Luận văn
Hoạt động quản lý và kinh doanh
ngoại hối của Ngân Hàng Nhà
Nước Việt Nam
MỤC LỤC
Luận văn 1
Hoạt động quản lý và kinh doanh ngoại hối của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam 1
MỤC LỤC 2
LỜI NÓI ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 5
I.MỤC ĐÍCH QUẢN LÝ NGOẠI HỐI 5
1.Khái niệm 5
2.Mục đích quản lý ngoại hối 5
2.1.Điều tiết tỷ giá, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia 5
2.2. Bảo tồn quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước 6
2.3. Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế 6
II.CƠ CHẾ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI 6
1.Cơ chế tự do ngoại hối 6
2. Cơ chế quản lý 6
2.1.Cơ chế nhà nước thực hiện quản lý hoàn toàn 7
2.2. Cơ chế quản lý có điều tiết 7
III.HOẠT ĐỘNG NGOẠI HỐI CỦA NHTW 7
1.Hoạt động mua bán ngoại hối 7
1.1. Mua bán trên thị trường trong nước 7
1.2. Mua bán trên thị trường quốc tế 8
2.Hoạt động quản lý ngoại hối của NHTW 8
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA NHNN VIỆT NAM TỪ 2009 ĐẾN
NAY 10
2.1.Thực trạng hoạt động quản lý và kinh doanh ngoại hối của Việt Nam giai đoạn 2009-2011 10
2.2.Nguyên nhân gây sụt giảm dự trữ ngoại hối 12
2.3.Những tác động của việc sụt giảm quy mô dự trữ ngoại hối tới nền kinh tế giai đoạn 2009-
Nam trong thời gian qua, trong quá trình học cũng như trong quá trình
nghiên cứu viết tiểu luận
môn
họ
c “Ngân hàng trung ương” em lựa chọn đề
tài : “Hoạt động quản lý và kinh doanh ngoại hối của Ngân Hàng Nhà Nước
Việt Nam”
Mặc dù đã được trang bị những kiến thức cơ bản trong môn học “Ngân
hàng trung ương”, nhưng với trình độ có hạn cũng như còn nhiều hạn chế
trong quá trình nghiên cứu tài liệu chắc chắn bài viết không tránh khỏi thiếu
sót. Nhóm em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo
C H
Ư Ơ
NG 1 : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
I. MỤC ĐÍCH QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
1. Khái niệm
Ngoại hối là phương tiện thiết yếu trong quan hệ kinh tế, văn hóa giữa
các quốc gia. Ngoại hối là tiền nước ngoài, vàng tiêu chuẩn quốc tế, các giấy
tờ có giá và các công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài.
Ngoại hối trong đó đặc biệt là ngoại tệ có vai trò quan trọng, nó là
phương tiện dự trữ của cải, phương tiện để mua, phương tiện thanh toán và
hạch toán quốc tế, được các nước chấp nhận là đồng tiền quốc tế, ví dụ: đôla
Mỹ, bảng Anh, Frăng pháp.
Đối với những nước mà đồng tiền được tự do chuyển đổi, dự trữ
ngoại hối là công cụ can thiệp, điều chỉnh nhằm thiết lập thế cân bằng giữa
các đồng tiền trong trật tự tiền tệ quốc tế, phục vụ chính sách kinh tế.
NHTW không chỉ bảo quản và quản lý quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước
mà còn biết sử dụng phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế, đảm bảo an toàn
không bị ảnh hưởng rủi ro về tỷ giá ngoại tệ trên thị trường quốc tế.
2.3. Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
Trong cả hai trường hợp cán cân thanh toán bội thu hoặc bội chi, nếu
không có sự can thiệp của NHTW, tỷ giá sẽ tăng giảm theo nhu cầu ngoại
hối trên thị trường. Tuy nhiên ở nhiều nước, NHTW đóng vai trò điều tiết tỷ
giá để thực hiện mục tiêu của chính sách kinh tế. Nếu NHTW muốn xác lập
một t
ỷ
giá ổn định nghĩa là giữ cho tỷ giá không tăng, không giảm, thì
NHTW hoặc là mua vào số ngoại tệ từ nước ngoài chuyển vào trong nước
làm cho quỹ dự trữ ngoại hối sẽ tăng lên tương ứng, hoặc NHTW sẽ bán
ngoại tệ ra để đáp ứng nhu cầu của thị trường khi có luồng ngoại tệ chảy ra
nước ngoài, quỹ dự trữ ngoại hối giảm xuống tương ứng.
II. CƠ CHẾ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
1. Cơ chế tự do ngoại hối
Theo cơ chế này, ngoại hối được tự do lưu thông trên thị trường, cân
bằng ngoại hối do thị trường quyết định mà không có sự can thiệp của nhà
nước.
2. Cơ chế quản lý
Hiện nay, hầu hết các nước đều áp dụng cơ chế có sự quản lý của nhà
nước, song mức độ
quản
lý
và can thiệp có khác nhau.
2.1. Cơ chế nhà nước thực hiện quản lý hoàn toàn
Theo cơ chế này, nhà nước thực hiện độc quyền ngoại thươngvà độc
quyền ngoại hối. Nhà nước áp dụng các biện pháp hành chính áp đặt nhằm
cùng và chỉ tiến hành mua bán với các ngân hàng thương mại tại hội sở
trung ương của các ngân hàng thương mại mà không trực tiếp mua bán với
các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu. Tỷ giá hối đoái do NHTW công bố.
Thông qua việc mua bán NHTW thực hiện việc cung ứng tiền tệ hoặc rút
bớt tiền tệ ra khỏi lưu thông,
trên
c
ơ
sở đó ổn định tỷ giá hối đoái của đồng
bản tệ.
Đối với những nước phát triển, thị trường hối đoáI đã được quốc tế
hóathì tỷ giá được thả nổi. NHTW chỉ can thiệp khi thị trường có sự biến
động lớn hoặc trong những trường hợp đặc biệt.
1.2. Mua bán trên thị trường quốc tế
Với nhiệm vụ quản lý quỹ dự trữ ngoại hối,NHTW thực hiện việc
mua bán trên thị
trường
quố
c tế nhằm bảo tồn và phát triển quỹ dự trữ ngoại
hối. NHTW thực hiện việc mua bán ngoại hối sẽ tác động trực tiếp vào tiền
TW (MB) từ đó có thể can thiệp nhằm đạt được tỷ giá mong muốn.
2. Hoạt động quản lý ngoại hối của NHTW
Quản lý, điều hành thị trường ngoại hối, thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng, bằng cách đưa ra quy chế ra nhập thành viên, quy chế hoạt động, quy
định giới hạn tỷ giá mua bán trên thị trường
-Tham gia xây dựng các dự án pháp luật, và ban hành các văn bản
-Hướng dẫn thi hành luật quản lý ngoại hối
-Cấp giấy phép và thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối
-Kiểm tra giam sát việc xuất nhập khẩu ngoại hối, kiểm soát các hoạt
: HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VÀ KINH DOANH NGOẠI
HỐI CỦA NHNN VIỆT NAM TỪ 2009 ĐẾN NAY
2.1. Thực trạng hoạt động quản lý và kinh doanh ngoại hối của
Việt Nam giai đoạn 2009-2011
Ở việt nam trong thời kì kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thời gian
dài với chế độ nhà nước nắm độc quyền ngoại thương và ngoại hối. Mọi
nguồn thu , chi ngoại tệ đều tập trung vào nhà nước, chỉ
có
các doanh
nghiệp quốc doanh mới được tham gia xuất nhập khẩu hàng hóa theo một
tỷ giá ấn định dẫn đến hiện tượng thu bù chênh lệch ngoại thương. nếu
thu> chi thì doanh nghiệp phải nộp nhà nước phần chênh lệch, ngược lại
chi >thu thì sẽ được nhà nước bù. Nhà nước trực tiếp can thiệp và xác
định tỷ giá nhưng không phản ánh quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại
hối, áp dụng tỷ giá cố định và đa tỷ giá.
Có thể nói, đây là giai đoạn có rất nhiều biến động của nền kinh tế
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. (Cuối năm 2008, cơn địa chấn tài
chính bắt nguồn từ khủng hoảng tín dụng và nhà đất ở Mỹ đã nhanh chóng
lan rộng trên phạm vi toàn cầu, gây ra một cuộc khủng hoảng tài chính tồi
tệ nhất từ hàng trăm năm nay). Lẽ tất yếu, sau một thời kỳ tăng trưởng ấn
tượng, đất nước ta cũng đã hứng chịu ảnh hưởng của cơn bão khủng hoảng
kinh tế.
Nền kinh tế Việt Nam đã phải đối mặt với hàng loạt những khó khăn
như: đồng tiền quốc gia bị mất giá, thâm hụt cán cân thương mại nghiêm
trọng, tăng trưởng kinh tế bị chậm lại. Các chỉ tiêu của nền kinh tế đều xấu
đi, tăng trưởng năm 2008 còn 6,23%, trong khi lạm phát kỷ lục ở mức
22,97%. Bước sang giai đoạn 2009 – 2010, nền kinh tế vẫn tiếp tục ở trong
tình trạng khó khăn. Sau một thời gian tăng lên và lập mức kỷ lục ở mức
23,9 tỷ USD vào cuối năm 2008, dự trữ ngoại hối quốc gia đã chứng kiến
sự sụt giảm nghiêm trọng đến mức báo động trong hai năm này.
ngoại hối Việt Nam đã tăng 20% so với cuối năm 2011 nhờ nỗ lực mua một
lượng lớn dự trữ ngoại hối xuất phát từ NHTW nhằm cân đối thị trường, tuy
nhiên mức tăng này liệu có duy trì được lâu dài trong khi kinh tế Việt Nam
còn có quá nhiều vấn đề khó khăn cần phải đối mặt?
2.2. Nguyên nhân gây sụt giảm dự trữ ngoại hối
Tình trạng nhập siêu vẫn chưa được cải thiện
Trong suốt hai năm 2009 và 2010, chúng ta vẫn tiếp tục phải đối mặt
với ình trạng nhập siêu.
Năm 2009, mục tiêu ta đặt ra là nhập siêu dưới 10 tỷ và dưới 20%
kim ngach xuất khẩu. Nhưng trong thực tế, kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam năm này là 57,1 tỷ USD, xuất khẩu là 69,59 tỷ USD, mức nhập siêu là
12,85 tỷ USD, tương đương với 22,6% kim ngạch xuất khẩu – vượt quá
mục tiêu đặt ra. Điểm chú ý là hầu hết các mặt hàng xuất khẩu đều là
nguyên vật liệu.
Bước sang năm 2010, tình trạng nhập siêu của Việt Nam đã được cải
thiện. Cho tới cuối năm, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là 157 tỷ
USD, tăng 23,6% so với năm 2009. Trong đó, giá trị xuất khẩu đạt 72,19 tỷ
USD, tăng 26,4% và nhập khẩu là 84,8 tỷ USD, tăng 21,2%. Nhập siêu là
12,61 tỷ USD, bằng 17,5% kim ngạch xuất khẩu. Hầu hết các mặt hàng xuất
nhập khẩu của Việt Nam đều tăng so với năm 2009. Trong đó, các mặt hàng
nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam vẫn là nguyên nhiên vật liệu: Máy móc,
thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu 13,69 tỷ USD, nhóm hàng nguyên
liệu phục vụ ngành dêt may nhập 9,8 tỷ USD, xăng dầu nhập 6,1 tỷ USD…
Điều đáng chú ý là trong năm 2010, Việt Nam có 6 tháng nhập siêu trên 1
tỷ USD. Mức nhập siêu lớn nhất là tháng 2 với 1,33 tỷ USD và tháng thấp
nhất là tháng 8 với 395 triệu USD.
Như vậy, tuy mức nhập siêu năm 2009, 2010 của nước ta có giảm so
với năm 2008, tuy nhiên vẫn ở mức cao. Điều đó đã tiếp tục gây sức ép cho
dự trữ ngoại hối quốc gia. Để hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu,
NHNN phải dùng dự trữ ngoại hối, khiến dự trữ ngoại hối giảm đi thay vì
Sự căng thẳng trên thị trường ngoại hối, NHNN bàn ngoại tệ để can thiệp
Hai năm vừa qua chứng kiến sự biến động mạnh mẽ của tỷ giá hối
đoái, lạm phát tăng cao, đồng nội tệ bị mất giá. Tỷ giá trên thị trường đã
liên tục tăng lên và nhiều khi bỏ xa so với tỷ giá chính thức cũng như tỷ giá
trên thị trường liên ngân hàng. Sự tăng lên này đã diễn ra trong năm 2008,
được tiếp diễn trong gần cả năm 2009, đầu và cuối năm 2010. Mặc dù có
những giai đoạn, tỷ giá trên thị trường đã ổn định, nhưng những giai đoạn
căng thẳng lại làm cho tỷ giá USD/VND tăng mạnh.
Sự căng thẳng của tỷ giá tất nhiên đến từ những cung cầu về ngoại tệ
trên thị trường. Ngoài nguyên nhân đến từ tình trạng thâm hụt cán cân thanh
toán dẫn đến thiếu nguồn cung, tăng cầu đối với ngoại tệ, có những nguyên
nhân khác dẫn dến tình trạng này. Đó là:
Thứ nhất, tình trạng đói “ đô la hóa của nền kinh tế”.
Với tâm lý sùng bái ngoại tệ từ lâu, người dân vẫn đang tiếp tục nắm giữ
một lượng lớn ngoại tệ. Nhất là mỗi khi có những biến động kinh tế xảy ra
như trong những năm vừa qua, tâm lý lo sợ đồng nội tệ mất giá cũng như kỳ
vọng kiếm lời do tỷ giá tăng lên càng khiến người dân “ găm giữ” ngoại tệ
nhiều hơn. Một trong những nguồn cung ngoại tệ tiềm năng cho nền kinh tế
đó là nguồn thu từ kiều hối. Mặc dù có giảm trong năm 2009 vừa qua, đạt
6,3 tỷ USD, nhưng năm 2010, lượng kiều hối chuyển về nước đã tăng đáng
kể, đạt 8 tỷ USD. Tuy nhiên, lượng kiều hối được bạn lại cho ngân hàng rất
thấp, trung bình chỉ đạt 10%. Người dân có xu hướng nắm giữ hoặc bán
trên thị trường tự do đã gây nên hiện tượng mất cân đối cung cầu ngoại tệ,
khiến việc kiểm soát thị trường ngoại hối càng khó khăn.
Đối với các doanh nghiệp nhập khẩu và các doanh nghiệp có nhu cầu
ngoại tệ. Có hiện tượng nhiều doanh nghiệp vay USD tuy chưa đến kì trả nợ
nhưng đã mua săn USD để giữ vì sợ tỷ giá sẽ tăng. Chính lượng đặt mua
nhiều của doanh nghiệp khiến cầu ngoại tệ tăng. Nhiều doanh nghiệp nhập
khẩu các mặt hàng thuộc diện bị hạn chế nhập khẩu, không được vay hay
mua ngoại tệ từ các ngân hàng mà phải chịu thị trường chợ đen, chính vì
qua hỗ trợ lãi suất giữa đồng USD và VND bị thu hẹp. Khi khoảng cách bị
thu hẹp thì nghiễm nhiên, VND trở nên mất giá và đồng USD vị tăng giá
cục bộ ở Việt Nam một cách giả tạo.
Thứ tư, sự mất kiểm soát thị trường ngoại tệ tự do
Sự tồn tại thị trường tự do, còn gọi là thị trường “ chợ đen” ở Việt Nam
đã được bàn đến từ lâu nhưng đây là nguyên nhân không hề cũ. Với sự tồn
tại của thị trường này, chúng ta đã nghiễm nhiên chấp nhận một chế độ 2 tỷ
giá trong nền kinh tế. Với lượng giao dịch không hề nhỏ, lại không được
kiểm soát, thị trường chợ đen đã gây sức ép không nhỏ cho thị trường ngoại
tệ liên ngân hàng ở nước ta. Trong 2 năm vừa qua, cùng với những biến
động kinh tế, sự quá “tự do” của thị trường này đã gây nên hiện tượng như
tung tin đồn, tạo khan hiếm giả tạo,…làm cho tỷ giá liên ngân hàng có lúc
đã phải chạy theo thị trường này. Ngoại tệ trôi nổi nhiều, dẫn đến NHNN
phải dùng dự trữ ngoại hối để can thiệp khi có biến động xảy ra.
Như vậy, cùng với những nguyên nhân từ thực trạng thương mại quốc
tế, những biến động liên tục của thị trường ngoại hối nước ta, trong đó nổi
lên là vấn đề tỷ giá, đã khiến dự trữ ngoại hối nước ta trong hai năm vừa
qua giảm sút nghiêm trọng.
2.3. Những tác động của việc sụt giảm quy mô dự trữ ngoại hối tới
nền kinh tế giai đoạn 2009-2011
Ảnh hưởng đến khả năng thanh toán trong thương mại quốc tế
Trong Nghị định số 86/1999/ NĐ-CP về quản lý DTNH nhà nước và
quy chế tổ chức thực hiện những nhiệm vụ quản lý ngoại hối, nguyên tắc
đầu tiên được đề cập trong vấn đề quản lý dự trữ ngoại hối là phải đảm bảo
khả năng sẵn sàng thanh toán, đáp ứng nhu cầu ngoại hối khi cần thiết.Theo
những con số được công bố, thì dự trữ Việt Nam không đáp ứng được yêu
cầu này trong giai đoạn 2009-2010. Cụ thể, chỉ tiêu dự trữ ngoại hối trên giá
trị tuần nhập khẩu chỉ đạt cao nhất là 9 tuần, và thấp nhất chỉ là 5-6 tuần,
trong khi chỉ tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu là 12 tuần. Có những giai đoạn chỉ
tiêu này được giữ ổn định mức 7 tuần thì đây vẫn là con số đáng báo động
tình trạng khan hiếm ngoại tệ trong thời gian dài. Điểu đó kéo theo các
doanh nghiệp phải chấp nhận một mức giá cao hơn hẳn trên thị trường tự
do. Tình trạng các NHTM gặp rủi ro trong thanh khoản ngoại tệ đã gây tâm
lý hoang mang cho thị trường, từ đó gây sứ ép tăng tỷ giá. Nhưng với mức
dự trữ thấp như hiện nay ở Việt Nma, NHNN không thể đáp ứng toàn bộ
nhu cầu ngoại tệ của các NHTM để ổn định tỷ giá. Rõ ràng là, dự trữ ngoại
hối thấp là một hạn chế lớn trong điều hành chính sách tỷ giá ở Việt Nam.
Lãi suất
Cùng chung tình trạng với vấn đề tỷ giá chính là lãi suất tiền gửi bằng
VND. Sau một quá trình tăng lãi suất liên tục và lãi suất đã tăng cao đến
mức kỷ lục vào năm 2008, kể từ giữa năm 2009 đến 2011, thị trường Việt
nam lại chứng kiến một cuộc đua lãi suất mới, đẩy mặt bằng lãi suất lên cao
nữa. Lãi suất tại các NHTM đã biến động không ngừng, mặt dù lãi suất sơ
bản của NHNN chỉ thay đổi 2 lần( tăng từ 7% lên 8% vào tháng 1/2009 và
lên 9% kể từ ngày 5/11/2010). Ngay sau quyết định tăng lãi suất cơ bản từ
7% lên 8%, các NHTM đồng loạt đẩy lãi suất NH lên cao, có nơi lên tới
10,5%/năm (chưa tính các hình thức khuyến mãi, cộng thưởng gián tiếp).
Khi NHNN phát thông điệp kiểm tra toàn diện các trường hợp có lãi suất
huy động từ 10,5%/năm trở lên, các NHTM lại đồng loạt áp tối đa ở mức
10,49%/năm. Trong năm 2010, duy trì đà tăng của lãi suất huy động vào
những tháng cuối năm 2009, mặt bằng lãi suất biến động xoay quanh
ngưỡng 12% trong 6 tháng đầu năm. Và đến tháng 7, lãi suất huy động
VND có đợt điều chỉnh giảm đầu tiên ở mức 11-11,2% cho các kỳ hạn và
duy trì khá ổn định cho đến tháng 10. Tuy nhiên, trước sức ép của lạm phát
vào những tháng cuối năm, tỷ lệ lãi suất huy động ở lần điều chỉnh giảm thứ
hai đã ngay lập tức gia tăng ngay sau khi NHNN thực hiện điều chỉnh tăng
lãi suất cơ bản lên 9%. Mặt bằng lãi suất huy động ,ới được thiết lập ở mức
12%, và tiếp tục có xu hướng gia tăng mạnh, có thời điểm giao động xoay
quanh mức 17-18%. Vậy là, ămcj dù đã cho phép các ngân hàng được áp
dụng lãi suất thỏa thuận nhưng trước việc lãi suất bị đẩy lên quá cao như
chế lạm phát và biến động tỷ gái hối đoái. Hẵng này còn cảnh báo thêm
rằng có thể sẽ tiếp tục hạ điểm thấp hơn nữa nếu dự trữ ngoại hối ở Việt
Nam tiếp tục suy giảm.
Như vây, mức dự trữ mỏng như hiện nay phần nào phản ánh một nền kinh
tế đang đối mặt với nhiều rủi ro và biến động. Cùng với việc bị các tổ chức
quốc tế đánh tụ hạng, vị thế của Việt Nam và các doanh nghiệp dần bị hạ
thấp. chính vì thế việc tăng dự trữ ngoại hối là một trong những yêu cầu cấp
thiết nhằm cải thiện hình ảnh VN trong con mắt bạn bè quốc tế.
2.4. Đánh giá công tác dự trữ ngoại hối của Việt Nam giai đoạn 2009- 2011
2.4.1. Những mặt tích cực
Trên lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách quản lí ngoại hối không
ngừng được đổi mới để phù hợp với thông lệ quốc tế và thích ứng với cơ
chế thị trường có sự quản lí của nhà nước. Trong những năm trở lại đây,
công tác quản lý ngoại hối đã thu được những kết quả đáng khích lệ đặc biệt
là giai đoạn 2005-2008 khi dự trữ ngoại hối Việt Nam đạt đỉnh ( 23,9% tỷ
USD)
Về chính sách lãi suất ngoại tệ
Trong suốt một khoảng thời gian dài, việc quy định mức lãi suất cho
vay ngoại tệ áp dụng cho các ngân hàng thương mại của Việt Nam dựa vào
cơ sở lãi suất SIBOR (Singapore Interbank Offered Rate) đối với trung và
dài hạn cho thấy sự phụ thuộc lớn của lãi suất trong nước đối với lãi suất
quốc tế. Kể từ tháng 6/2011, chính phủ quyết định xóa cơ sở SIBOR, theo
đó cho phép các tổ chức tin dụng được căn cứ vào cung cầu ngoại tệ và lãi
suất quốc tế để thảo thuận về mức lãi suất ngoại tệ trong giao dịch. Điều đó
cho thấy dấu hiệu khả quang trong chủ trương tự do hóa lãi suất ngoại tệ, là
bước ngoặt trong chính sách lãi suất. Thực tế cho thấy, lãi suất huy động
USD tăng đáng kể sau khi được tự do hóa lãi suất. Năm 2004, ảnh hưởng
của việc tăng lãi suất USD của cục dự trữ liên bang Mỹ( FED), lãi suất huy
động USN của ngân hàng tăng 4,25%/năm. Đặc biệt mức lãi suất này đã
tăng đến 7,2%/năm trong ănm 2008. Việc tăng lãi suất huy động USD trong
nguồn vốn ngoại tệ lớn đầu tư cho các dự án trọng điểm của Chính Phủ, cho
vay các doanh nghiệp đẩy mảnh kinh doanh xuất nhập khẩu; góp phần cải
thiện cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, góp phần tăng dự trữ ngoại
tệ quốc gia.
2.3.2: Những mặt hạn chế:
- Về điều hành chính sách lãi suất
Trong một thời gian dài giữa lãi suất nội tệ giữa lãi suất ngoại tệ đã
có một khoảng cách chênh lệch quá lớn, đã làm nảy sinh sự chuyển dịch
vốn của khách hàng từ nội tệ sang ngoại tệ và ngược lại. Ngân hàng bỏ ra
nhiều công sức mà không thu được hiệu quả. Việc tập trung ngoại tệ về Nhà
nước chưa kịp thời với chính sách lãi suất ngoại tệ. Vô tình tọa ra cơ hội và
kẻ hở cho những người có nhiều tiền gửi và những doanh nghiệp khôn
ngoan kiếm lời bằng chênh lệc lãi suất ngoại tệ và nội tệ.
- Về điều hành chính sách tỷ giá:
Biên độ giao dịch tỷ giá quá hẹp trong một thời gian dài đã hạn chế
doanh số mua bán ngoại tệ của các tổ chức tín dụng. Công cụ tỷ giá và công
cụ lãi suất ngoại tệ có khi diễn biến ngược chiều; lãi suất ngoại tệ diễn ra
theo xu hướng giảm trong khi tỷ giá giữa USD/VND vẫn tăng(tuy ở mức độ
hẹp), đã gây ta tâm lý người dân găm giữ ngoại tệ. Từ đó khiến cho lượng
ngoại tệ trôi nổi trong dân còn nhiều, dễ gây tình trạng đôla hóa, đặc biệt
trong hoàn cảnh dự trữ ngoại hối Việt Nam đang sụt giảm như hiện nay, đó
là một bất cập cần được giải quyết.
- Về dịch vụ kiều hối
Việc đưa ra các chính sách khuyến khích kiều bào gửi tiền về nước
còn chưa được quan tâm cụ thể. Bên cạnh đó lượng kiều hối cũng là một
trong những nhân tố chủ yếu làm nghiêm trọng thêm tình trạng đôla hóa
kinh tế. Nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu kiểm soát lượng ngoại tệ rất lớn
đang trôi nổi ngoài thị trường.
- Về công tác và bộ máy quản lý:
Chiến lược quản lý dự trữ vẫn thụ động, hoạt động đầu tư dự trữ đơn
phức tạp, thị trường tài chính toàn cầu vẫn tiềm ẩn rủi ro do khủng hoảng
nợ công khu vực đồng tiền chung Châu Âu chưa được giải quyết, nhiều
ngân hàng trong khu vực Châu Âu bị hạ bậc tín nhiệm; kinh tế Việt Nam
đang phải đối mặt với rủi ro tăng trưởng kinh tế chậm lại, hoạt động sản
xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn nhưng về cơ
bản, diễn biến thị trường ngoại hối trong và ngoài nước không có nhiều biến
động.
* Diễn biến giá trị đồng đô la Mỹ và tỷ giá USD/VND
Trong nửa đầu năm 2012, giá trị đồng đô la Mỹ trên thị trường ngoại
hối thế giới đã phần nào được cải thiện và tỷ giá USD/VND tiếp tục được
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) duy trì ổn định ở mức 20.828
VND/USD.
- Diễn biến giá trị đồng đô la Mỹ