàng lẫn thị trường tự do. Cụ thể từ tháng 1/2009 đến tháng 3/2009 tỷ giá
liên ngân hàng dao động trong khoảng17.450 - 17.700đồng/USD. Từ tháng 10
đến cuối tháng 11/2009 tỷ giá biến động rất dữ dội, trên thị trường tự do có lúc
đạt đỉnh 20000 đồng/USD và 19750 đồng/USD trên thị trường liên ngân hàng.
Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do hiện tượng găm giữ ngoai tệ của người dân, các
doanh nghiệp thì vì sợ tỷ giá sẽ tiếp tục tăng nên mặc dầu chưa đến kỳ hạn trả
nợ nhưng đã mua sẵn ngoại tệ để chuẩn bị cho việc trả nợ. Điều đó đã làm cho
cầu ngoại tệ tăng cao gây ảnh hưởng tỷ giá. Ngoài ra, do tâm lý bất ổn của người
dân và các doanh nghiệp nên họ lựa chon găm giữ ngoại tệ và đồng thời do
chính sách hỗ trợ lãi suất vay tiền đồng thấp cho các doanh nghiệp, phạm vi và
thời gian vay được mở rộng theo chủ trương của chính phủ nên các doanh
nghiệp muốn vay tiền đồng hơn mà không cần bán ngoại tệ để đổi ra VND nữa.
Đây là gói kích cầu mà nhà nước ta thực hiện tuy nhiên đã mang lại ảnh hưởng
Thực hiện: Nhóm 10 - Lớp: CDTN13TH Trang 13
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
lớn đến tỷ giá.
Từ cuối 11/2009 đến hết năm 2009 tỷ giá bắt đầu giảm dần trở lại nguyên
nhân là do NHNN thực hiện chính sách bình ổn tỷ giá cùng với sự góp sức của
NHTM đã làm tỷ giá giảm sau giai đoạn biến động mạnh
Trong năm 2010 các NHTM vẫn tiếp tục áp dụng tỷ giá tại mức trần biên độ
của tỷ giá chính thức trong hầu hết các tháng. Do áp lực của tỷ giá trên thị
trường NHNN đã phải tăng tỷ giá chính thức từ 17940 lên 18544 VND/USD kể
từ 11/02/2010 tương đương với việc phá giá 3,3% Cùng với việc nâng tỷ giá
thì NHNN còn thực hiện nhiều biện pháp hành chính để giảm áp lực lên thị
trường ngoại hối như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, mở rộng đối
tượng cho vay bằng ngoại tệ, đồng thời NHNN tăng lãi suất cơ bản lên
8%/năm. Kết quả là 6 tháng đầu năm 2010 tín dụng ngoại tệ tăng cao và các
khoản đầu tư và giải ngân ODA, FDI làm cho nguồn cung ngoại tệ tăng lên làm

ngân hàng thương mại khi chênh lệch lãi suất cho vay quá hấp dẫn với khoảng
300% càng tạo cung cho thị trường…Việc cung USD tăng đã làm cho tỷ giá
VND/USD lao dốc chóng mặt từ 20940VND xuống còn 20590 VND kể từ 19/4-
28/4/2011. Và 29/4 đã trở thành mốc sự kiện quan trọng khi Sở giao dịch
NHNN bất ngờ tăng mạnh giá mua vào USD và dự trữ ngoại tệ có sự cải thiện
nhanh chóng. Ngày 7/9/2011, 1 tháng sau khi tân Thống đốc tiếp nhận nhiệm vụ
điều hành, Ngân hàng Nhà nước tổ chức hội nghị ngành, và tại đây thông điệp
được đưa ra: nếu điều chỉnh tỷ giá USD/VND thì từ nay (tại ngày 7/9) đến cuối
năm không quá 1%. Với cam kết này NHNN sẽ khó thuyết phục niềm tin của thị
trường về tỷ giá tuy nhiên đến cuối 2011 NHNN vẫn giữ được cam kết. Các
chính sách đưa ra đã từng bước phát huy được hiệu quả, góp phần ổn định tỷ giá
bình quân liên ngân hàng thời gian dài ở mức 20.803 trong cả tháng 11, đến
ngày 14/12 mới điều chỉnh tăng lên 20.813 rồi 20.828. Đối với tỷ giá ở thị
trường chính thức và phi chính thức tính đến giữa tháng 12, tỷ giá ở thị trường
phi chính thức giảm đáng kể so với cuối tháng 11, giao động phổ biến trong
khoảng từ 21.150 đến 21.300; Ở thị trường chính thức tỷ giá giao động phổ biến
từ 21.005 đến 21.036.
Thực hiện: Nhóm 10 - Lớp: CDTN13TH Trang 15
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
Trong nửa đầu năm 2012, giá trị đồng đô la Mỹ trên thị trường ngoại hối thế
giới đã phần nào được cải thiện và tỷ giá USD/VND tiếp tục được Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam (NHNN) duy trì ổn định ở mức 20.828 VND/USD.
Diễn biến giá trị đồng đô la Mỹ 6 tháng đầu năm 2012 đã cho thấy một số
dấu hiệu khả quan. Sau khi sụt giảm giá trị trong 4 tháng đầu năm 2012, diễn
biến chỉ số đô la Mỹ (USD Index) đã đổi chiều, duy trì xu hướng tăng giá trong
tháng 5 và 6/2012. Kết thúc tháng 6/2012, chỉ số đô la Mỹ tăng 1,4% so với đầu
năm 2012.
Các quyết sách rõ ràng và minh bạch của NHNN trong công tác điều hành
chính sách tỷ giá nửa đầu năm 2012, cùng với diễn biến khả quan của cung –
cầu ngoại tệ trong nền kinh tế (Việt Nam có xuất siêu trở lại sau nhiều năm; cán

cải thiện, REER diễn biến chưa thuận lợi để tránh tạo ra những thay đổi đột biến
trong bối cảnh kinh tế nhạy cảm và khó khăn như hiện nay.
Trong nửa đầu năm 2012, Việt Nam đã có xuất siêu trở lại sau nhiều năm
nhờ lợi thế về giá của một số mặt hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, cơ cấu xuất khẩu
của Việt Nam hiện vẫn chưa có những thay đổi cần thiết, vẫn còn phụ thuộc vào
hàng nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu. Các mặt hàng xuất khẩu chính của
Việt Nam phần lớn vẫn là hàng nông, thủy sản, các hàng hóa có giá trị gia tăng
thấp và các doanh nghiệp vẫn cần nhập một lượng đáng kể nguyên nhiên vật liệu
để sản xuất hàng xuất khẩu. Chẳng hạn, trong 8,4 tỷ USD xuất khẩu hàng hóa
dệt may, giày dép trong 5 tháng đầu năm 2012 thì Việt Nam cũng đã phải nhập
khẩu gần 4,9 tỷ USD bông, sợi dệt, vải và nguyên vật liệu cho dệt may, giày dép
– chiếm khoảng 60% giá trị hàng xuất khẩu. Tỷ lệ này gần như không thay đổi
suốt từ năm 2004 đến nay.
2.2.2: Nguyên nhân về tỷ giá trong quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam
từ năm 1995 đến nay
Về khách quan, năm 2002 các luồng ngoại tệ tiền mặt chuyển vào Việt Nam
tăng cao. Với trên 2,5 triệu Việt kiều, 310000 người Việt đi xuất khẩu lao động
chuyển về nước trong cả năm ước tính khoảng 2,2 tỷ USD ; gần 2,6 triệu lượt
khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2002 chi tiêu tại nước ta một luồng
Thực hiện: Nhóm 10 - Lớp: CDTN13TH Trang 17
Tiểu luận Nghiệp vụ Ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
ngoại tệ lớn. Ngoài ra còn các luồng ngoại tệ tiền mặt do người Việt Nam đi
công tác nước ngoài theo các dự án mang về, người Việt Nam đi làm cho các dự
án nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam… Do đó, dù năm 2002 nhập
siêu lớn nhưng nguồn ngoại tệ tiền mặt tăng cao cộng với những diễn biến trái
chiều về lãi suất làm hạn chế tình trạng đầu cơ về ngoại tệ và dịch chuyển ngoại
tệ theo chiều hướng ngược lại trước đây từ USD sang VND
Về chủ quan ngân hàng tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công cụ điều hành tỷ giá
và quản lý ngoại hối
Nguyên nhân trong năm 2008 là do ngân hàng nhà nước công bố nguồn dự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status