Tìm hiểu về công cụ dự trữ bắt buộc và việc điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông qua công cụ dự trữ bắt buộc trong thời gian qua - Pdf 13


BÀI TIỂU LUẬN
MÔN TIỀN TỆ NGÂN HÀNG

TÌM HIỂU CÔNG CỤ DỰ TRỮ BẮT BUỘC VÀ VIỆC ĐIỀU
HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ
NƯỚC VIỆT NAM THÔNG QUA CÔNG CỤ DỰ TRỮ BẮT
BUỘC TRONG THỜI GIAN QUA

Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Hai Hằng
Sinh viên thực hiện : Đặng Thị Thu Trang
MSSV : K094040619
TP Hồ Chí Minh tháng 11 năm 2012

2

MỤC LỤC – TÀI LIỆU THAM KHẢO
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỰ TRỮ BẮT BUỘC 4
1.1 Khái niệm và cơ chế tác động của dự trữ bắt buộc 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Tác động của công cụ dự trữ bắt buộc 5
1.1.2.1 Tác động đến vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng 5
1.1.2.2 Tác động đến lãi suất thị trường tiền tệ 5
1.1.2.3 Tác động đến lượng tiền cung ứng 6
1.2 Phương pháp quản lý dự trữ bắt buộc 6
1.2.1 Phương pháp tính dự trữ bắt buộc 6
1.2.1.1 Các văn bản áp dụng 6
1.2.1.2 Nguyên tắc dự trữ bắt buộc 7

5. Hệ thống các Quyết định của NHNN Việt Nam về dự trữ bắt buộc từ năm 1990 đến
nay 4

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỰ TRỮ BẮT BUỘC
1.1 Khái niệm và cơ chế tác động của dự trữ bắt buộc
1.1.1 Khái niệm
Dự trữ bắt buộc (DTBB) hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của ngân hàng trung
ương về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ
để đảm bảo tính thanh khoản.
Theo quy chế dự trữ bắt buộc đối với các Tổ chức tín dụng (TCTD) ban hành theo quyết
định số 581/QĐ - NHNN ngày 9/9/2003 của Thống đốc NHNN: “Dự trữ bắt buộc là số tiền
mà các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam phải duy trì trên tài khoản tiền gửi thanh
toán tại Ngân hàng Nhà nước”.
Số tiền dự trữ bắt buộc được gửi tại ngân hàng trung ương, không hưởng lãi, không được
dùng để đầu tư, cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng số tiền
gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán và đảm bảo sự ổn định của hệ thống
ngân hàng.
Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhưng không
được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này. Nếu thiếu hụt tiền mặt các ngân hàng thương mại
phải vay thêm tiền mặt, thường là từ ngân hàng trung ương để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt
buộc.
Trước đây, dự trữ bắt buộc nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho TCTD trước nhu cầu rút
tiền mặt của khách hàng và do đó hạn chế rủi ro thanh khoản cho cả hệ thống. Tuy nhiên,
theo thời gian ý nghĩa này giảm dần vì cho dù TCTD có duy trì một mức dự trữ bắt buộc lớn

hàng ở NHTƯ không được tính lãi hoặc mức lãi không đáng kể. Khi dự trữ bắt buộc tăng
lên thì lãi thu được từ hoạt động cho vay giảm xuống làm giảm lợi nhuận của các NHTM.
6

Điều này được các ngân hàng khắc phục bằng cách điều chỉnh tăng lãi suất cho vay trên thị
trường tín dụng.
1.1.2.3 Tác động đến lượng tiền cung ứng
Khối lượng tiền cung ứng thay đổi là kết quả tất yếu của việc thay đổi tiềm năng tín dụng,
thay đổi lãi suất trên thị trường, nó cũng là mục tiêu cuối cùng mà Ngân hàng trung ương
(NHTW) muốn đạt được khi điều chỉnh dự trữ bắt buộc. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ được nâng
lên nếu NHTW thực hiện việc thắt chặt tiền tệ, hướng đến mục tiêu kiểm soát lạm phát và
ngược lại, để mở rộng tiền tệ nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo thêm công
ăn, việc làm cho người lao động thì NHTW sẽ hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
tác động ngược chiều đến khối lượng tiền cung ứng thể hiện qua công thức tính hệ số nhân
tiền:
ệ ố ạ ề =
1
ỷ ệ ự ữ ắ ộ

Có thể nói sự tác động của tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với khối lượng tiền trong nền kinh tế là
khá toàn diện, nó tác động rất mạnh mẽ không chỉ đến quy mô, khối lượng tín dụng mà cả
đối với lãi suất tín dụng. Mức độ tác động không đơn giản chỉ làm tăng hay giảm đơn thuần
mà làm thay đổi theo số lần về tiền trong lưu thông.
1.2 Phương pháp quản lý dự trữ bắt buộc
1.2.1 Phương pháp tính dự trữ bắt buộc
1.2.1.1 Các văn bản áp dụng
Quyết định số 581/2003/QĐ-NHNN ngày 9/6/2003 của Ngân hàng Nhà nước về việc ban
hành Quy chế dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng.
Quyết định số 1130/2005/QĐ-NHNN ngày 1/8/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều
của Quy chế dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số

Tổng số dư cuối ngày của các tài khoản phải
dự trữ bắt buộc của kỳ xác định
Số ngày trong kỳ
Kỳ xác định dự trữ bắt buộc là khoảng thời gian tính bằng số ngày trong mỗi kỳ để tính toán
tiền dự trữ bắt buộc
Kỳ duy trì dự trữ bắt buộc là khoảng thời gian mà đối tượng thực hiện dự trữ bắt buộc thực
hiện theo mức đã được tính toán vào cuối kỳ xác định
1.2.2 Phương pháp quản lý dự trữ bắt buộc
Có nhiều phương pháp quản lý dự trữ bắt buộc. Căn cứ vào mức độ chênh lệch về thời gian
giữa kỳ xác định và kỳ duy trì có thể phân chia các phương pháp này thành ba loại:
8

1.2.2.1 Phương pháp nối tiếp.
Đây là phương pháp mà kỳ xác định và kỳ duy trì nối tiếp nhau. Với cách xác định này, đối
tượng dự trữ bắt buộc phải chủ động hoàn toàn trong việc sử dụng dự trữ vì vào đầu kỳ duy
trì họ đã biết được mức dự trữ bắt buộc mà họ phải thực hiện trong kỳ. Tuy nhiên, theo
phương pháp này thì số dư tiền gửi để tính dự trữ bắt buộc sẽ biến động không ngừng và do
vậy việc sử dụng dự trữ bắt buộc để kiểm soát khả năng cho vay ít có tác dụng. Bên cạnh
đó, phương pháp nối tiếp có thể dẫn đến sự biến động lớn về lãi suất do có sự biến động về
vốn khả dụng đầu kỳ và cuối kỳ.
1.2.2.2 Phương pháp trùng một phần
Theo phương pháp này, kỳ xác định và kỳ duy trì trùng nhau một phần.Đây là phương pháp
được phần lớn các nước sử dụng
Với cách quản lý này, đối tượng thuộc diện phải dự trữ bắt buộc luôn quan tâm đến dự trữ
bắt buộc, không sử dụng quá mức dự trữ có được. Vì vậy, số dư tiền gửi để tính dự trữ bắt
buộc cũng như lãi suất thị trường ít biến động hơn. Hiệu quả của phương pháp này cao hơn
phương pháp nối tiếp.
1.2.2.3 Phương pháp trùng hoàn toàn
Đây là phương pháp quy định kỳ duy trì đồng thời cũng là kỳ xác định. Phương pháp này
phát huy được hiệy quả cao nhất so với hai phương pháp trên vì nó buộc đối tượng chịu sự

kiểm soát được khối lượng tiền gửi có thể phát hành séc mà các ngân hàng có thể tạo ra theo
mong muốn.
1.3.4 Tạo thu nhập cho Ngân hàng Trung Ương
Vì tiền gửi dự trữ bắt buộc không được trả lãi hoặc trả lãi thấp hơn lãi suất cho các ngân
hàng vay nên nó đã tạo thu nhập cho NHTW. Nguồn thu từ dự trữ bắt buộc của NHTW có
thể được dùng để bù đắp cho việc phát hành tiền và cho hoạt động của Ngân hàng. Nhìn
chung những khoản thu nhập từ dự trữ bắt buộc khá nhỏ bé, chỉ có ở những quốc gia có tỷ
lệ dự trữ bắt buộc cao thì mới có thể bù đắp được một phần chi phí.
10

1.4 Ưu, nhược điểm của công cụ dự trữ bắt buộc
1.4.1 Ưu điểm:
 DTBB tôn trọng sự cạnh tranh giữa các ngân hàng vì nó được áp dụng không phân biệt
với những ngân hàng có điều kiện kinh doanh như nhau.
 NHTW chủ động trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng thông qua việc thay đổi tỉ lệ
DTBB.
 DTBB là công cụ đầy quyền lực của NHTW, tác động nhanh và mạnh đến lượng tiền
cung ứng. Bởi lẽ, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về tỉ lệ DTBB thì mức dự trữ dư thừa và
lãi suất cho vay đối với nền kinh tế sẽ thay đổi và dẫn đến thay đổi theo cấp số nhân của
khối lượng tiền cung ứng.
 Ngoài ra, DTBB còn được sử dụng để thiết lập mối quan hệ giữa việc tạo tiền của hệ
thống ngân hàng với nhu cầu tái cấp vốn tại NHTW vì bằng việc năng tỉ lệ DTBB lên
cao có thể buộc các ngân hàng phải tìm đến nguồn vốn từ NHTW.
1.4.2 Nhược điểm:
 Do DTBB là công cụ quyền lực mạnh nên nó thiếu tính linh hoạt. Vì chỉ cần một sự thay
đổi dù lớn hay nhỏ về tỉ lệ DTBB cũng gây ảnh hưởng đến hoạt động của toàn hệ thống
ngân hàng.
 Có thể khiến cho một số ngân hàng có dự trữ vượt mức quá thấp rơi vào tình trạng mất
"khả năng thanh toán ngay". Đồng thời, việc thay đổi thường xuyên tỷ lệ dự trữ bắt buộc
khiến cho các ngân hàng rơi vào tình trạng bất ổn trong việc quản lý thanh khoản, làm

Quyết định trên, quy chế DTBB đã thay đổi về đối tượng thi hành, tài khoản phải DTBB, cơ
cấu DTBB, tỉ lệ DTBB và phương pháp quản lí theo hướng linh hoạt hơn, thông thoáng hơn
cho hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Đến thời điểm năm 1998 thì cơ cấu DTBB gồm 2 bộ phận là tiền mặt tại quỹ và ngân phiếu
còn thời hạn thanh toán (không quá 30%) và bộ phận tiền gửi DTBB tại Ngân hàng nhà
nước (NHNN) (tối thiểu 70%), đồng thời hợp nhất tài khoản DTBB và tài khoản tiền gửi
12

thanh toán thành một tài khoản tiền gửi không kì hạn tại NHNN. Hơn nữa, DTBB đã được
tính bình quân cả kỳ duy trì và dự trữ thường xuyên được thay thế bằng DTBB theo đơn vị
thời gian. Đây là một bước tiến lớn trong việc nâng cao hiệu quả của công cụ DTBB, tạo
điều kiện cho các ngân hàng linh hoạt hơn trong việc sử dụng dự trữ cũng như chấp hành
quy định về DTBB.
Tuy nhiên, tỷ lệ DTBB thời kì này còn cao, từ 10% đến 35%, trường hợp đặc biệt có thể
nâng lên cao hơn 35% và mức phổ biến là 10%. Trong khi các nước khác thời kì đó mức
cao nhất là 10%. Việc quy định tỷ lệ DTBB cao như vậy sẽ làm tăng chi phí của các ngân
hàng. Hơn nữa, trong thời kì này NHNN lại khống chế sàn lãi suất huy động và trần lãi suất
cho vay nên làm ảnh hưởng đến thu nhập của các ngân hàng.
2.2 Giai đoạn từ khi Luật Ngân hàng có hiệu lực (từ tháng 10/1998) đến 2007
Theo Luật Ngân hàng thì NHNN sẽ quy định tỷ lệ DTBB đối với từng loại hình tổ chức tín
dụng và từng loại tiền gửi với mức từ 0% đến 20%. Và để thực hiện Luật Ngân hàng thì
ngày 10/2/1999 Thống đốc NHNN đã ban hành Quy chế DTBB kèm theo Quyết định số
51/1999/QĐ-NHNN1. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ kì duy trì DTBB tháng
3/1999. So với QĐ 396, Quyết định có một số sửa đổi bổ sung, như: tiền DTBB phải gửi
toàn bộ tại NHNN, đối tượng áp dụng được mở rộng (các TCTD được thành lập và hoạt
động theo Luật các TCTD), việc trả lãi tiền DTBB do Chính phủ quy định thay vì do
NHNN quy định, tỷ lệ DTBB được điều chỉnh theo từng thời kì. Tuy nhiên, tiền gửi trên 12
tháng vẫn chưa thuộc diện phải DTBB.
Từ thời điểm đó tỷ lệ DTBB đã thay đổi theo hướng giảm xuống cho đến tháng 11/2000.
Sau đó, tỷ lệ DTBB diễn biến theo xu hướng giảm xuống đối với VND và tăng lên đối với

Nhưng không thể không kể đến tác động tích cực của Quyết định số 831/2003/QĐ-NHNN
ngày 30/7/2003 đến lãi suất thị trường với việc điều chỉnh giảm tỉ lệ DTBB đối với tiền gửi
không kì hạn và có kì hạn dươí 12 tháng bằng VND từ 3% xuống còn 2%, riêng NH Nông
14

nghiệp và Phát triển nông thôn VN là 1,5%, áp dụng từ kỳ duy trì DTBB tháng 8/2003.
Cùng với sư điều chỉnh các công cụ khác như: giảm lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết
khấu, sửa đổi cơ chế cho vay ngắn hạn, chiết khấu giấy tờ có giá của NHNN đối với NHTM
để mơ rộng khả năng tiếp cận kênh tái cấp vốn cho các NHTM, mở rộng hàng hóa cho thị
trường mở và với vai trò của Hiệp hội Ngân hàng đã góp phần bình ổn lãi suất thị trường từ
đó cho đến nay. Như vậy, công cụ DTBB đã được vận hành một cách tương đối hiệu quả
trong sự kết hợp đồng bộ với các công cụ khác.
Ngoài ra, Quy chế DTBB ban hành kèm theo Quyết định 581/2003/QĐ-NHNN đã cho phép
các TCTD được tính cả tiền gửi nội tệ tại chi nhánh NHNN tỉnh thành phố là tiền duy trì
DTBB (Khoản 1 - Điều 7). Đây là quy định tỏ ra thông thoáng hơn cho các NHTM, tạo sự
linh hoạt hơn trong việc thực hiện DTBB cho các NHTM nói riêng và các TCTD nói chung.
Tất cả những thay đổi trên trong việc quản lý DTBB của NHNN là bước khởi đầu cho việc
thực hiện mục tiêu tăng cường khả năng điều tiết tiền tệ của công cụ này cho những năm
tiếp theo, góp phần nâng cao hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ.
Năm 2004 là năm có biến động lớn trong diễn biến giá cả hàng hoá thị trường nội địa. Lần
đầu tiên trong vài năm gần đây, lạm phát trở thành vấn đề quan tâm đặc biệt của các nhà
quản lí cũng như công chúng và các phương tiện thông tin đại chúng. Chỉ số giá 6 tháng đầu
năm ở mức 7,2%, tăng đột biến so với năm 2003 và các năm trước. Trong khi một trong
những mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ là kiểm soát lạm phát thì việc phân tích ,
đánh giá đúng các nhân tố tác động làm tăng chỉ số CPI cũng như bản chất của việc tăng giá
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đề ra các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ có hiệu
quả và thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Qua phân tích tình hình thực tiễn cho thấy giá
cả tăng là do các nhân tố khách quan như dịch cúm gia cầm những tháng đầu năm cộng
hưởng cùng dịp Tết Nguyên Đán, giá dầu mỏ, thép, nhựa…trên thị trường thế giới tăng cao,
ảnh hưởng đến giá thành phẩm trong nước v.v…; cùng với nguyên nhân chủ quan như nhu

không tốt đến tăng trưởng kinh tế. Tại thời điểm đó, lãi suất huy động và cho vay VND của
các NHTM VN đã ở mức cao hơn nhiều so với lãi suất trên thị trường tài chính quốc tế và
16

nguy cơ của một cuộc chạy đua lãi suất giữa các NHTM đã manh mún xuất hiện. Nếu tiếp
tục tăng lãi suất sẽ gây tác động tiêu cực đến tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế và
sự an toàn của hệ thống ngân hàng. Đây có thể là nguyên nhân lí giải cho sự thận trọng và
dè dặt của NHNN trong việc nâng tỉ lệ DTBB vào cuối tháng 6, khi CPI đã ở mức tưong đối
cao và có thể tiếp tục tăng trong những tháng tiếp theo, gây nguy cơ lạm phát cao cả năm.
Tuy nhiên, chỉ sau chưa đầy một tháng thực hiện tăng DTBB - động thái được coi là tích
cực, hạn chế khả năng tạo tiền, kiểm soát tăng trưởng tín dụng, từ đó kiềm chế lạm phát,
thông qua Hiệp hội Ngân hàng, các NHTM quốc doanh đã thoả thuận giảm lãi suất huy
động, tối đa là 0,63%/tháng (kì hạn 12 tháng).
Hơn nữa, NHNN đã cân nhắc đến tác động nhiều mặt của giải pháp, thể hiện: Để hạn chế
tác động làm tăng chi phí của các TCTD do tăng tỷ lệ DTBB, NHNN đã tiến hành thay đổi
phương thức trả lãi đối với tiền gửi DTBB. Cụ thể, NHNN thực hiện trả lãi đối với tiền gửi
DTBB bằng VND với mức lãi suất 0,1%/tháng, đồng thời không thực hiện trả lãi tiền gửi
vượt DTBB bằng VND của TCTD tại NHNN nhằm hỗ trợ một phần chi phí hoạt động cho
các TCTD và khuyến khích các TCTD sử dụng triệt để nguồn vốn, tránh tăng lãi suất huy
động không cần thiết, ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
2.3 Giai đoạn từ năm 2007 đến nay

17 Để kiềm chế lạm phát có dấu hiệu tăng cao, năm 2007 NHNN tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ
5% lên 10%, riêng Agribank là 8%. Như vậy chi phí của mỗi ngân hàng có thể bị đội thêm
0,25% từ việc tăng dự trữ bắt buộc.
Năm 2008, nền kinh tế nước ta được dự báo tiếp tục tăng trưởng ở mức cao, thu hút vốn đầu
tư nước ngoài thuận lợi, nhưng việc kiểm soát tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng gặp khó khăn

Việc thắt chăt Chính sách tiền tệ đột ngột trong giai đoạn đầu sẽ tạo ra sú sốc lớn và gây ra
các phản ứng tiêu cực tức thời của thị trường tiền tệ và của NHTM. Thêm vào đó, sự mâu
thuẫn giữa các mục tiêu trong ngắn hạn sẽ khiến cho nền kinh tế trong ngắn hạn không thể
thực hiện được tất cả các mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Ngày 1/3/2009, NHNN hạ 1% tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng VND trong một số trường hợp
(Quyết định số 379 QĐ- NHNN ngày 24/2).Theo đó, tỷ lệ dự trữ bắt buộc với tiền gửi
không kỳ hạn và có kỳ hạn được điều chỉnh hạ từ 3,6% xuống các mức 1% và 3%. Theo
NHNN, mục đích của việc thực hiện giải pháp trên là nhằm ổn định thị trường tiền tệ, lãi
suất, tỷ giá và nhằm hỗ trợ vốn khả dụng cho các tổ chức tín dụng có điều kiện mở rộng huy
động vốn và tín dụng có hiệu quả đối với nền kinh tế, kể cả cho vay đối với các dự án đầu tư
theo chương trình kích cầu của Chính phủ.
19

Ngày 1/10/2010, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các TCTD sẽ phải nâng lên mức 9% thay cho 8%
như hiện nay. Theo đó, nhằm phù hợp với tình hình thực tế hiện nay nhiều ngân hàng
thương mại hoạt động theo mô hình công ty mẹ- con và nhằm tiến thêm một bước trong
việc tuân thủ 25 nguyên tắc thanh tra cơ bản của Ủy ban Basel, các tổ chức tín dụng cần duy
trì tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ và hợp nhất. Tỷ lệ an toàn được điều chỉnh lên 9% thay vì 8%
như quy định đang áp dụng.
Hiện nay, NHNN vừa có thông báo áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng
Việt Nam bằng 1/5 so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường tương ứng với từng kỳ hạn tiền
gửi đối với các TCTD có tỷ trọng dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn trên tổng
dư nợ bình quân cuối các quý trong năm tài chình liền kề từ 40% đến dưới 70%. Đó là các
TCTD: Ngân hàng TMCP Mê Kông, Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng Sông Cửu Long,
Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam, Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt.
Hiện tỷ lệ dự trữ bắt buộc VND với các ngân hàng thương mại kỳ hạn trên 12 tháng là 1%,
không kỳ hạn và dưới 12 tháng là 3%. Với ngân hàng Agribank và Quỹ tín dụng nhân dân
Trung ương, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 1%.
Qua những động thái trên của NHNN trong việc điều hành DTBB, cùng với sự kết hợp với

Có thể nói, từ khi ra đời, đặc biệt là trong giai đoạn thực hiện Luật Ngân hàng cho đến nay,
công cụ DTBB đã dần được nâng cao hiệu quả điều hành qua những sửa đổi bổ sung trong
chính sách quản lí, góp phần thực thi tốt chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam.
Tuy nhên, công cụ này vẫn còn bộc lộ một số bất cập trong điều hành như:
 Do quy định Dự trữ bắt buộc chỉ áp dụng đối với các loại tiền gửi dưới 12 tháng nên
mối quan hệ giữa khối tiền trong nền kinh tế chỉ mới thực hiện ở mức M1 ,trong khi
21

đó M2 có tính nhạy cảm với lạm phát hơn với M1 .Điều này dẫn đến khả năng kiểm
soát M2 của NHNN còn hạn chế .
 Việc quy định trả lãi cho tiền gửi dự trữ vượt mức không khuyến khích các NHTM
sử dụng tối đa nguồn vốn dẫn đến tình trạng dự trữ vượt mức nhiều ,từ đó hạn chế
các hoạt động cho vay qua đêm.
 DTBB thể hiện tác động rất rõ đến việc điều hành tỉ giá và lãi suất trong thời gian
qua nhưng tác động đến việc tăng cơ số tiền tệ, nhất là đối với ngoại tệ thì không rõ
(trong khi một trong những mục tiêu chính của việc sử dụng DTBB là kiểm soát
cung tiền)
Do đó việc đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều hành của công
cụ này là hết sức cần thiết đối với NHNN trong giai đoạn hiện nay.
Trước hết, trong những tháng tiếp theo, tỉ giá giữa VND và USD có xu hướng ổn định và có
thể giảm, hiện tại lãi suất tiền gửi VND vẫn ở mức cao hơn nhiều so với tiền gửi USD, lợi
thế về thu nhập kì vọng vẫn nghiêng về phía VND, cộng với việc CPI tháng 10 vừa qua tăng
không đáng kể nên sự di chuyển từ USD sang VND không lớn; hơn nữa NHNN đang chủ
trương khuyến khích cho vay ngoại tệ. Do đó, trong những tháng tiếp theo, nếu không có gì
bất ổn trong diễn biến giá cả thì NHNN nên xem xét giảm tỉ lệ DTBB đối với tiền gửi ngoại
tệ. Vì hiện nay khoảng cách giữa tỉ lệ DTBB ngoại tệ và tiền gửi nội tệ tương đối cao, nên
có tác động như một khoản thuế đánh vào giá đầu vào của tiền gửi USD và ảnh hưởng đến
giá đầu ra của khoản tín dụng bằng USD.
Thứ hai, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế của chính sách tiền tệ, nếu diễn biến giá
cả như trên trong thời gian tới, NHNN cũng nên xem xét giảm tỉ lệ DTBB đối với tiền gửi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status