BÀI HỌC VỀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA CÁC NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN KHỦNG HOẢNG THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TỪ 2008 ĐẾN NAY - Pdf 18

Học viện Ngân hàng
Khoa Ngân hàng
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN
BÀI HỌC VỀ ĐIỀU HÀNH CSTT CỦA CÁC NƯỚC TRONG GIAI ĐOẠN
KHỦNG HOẢNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ ĐIỀU HÀNH CSTT CỦA NHNN VIỆT
NAM TỪ 2008 ĐẾN NAY
Bộ môn: Tiền tệ - Ngân hàng
Nhóm “KTX”: Phạm Quỳnh Diệp
Trần Thị Dung
Vũ Thị Kiều
Lê Thanh Phương
Thạch Thị Thủy
Hà Nội, tháng 10/2010
2
LỜI MỞ ĐẦU
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, qua bao thăng trầm và biến đổi, đường lối đổi mới của
Việt Nam đã thực sự đi vào thực thi. Có thể nói, chính sách đổi mới về kinh tế đã thành công
trong việc giúp nền kinh tế nước ta vượt qua thời kỳ lạm phát không kiềm chế được và khôi
phục cân bằng kinh tế vĩ mô. Kể từ đó, Chính phủ đã chuyển dịch những ưu tiên hàng đầu của
mình vào điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế. Đặc biệt, xây dựng và thực hiện có hiệu quả chính
sách tiền tệ quốc gia, tăng cường quản lý Nhà nước về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng, góp
phần phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường là một chủ
trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Cách quản lý kinh tế và hoạt động Ngân hàng bằng cơ
chế kế hoạch hoá tập trung sẽ được thay thế dần bằng sự vận hành một chính sách tiền tệ linh
hoạt dựa trên nền tảng một thị trường tài chính phát triển. Để thực hiện tốt chính sách tiền tệ,
chúng ta cần nghiên cứu chính sách tiền tệ trên cơ sở một loạt các vấn đề về lý luận chung, về
chính sách tiền tệ, kinh nghiệm chính sách tiền tệ một số nước, thực trạng chính sách tiền tệ ở
Việtt Nam. Do đó bài thảo luận này với những nghiên cứu ban đầu về chính sách tiền tệ xin
được đưa ra những tổng kết ban đầu về chính sách tiền tệ, đánh giá và đưa ra giải pháp cho
việc thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong những năm gần đây.

4
3.1. Thực trạng nền kinh tế việt nam dưới tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới 15
3.1.1 Về bất động sản đầu tư và thu hút FDI 15
3.1.2 Xuất nhập khẩu 16
3.1.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tình trạng thất nghiệp 17
3.1.4 Lạm phát 17
3.2. Thực trạng giải pháp của Chính phủ, Nhà nước Việt Nam nhằm ứng phó với
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 18
3.2.1. Giải pháp của Chính phủ 19
3.2.2. Thực trạng CSTT Việt Nam đã và đang được triển khai nhằm ứng phó với cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ 19
3.2.3. Hiệu quả 21
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả của các công cụ của CSTT 22
3.3.1 Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện các công cụ của CSTT 23
3.3.2 Nhóm giải pháp nhằm tạo điều kiện, môi trường thuận lợi 23
5
1.NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
1.1.Những vấn đề cơ bản về chính sách tiền tệ
Trong thời kì sơ khai của các nền kinh tế, khi các ngân hàng phát hành mới ra đời, nhiệm
vụ chủ yếu của chúng là phát hành ra tiền. Các khoản tiền phát hành ra nhằm mục đích chủ
yếu nhằm bù đắp cho những khoản chi tiêu vượt quá của chính phủ. Kinh tế suy thoái, ngân
sách lâm vào tình trạng bị thâm hụt lớn, ngân hàng buộc phải phát hành ra những khoản tiền
khổng lồ để bù đắp cho những khoản thâm hụt này. Điều dó là nguyên nhân trực tiếp gây nên
tình trạng lạm phát cao, do vậy không thể duy trì mãi cơ chế này. Hơn nữa tài chính – tiền tệ là
lĩnh vực hết sức quan trọng của nền kinh tế. Nhà nước với vai trò chỉ đạo, quản lí vĩ mô nền
kinh tế không thể không xây dựng một chính sách vĩ mô cụ thể cho lĩnh vực này. Chính sách
tiền tệ đã ra đời như vậy và cơ quan thực hiện nó chính là ngân hàng trung ương.
1.1.1 Khái niệm
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó Ngân hàng
Trung ương, thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng

1.1.3.Công cụ chính sách tiền tệ
Công cụ chính sách tiền tệ là các hoạt động được thực hiện trực tiếp bởi NHTW nhằm
ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền lưu thông và lãi suất, từ đó mà đạt được
các mục tiêu của chính sách tiền tệ.
1.1.3.1 Công cụ trực tiếp
Là công cụ tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưu thông (hoặc các mức lãi suất
trung và dài hạn).
Công cụ trực tiếp được áp dụng phổ biến ở các nước trong thời kỳ hoạt động tài chính được
điều tiết chặt chẽ là hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các tổ chức tín dụng phải tôn trọng
khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.
1.1.3.2 Công cụ gián tiếp
Nhóm công cụ này tác động trước hết vào mục tiêu hoạt động của chính sách tiền tệ, thông
qua cơ chế thị trường mà tác động này được truyền đến các mục tiêu trung gian là khối lượng
tiền cung ứng và lãi suất.
 Dự trữ bắt buộc (DTBB)
Là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoản tiền gửi không hưởng lãi tại
NHTW.
Số tiền này được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi tại
một khoảng thời gian nào đó. Mức dự trữ bắt buộc được quy định khác nhau căn cứ vào thời
hạn tiền gửi, vào quy mô và tính chất hoạt động của NHTM.
 Chính sách tái chiết khấu
Chính sách tái chiết khấu bao gồm các quy định và điều kiện cho vay của NHTW đối với
các NHTM. NHTW cho vay ngắn hạn trên cơ sở chiết khấu các chứng từ có giá trị ngắn hạn,
chủ yếu là tín phiếu Kho bạc và thương phiếu.
Các NHTM vay NHTW nhằm mục đích bù đắp hoặc bổ sung nhu cầu vốn khả dụng cà
hình thành nên bộ phận dự trữ đi vay.
 Nghiệp vụ thị trường mở
Là các hoạt động của NHTW trên thị trường mở thông qua việc mua bán các chứng khoán.
Các hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến dự trữ của các NHTM và ảnh hưởng gián tiếp đến

đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ ảnh hưởng một cách bình đẳng đến tất cả các ngân hàng. Chỉ cần
một phần trăm thay đổi tỷ lệ DTBB tính trên tổng số dư tiền gửi bình quân ngày, mức dự trữ
sẽ thay đổi đáng kể và dẫn đến sự thay đổi theo cập số nhân của khối lượng tiền cung ứng. Bởi
thế, công cụ DTBB trở nên thiếu linh hoạt vì sự thay đổi thường xuyên sẽ gây nên sự bất ổn
định cho hoạt động của các ngân hàng và chị phí cho sự điều chỉnh thích ứng với tỷ lệ DTBB
mới là rất tốn kém. Mặt khác, sự thay đổi dự trữ bắt buộc gây ảnh hưởng ngay lập tức và trực
tiếp đến lượng vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng.
• Chính sách tái chiết khấu
Trong công cụ này, NHTW ấn định hạn mức tái chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu và các
điều kiện tái chiết khấu. Khối lượng vốn khả dụng được bổ sung từ NHTW có thể bị giới hạn
hoặc nới rộng căn cứ vào hạn mức tái chiết khấu và các điều kiện tái chiết khấu, qua đó mà
ảnh hưởng đến khả năng tạo tiền của hệ thống NHTM. Khi lượng vốn khả dụng thay đổi, nó sẽ
làm cho quan hệ cung cầu vốn và do đó lãi suất thị trường liên ngân hàng thay đổi.
Sự thay đổi mức lãi suất tái chiết khấu tác động trước hết vào giá đầu vào của các NHTM,
vì thế các ngân hàng này dần dần tăng (hoặc giảm) lãi suất cho vay, do đó làm giảm (hoặc
tăng) nhu cầu tín dụng. bên cạnh đó, khi lãi suất chiết khấu tăng lên các NHTM không thể vay
NHTW một cách dễ dàng, điều này buộc các NHTM phải giảm bớt khả năng cung ứng tín
dụng để hồi phục dự trữ, hoặc mở rộng cho vay trong trường hợp ngược lại.
Sự thay đổi lãi suất tái chiết khấu được coi như dấu hiệu của định hướng chính sách tiền tệ
của NHTW. Công cụ này có khả năng điều tiết một cách linh hoạt các mục tiêu trung gian.
Tuy nhiên mức độ phát huy hiệu quả của công cụ này căn cứ vào mức độ phụ thuộc về vốn
của NHTM vào NHTW, vì thế nó là công cụ kém chủ động.
• Nghiệp vụ thị trường mở
8
Thứ nhất: khi NHTW mua bán các chứng khoán, nó sẽ làm tăng (giảm) ngay lập tức dự trữ
của các NHTM, dù người bán là NHTM hay khách hàng của nó. Vì thế khả năng tạo tiền gửi
thông qua cung ứng tín dụng của hệ thống ngân hàng giảm xuống, từ đó ảnh hưởng đến lượng
tiền cung ứng
Thứ hai: Khi vốn khả dụng của từng ngân hàng cá nhân giảm do tác động của hoạt động
thị trường mở, mức cung vốn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng giảm xuống, trong điều

ảnh hưởng đến các mục tiêu cuối cùng thông qua 2 con đường:
• Sự thay đổi trong giá tương đối
Trong điều kiện cơ chế tỷ giá linh hoạt, mỗi sự biến động của lượng tiền cung ứng sẽ
truyền tác động nhanh chóng tới tỷ giá, thông qua sự thay đổi lãi suất nội tệ. Sự thay đổi tương
quan về giá có tác động kích thích hoặc hạn chế xuất khẩu. Sản lượng, công ăn việc làm vì thế
mà thay đổi:
M↑ → i↓ → E↓ → XK↑ → Y↑
9
• Sự thay đổi tình trạng bảng tổng kết tài sản của các chủ thể kinh tế trong xã hội
Khi các chủ thể kinh tế duy trì một tình trạng hối đoái trường hoặc đoản trên bảng tổng kết
tài sản, thì sự thay đổi của tỷ giá ngoại tệ sẽ ảnh hưởng tới giá trị ròng của bảng tổng kết tài
sản, từ đó mà tác động tới tình hình tài chính của các chủ thể này. Điều đó, sẽ điều chinhr các
hành vi chi tiêu hay vay nợ của họ, từ đó mà ảnh hưởng tới tổng cầu và sản lượng.
 Giá cổ phiếu
Khi NHTW mở rộng khối lượng tiền cung ứng M, giá cổ phiếu Pe có xu hướng tăng lên
làm tăng chỉ số q và nhu cầu đầu tư mới. Sản lượng vì thế tăng lên:
M↑ → Pe↑ → q↑ → I↑ → Y↑
 Ảnh hưởng tới thu nhập thường xuyên của công chúng
Mức tiêu dùng thường xuyên của các hộ gia đình phụ thuộc vào nguồn thu nhập thường
xuyên và dài hạn. Một bộ phận của nguồn thu nhập dài hạn là từ tài sản tài chính. Khi M tăng
lên, giá cổ phiếu tăng lên làm tăng nguồn thu nhập dài hạn, kích thích tiêu dùng.
M↑ → Pe↑ → tài sản↑ → tiêu dùng↑ → Y↑
1.2.2.3. Kênh tín dụng
 Ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng tín dụng được cung ứng
Chính sách tiền tệ có thể tác động đến nền kinh tế thông qua hoạt động này theo cơ chế sau:
M↑ → TGNH↑ → tiền vay↑ → I↑ → Y↑
CSTT có thể ảnh hưởng đến nhu cầu chi tiêu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hơn là các
doanh nghiệp lớn.
 Thông qua tác động điều chỉnh bảng tổng kết tài sản
- Ảnh hưởng đến tình trạng rủi ro đạo đức và rủi ro lựa chọn đối nghịch

vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới.
2.2.2. Diễn biến của khủng hoảng tài chính
tại Mỹ
Sau khi bong bóng Dot-com vỡ vào năm 2001 và suy thoái kinh tế hiện rõ sau sự kiện 11
tháng 9, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã có những biện pháp tiền tệ để cứu nền kinh tế nước
này khỏi suy thoái, đó là hạ lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng. Chỉ trong thời gian ngắn
từ tháng 5 năm 2001 đến tháng 12 năm 2002, lãi suất liên ngân hàng giảm 11 đợt từ 6,5%
xuống còn 1,75%.Tín dụng thứ cấp cũng giảm theo lãi suất.
Điều này kích thích sự phát triển của khu vực bất động sản và ngành xây dựng làm động
lực cho tăng trưởng kinh tế. Trong môi trường tín dụng dễ dãi, những tổ chức tài chính đã có
xu hướng cho vay mạo hiểm, kể cả cho những người nhập cư bất hợp pháp vay. Hệ quả là vay
và đi vay ồ ạt nhằm mục đích đầu cơ dẫn tới hình thành bong bóng nhà ở. Năm 2005, có tới
28% số nhà được mua là để nhằm mục đích đầu cơ và 12% mua chỉ để không. Năm này, bong
bóng nhà ở này phát triển đến mức cực đại và vỡ. Từ quý IV năm 2005 đến quý I năm 2006,
giá trị trung vị của giá nhà giảm 3,3%. Thời điểm đó, tổng giá trị lũy tích các khoản tín dụng
nhà ở thứ cấp lên đến 600 tỷ đô la.
Sau khi bong bóng nhà ở vỡ, các cá nhân gặp khó khăn trong việc trả nợ. Nhiều tổ chức
tín dụng cho vay mua nhà gặp khó khăn vì không thu hồi được nợ. Giá nhà ở giảm nhanh
khiến cho các loại giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO - collateralized debt obligations) và
chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS - mortgage-backed security) do các tổ chức
tài chính phát hành bị giảm giá nghiêm trọng. Kết quả là bảng cân đối tài sản của các tổ chức
này xấu đi và xếp hạng tín dụng của họ bị các tổ chức đánh giá đánh tụt. Cuộc khủng hoảng
tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra
Nguyên Chủ tịch FED Alan Greenspan sau này thừa nhận rằng ông đã không nhận thức
hết quy mô của thị trường tín dụng nhà ở thứ cấp.
11
Lãi suất
ngắn hạn
Bất đối
xứng

thống dự trữ liên bang cố gắng giảm mạnh lãi suất liên ngân hàng vào tháng 12/2007 và tháng
2 năm 2008 nhưng không có hiệu quả như mong đợi.
Tháng 3 năm 2008, Ngân hàng dự trữ liên bang New York cố cứu Bear Sterns, nhưng
không nổi. Công ty này chấp nhận để JP Morgan Chase mua lại với giá 10 dollar một cổ
phiếu, nghĩa là thấp hơn rất nhiều với giá 130,2 dollar một cổ phiếu lúc đắt giá nhất trước khi
khủng hoảng nổ ra. Việc Ngân hàng dự trữ liên bang New York cứu không nổi Bear Sterns và
buộc lòng để công ty này bị bán đi với giá quá rẻ đã khiến cho sự lo ngại về năng lực can thiệp
của chính phủ cứu viện các tổ chức tài chính gặp khó khăn. Sự sụp đổ của Bear Stern đã đẩy
cuộc khủng hoảng lên nấc thang trầm trọng hơn.
Tháng 8 năm 2008, đến lượt Lehman Brothers, một tổ chức tài chính vào loại lớn nhất và
lâu đời nhất của Mỹ, bị phá sản. Tiếp sau Lehman là một số công ty khác. Tháng 9 năm 2008,
Thượng viện Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Ổn định Kinh tế Khẩn cấp 2008 cho phép bộ trưởng
Tài chính Hoa Kỳ chi tới 700 tỷ USD cứu nền tài chính của nước này bằng cách mua lại các
khoản nợ xấu của ngân hàng, đặc biệt là các chứng khoán đảm bảo bằng bất động sản.
2.1.3. Hậu quả
 Hệ thống ngân hàng
Nhiều tổ chức tài chính của các nước phát triển, nhất là các nước ở châu Âu, cũng tham gia
vào thị trường tín dụng nhà ở thứ cấp ở Hoa Kỳ. Chính vì vậy, bóng bóng nhà ở của Hoa Kỳ
bị vỡ cũng làm các tổ chức tài chính này gặp nguy hiểm tương tự như các tổ chức tài chính của
Hoa Kỳ. Những nước châu Âu bị rối loạn tài chính nặng nhất là Anh, Iceland, Ireland, Bỉ và
Tây Ban Nha.
Ví dụ như: Tại Anh Northern Rock bị tình trạng đột biến rút tiền gửi và hậu quả là phải
chịu quốc hữu hóa và còn làm căng thẳng các ngân hàng khác của nước này. Cuối năm 2008,
Fortis của Bỉ bắt đầu bị bán dần, chỉ còn lại các bộ phận kinh doanh dịch vụ bảo hiểm. Dexia
chịu khoản lỗ 3,3 tỷ Euro và phải xin Chính phủ Bỉ cho vay để củng cố. Ở Hà Lan, để đảm
bảo hệ số an toàn vốn, ING Group đã phải xin Chính phủ Hà Lan cho vay. Ở Đức, ngày từ đầu
12
năm 2008, người ta phát hiện ra rằng BayernLB đã chịu những khoản lỗ lớn do tham gia vào
thị trường tín dụng nhà ở thứ cấp ở Hoa Kỳ. Sau đó, ngân hàng này đã phải cầu xin sự giúp đỡ
của Chính phủ Liên bang Đức.

17/02/09, gói kích cầu khổng lồ đầy tham vọng trị giá 787 tỷ USD của tân tổng thống Mỹ
Obama chính thức được k kết thông qua một dự luật về kế hoạch phục hồi kinh tế.
Không chỉ Chính phủ, Quốc hội mà cả Cục dự trữ liên bang Mỹ cũng có vai trò rất lớn
trong công cuộc giải cứu nền kinh tế. Ngay khi khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra, Fed
bắt đầu can thiệp bằng cách hạ lãi suất và tăng mua MBS. Đến khi tình hình phát triển thành
khủng hoảng tài chính từ tháng 8 năm 2007, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed) đã tiếp tục
tiến hành các biện pháp nới lỏng tiền tệ để tăng thanh khoản cho các tổ chức tài chính. Cụ thể
là lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng đã được giảm từ 5,25% qua 6 đợt xuống còn 2%
chỉ trong vòng chưa đầy 8 tháng (18/9/07-30/4/08). Lãi suất này sau đó còn tiếp tục giảm và
đến ngày 16/12/2008 chỉ còn 0,25%, mức lãi suất gần 0 hiếm thấy.
13
Fed còn thực hiện nghiệp vụ thị trường mở (mua lại các trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ mà
các tổ chức tài chính nước này có) và hạ lãi suất tái chiết khấu. Giữa tháng 12 năm 2008, Fed
tuyên bố có kế hoạch thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ mặt lượng.
Tháng 12 năm 2007, Chính phủ Hoa Kỳ đã lập ra và giao cho Fed chủ trì chương trình
Term Auction Facility để cấp các khoản vay ngắn hạn có kỳ hạn từ 28 đến 84 ngày theo lãi
suất cao nhất mà các tổ chức tài chính trả qua đấu giá. Tính đến tháng 11 năm 2008, đã có 300
tỷ dollar được FED đem cho vay theo chương trình này. FED còn tiến hành cho vay thế chấp
đối với các tổ chức tài chính với số tiền tổng cộng tới 1,6 nghìn tỷ tính đến tháng 11 năm
2008.
2.2.2. Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BOJ)
Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới cũng không tránh khỏi những tác động tiêu
cực của cuộc khủng hoảng. Theo nhiều chuyên gia, có một số yếu tố đặc biệt giúp Nhật Bản
giảm thiểu khó khăn đối với mình. Thứ nhất là lãi suất vẫn ở mức thấp, nên chi phí nợ thấp
hơn nhiều so với các chính phủ khác. Điều này có được một phần là do chính sách tiền tệ của
Nhật Bản. Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BOJ) đã hạ lãi suất qua đêm liên ngân hàng
(OCR) xuống mức 0,1% từ cuối năm 2008 để đối phó với cuộc khủng hoảng. Thậm chí cả
trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính toàn cầu diễn ra, để kích thích nhu cầu, BOJ
cũng đã giữ OCR ở mức bằng không hoặc gần bằng không trong nhiều năm. Trong một thập
kỷ qua, OCR của Nhật Bản chưa bao giờ vượt quá mức 0,5%, một mức rất thấp so với hầu hết

thời điểm hiện tại ít liên quan tới tình trạng cho vay dưới chuẩn như ở Hoa Kỳ nen khu vực
này hầu như không chịu những tác động mạnh như đã từng xảy ra ở các quốc gia châu Á thời
kỳ khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997. Chính điều này đã giúp chính phủ Trung Quốc
đưa ra hướng giải quyết hơi khác biệt so với Mỹ hay Châu Âu khi chưa can thiệp quá sâu vào
hệ thống ngân hàng trong nước.
2.3. Bài học kinh nghiệm về điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Như vậy, thông qua việc nghiên cứu các CSTT mà Chính phủ và NHTW các quốc gia điển
hình trên thế giới trong giai đoạn khủng hoảng chúng ta có thể thấy rõ rằng: Tùy theo diễn
biến quá trình suy giảm kinh tế của từng quốc gia và đặc điểm kinh tế của quốc gia đó mà
Chính phủ và NHTW các nước có thể ban hành các chính sách, giải pháp thích hợp và linh
hoạt. Cụ thể đó là:
Thắt chặt chế độ tiền tệ: Đây là biện pháp được dùng đầu tiên và chính yếu trong tình trạng
nền kinh tế đang phát triển quá nóng, lạm phát gia tăng. Các ngân hàng cho vay quá nhiều dẫn
đến tình trạng thiếu lượng vốn cần thiết để duy trì hoạt động hay nói cách khác là thiếu tính
thanh khoản trong hệ thống ngân hàng. Ngân hàng thể hiện sức khỏe của nền kinh tế, khi nó
ốm yếu có nghĩa là nền kinh tế đang lâm nguy.
Tiết kiệm chi tiêu: Trong lúc khó khăn, tiết tiệm được coi là quốc sách. Tại sao mỗi khi
khó khăn con người mới nghĩ đến tiết kiệm như một giải pháp chứ không phải là một thói
quen? Nếu mọi người đừng tiêu xài hoang phí và sử dụng tiền không phải của mình đầu tư
nhằm sinh lời ảo thì có lẽ đã không xảy ra khủng hoảng kinh tế. Khi khủng hoảng, con người
mới nhận thấy rõ nhất giá trị thực của nền kinh tế, giá trị thực tài sản của mình và bắt đầu biết
quý trọng, tiết kiệm những đồng tiền mồ hôi nước mắt khi chi tiêu.
Cơ cấu lại danh mục đầu tư: Hơn lúc nào hết, trong thời kỳ khủng hoảng, nền kinh tế suy
thoái, các nhà đầu tư và tổ chức càng cần phải xem xét lại danh mục đầu tư, duy trì những
khoản đầu tư mang lại hiệu quả cao, và cắt giảm một số khoản không cần thiết. Điều quan
trọng là nhà đầu tư cần phải biết đâu là danh mục cần loại bỏ và đâu là danh mục nên giữ lại,
để đầu tư sao cho hiệu quả và hợp lý, tránh ít nhất những thiệt hại có thể xảy ra. Thông
thường, các nhà đầu tư sẽ chuyển đổi từ những danh mục đầu tư đã phát triển nóng như bất
động sản, chứng khoán sang những khoản mục an toàn hơn là vàng, đôla, trái phiếu Chính phủ
và tiết kiệm.

khủng hoảng đó, tuy với mức độ không lớn như các nước, khu vực trên nhưng cũng gặp phải
những khó khăn nhất định.
Vậy những ảnh hưởng đó là gì và mức độ ra sao, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu trong
phần này.
Trước tiên cần phải thừa nhận rằng kinh tế Việt Nam tuy đã chính thức hội nhập với thế
giới nhưng vẫn còn ở mức độ chưa sâu. Đây có thể coi là một điều may mắn (dù quả thực đó
cũng là một trong những hạn chế lớn) đối với một nền kinh tế đang phát triển như nước ta. Do
chưa hội nhập sâu với thế giới nên trước những khó khăn của các TCTD ở phương Tây, các
TCTD của chúng ta dường như chưa bị ảnh hưởng rõ rệt lắm. Có chăng chỉ là với những chi
nhánh của các TCTD nước ngoài tại Việt Nam. Không những vậy, với những bất ổn trên thị
trường tài chính thế giới hiện nay thì Việt Nam đang được nhắc tới như là một địa điểm đầu tư
lý tưởng lại an toàn cho giới đầu tư quốc tế. Điều đó được thể hiện qua một lượng lớn vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài FDI đăng kí vào Việt Nam trong thời gian trước năm 2008 và đang
tăng lên nhanh chóng.Vối những dự án đầu tư bất động sản, khu nghỉ mát cao cấp, đang cho
chúng ta có thêm nhiều lựa chọn cho phát triển nền kinh tế. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải đối
mặt với những khó khăn có nguồn gốc từ những bất ổn trên thị trường tài chính thế giới hiện
nay.
3.1.1 Về bất động sản đầu tư và thu hút FDI
16
Thị trường BĐS có mối liên hệ mật thiết với thị trường vốn và tài chính. Hoạt động đầu tư
kinh doanh BĐS đòi hỏi một lượng vốn rất lớn. Hiện nay tiềm lực tài chính của hầu hết các
doanh nghiệp kinh doanh BĐS của Việt Nam khá hạn hẹp, phần lớn phụ thuộc vào nguồn vốn
bên ngoài mà chủ yếu là vốn vay của các ngân hàng và tổ chức tín dụng. Đây là một khó khăn
của doanh nghiệp kinh doanh BĐS trong điều kiện khủng hoảng tài chính hiện nay.
Cuối năm 2007 tình trạng đầu cơ BĐS đã đẩy giá BĐS ở Việt Nam lên quá cao so với giá
trị thực. Thị trường đã lên cơn sốt ảo, cầu ảo tăng cao. Bước sang năm 2008 và năm 2009 nền
kinh tế Việt Nam vẫn gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, buộc người dân
phải giảm chi tiêu, thị trường BĐS đóng băng, giá BĐS đã giảm đến 40%, các doanh nghiệp
kinh doanh BĐS rơi vào khó khăn, không bán được sản phẩm lại phải chịu lãi suất cao do
chính sách thắt chặt tiền tệ làm lãi suất ngân hàng tăng cao, nhất là vào cuối năm 2008.

thì có thể dẫn tới lạm phát trong nước nếu đồng VND không lên giá, và khi đó người tiêu dùng
chịu giá cả tăng do nhập khẩu. Nhưng nếu tỷ giá VND/USD giảm (tức là VND lên giá so với
17
USD) ở mức không phù hợp sẽ làm cho xuất khẩu vào Mỹ của các doanh nghiệp bị lỗ. Trong
khi để cạnh tranh bán hàng vào Mỹ, nhiều nước có mặt hàng tương đồng cũng đã giảm giá.
Nhìn vào thực tế, năm 2008 mức xuất khẩu của Việt Nam vẫn tăng trưởng ngoạn mục (do
tăng về số lượng và cả giá cả). Nhưng sáu tháng đầu năm 2009 tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ
đạt 27,6 tỷ USD, kém xa so với mục tiêu đề ra (mục tiêu đặt ra cho cả năm là 64,75 tỷ USD)
giảm tới 10,15% so với cùng kỳ (mục tiêu là tăng 13%).
Hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đều suy giảm: Nếu so cùng kỳ, 6 tháng đầu năm
2009 hàng dệt nay giảm 1,3%; giày dép giảm 8,7%; thuỷ hải sản giảm 10,7%. Nếu năm 2008
giá xuất khẩu rất cao thì năm nay giá các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều giảm
sút nghiêm trọng: giá dầu thô giảm 53%; giá cà phê giảm 28,3% và còn có xu hướng giảm
tiếp, giá cao su giảm 44%; giá gạo giảm hơn 20% v.v.
Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, nhu cầu nhập khẩu hàng Việt Nam ở hầu hết
các thị trường chính đều giảm như thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc, Australia
Hơn nữa để chống trọi với tình trạng thiếu hụt phương tiện thanh toán và bảo vệ các doanh
nghiệp trong nước, ở hầu hết các thị trường này đều đang gia tăng các biện pháp bảo hộ, từ
chối đơn hàng, tung tin thất thiệt để hạ uy tín của hàng Việt Nam.
3.1.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tình trạng thất nghiệp
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2009 phụ thuộc nhiều vào tăng trưởng kinh tế thế giới,
đặc biệt là các nền kinh tế Mỹ, Nhật Bản, các nước EU, do đây là đối tác đầu tư và thương mại
quan trọng của Việt Nam trong thời gian qua. Mức độ suy giảm cũng như triển vọng phục hồi
của các nền kinh tế lớn trên thế giới sẽ là yếu tố quan trọng đến kinh tế Việt
Có hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự suy giảm tốc độ tăng trưởng.
- Thứ nhất, kim ngạch xuất khẩu giảm do giá giảm và nhu cầu tại các thị trường truyền
thống giảm. nhưng nhờ Việt Nam đã đa dạng hoá cao thị trường xuất khẩu và các mặt hàng
xuất khẩu chủ lực vẫn giữ được năng lực cạnh tranh nên tăng tốc độ xuất khẩu có khả năng đạt
11%.
- Thứ hai, việc thu hút vốn FDI giảm

tăng lên tổng cộng hơn 40% thành 16-17000 vào năm 2008). Vấn đề chống làm phát trở thành
một trong những vấn đề được chính phủ ưu tiên hàng đầu, và lạm phát thường giữ được ở mức
dưới 10%. Tuy nhiên lạm phát của năm 2008 đa lên đến hơn 22%
3.1.5 Chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi phản ánh rõ nhất nhứng biến động của tình hình chính trị,
kinh tế đất nước.
Sự vận động lên xuống của các chỉ số chứng khoán cũng như giá các loại cổ phiếu có tác
động ngày càng lớn hơn tới đời sống xã hội. Đến cuối năm 2008, giá trị các chỉ số chứng
khoán giảm tới 70% so với đầu năm. Ngay một số cổ phiếu thuộc nhóm “blue-chip” còn có
mức sụt giảm lớn hơn nhiều, như SSI (- 84%) và FPT (- 78%).
Nửa đầu năm 2008, chỉ số chứng khoán tụt dốc nhanh chóng. Đầu tháng 1-2008, Vn-Index
còn trên 900 điểm, tới đầu tháng 6-2008, hàn thử biểu kinh tế lần đầu rơi xuống dưới ngưỡng
400 điểm. Thị trường tiếp tục giằng co trong quý
III-2008. Từ sau tháng 10-2008, thị trường chứng khoán liên tục giảm điểm. Tới ngày 11-
12-2008, Vn-Index chỉ còn 288 điểm. Tại Hà Nội, HaSTC-Index còn 101 điểm. Trước đó, thị
trường Hà Nội thậm chí còn lùi về sau vạch xuất phát, tụt xuống 97,61 điểm khi kết thúc phiên
giao dịch ngày 27-11-2008.
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thị trường bán lẻ trong nước có nhiều lo ngại trước nguy
cơ thâm nhập của những “cá mập” quốc tế. Không chỉ giới kinh doanh, mà các nhà nghiên cứu
và quản lý chính sách đều rất băn khoăn cho sự tồn tại của hệ thống bán lẻ trong nước trước
không khí khẩn trương chiếm lĩnh thị trường của các trung tâm lớn như Big C, Metro hay
Parkson và đang “lăm le” là những người khổng lồ như Carrefour và Walmart. Thế nhưng,
cơn sóng lớn đầu tiên lại ập xuống các thị trường tín dụng, tiền tệ và chứng khoán.
Như chúng ta đã biết, từ cuối năm 2007, hệ thống tài chính thế giới sa vào khủng hoảng
nghiêm trọng. Đây cũng là điểm bắt đầu của quá trình sụt giảm trên thị trường chứng khoán
Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế trong nước cũng gặp nhiều khó khăn với giá cả tăng cao, tín
dụng khan hiếm ở mức lãi suất cao, thanh khoản giảm trên nhiều thị trường, các nhà đầu tư
Việt Nam bắt đầu ngắm chỉ số DJIA và Nikkei để đặt giá cho phiên giao dịch tiếp theo.
3.2. Thực trạng giải pháp của Chính phủ, Nhà nước Việt Nam nhằm ứng phó với
cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ

nhưng vẫn đảm bảo tính thanh khoản cho nền kinh tế, điều hành linh hoạt tỷ giá theo tín hiệu
thị trường. Đến cuối năm 2008, để chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế, chính sách tiền tệ
thắt chặt được chuyển dần sang nới lỏng một cách thận trọng.
Tính chung cả năm, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần tăng và 5 lần giảm lãi suất cơ bản. Lãi
suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu cũng có tần suất điều chỉnh tương ứng. Cơ chế điều
hành tỷ giá ghi nhận những điều chỉnh chưa từng có trong lịch sử. Biên độ có 3 lần nới rộng,
từ +/-1% lên +/-3%; tỷ giá bình quân liên ngân hàng có 2 lần điều chỉnh mạnh, vào tháng 6 và
cuối tháng 12.
Bảng 1: Điều hành các công cụ CSTT của NHNN Việt Nam năm 2008
Các công cụ
Lần
1
Lần
2
Lần
3
Lần
4
Lần
5
Lần
6
Lần
7
Lần 8
20
I. Lãi suất điều hành ↑ ↑ ↑ ↓ ↓ ↓ ↓ ↓
1. Lãi suất cơ bản 8,75 12 14 13 12 11 10 8,5
2. Lãi suất tái cấp vốn 7,5 13 15 14 13 12 11 9,5
3. Lãi suất tái chiết khấu 6 11 13 12 11 10 9 7,5

3%
+/-
3%
Nguồn: Vụ Chính sách tiền tệ NHNN
Theo chỉ thị của Chính phủ, trong năm 2009 NHNN Việt Nam đã chuyển hướng điều hành
từ ưu tiên kiểm soát lạm phát trong năm 2008 sang chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế trong
6 tháng đầu năm 2009. Từ nửa cuối năm 2009, trước tình hình suy giảm kinh tế đã được ngăn
chặn, giá cả có xu hướng tăng, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá theo hướng nới
lỏng, thận trọng, hỗ trợ thanh khoản tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng
hiệu quả. Các giải pháp điều hành chủ yếu là: Tích cực triển khai các cơ chế hỗ trợ lãi suất
theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của
ngành ngân hàng trong năm 2009; điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ phù hợp với diễn biến
và mục tiêu kinh tế vĩ mô, thực hiện đồng bộ các giải pháp đã đặt ra.
Bảng 2: Điều hành các công cụ CSTT của NHNN Việt Nam
năm 2009 và đầu năm 2010
Các công cụ 2008 Lần 2 Lần 3 Lần 4 Lần 5
I. Lãi suất điều hành ↓ ↓ ↓ ↓ ↑
1. Lãi suất cơ bản 8,5 7 7 7 8
2. Lãi suất tái cấp vốn 9,5 8 7 7 8
3. Lãi suất tái chiết khấu 7,5 6 5 5 6
4. Lãi suất cho vay tối đa 12,75 10,5 10,5 10,5 10,5
21
II. Tỷ lệ Dự trữ bắt buộc
1. Không kỳ hạn và dưới 12 tháng
+ VND 5 5 3 3 3
+ Ngoại tệ 7 7 7 7 4
2. Từ 12 tháng trở đi
+ VND 1 1 1 1 1
+ Ngoại tệ 5 3 3 3 2
III. Lãi suất cho vay qua đêm 9,5 8 7 7 7

22
26.8
25.2
14.11
15.67
19.39
21.42
27.04
28.32
27.9
26.72
24.22
22.97
6.58
9.23
11.25
17.48
14.78
0
5
10
15
20
25
30
T1/2008
T2/2008
T3/2008
T4/2008
T5/2008

như sau " Thành công nhất trong các thành công là chính sách tiền tệ. Dưới sự chỉ đạo của
Chính phủ, chính sách tiền tệ thông qua điều hành lãi suất tiền gửi và lãi suất dự trữ bắt buộc
kịp thời đã giúp ngân hàng vượt qua được thời kỳ sóng gió đó. Đến bây giờ cơ bản các ngân
hàng hoạt động ổn định, lãi suất huy động và lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng thương
mại cổ phần đã dần trở lại gần như cuối năm 2007. Chính sách tất nhiên chưa thể nói là cực
chuẩn nhưng việc điều hành đã đúng quy luật của kinh tế thị trường. Nền tài chính quốc gia
không sụp đổ, bảo đảm cho sự ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội. Đó là mối quan hệ nhân
quả của chính sách tiền tệ đúng".
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả của các công cụ của CSTT
23
Trong năm 2010, nhìn chung kinh tế thế giới chưa thực sự thoát khỏi khủng hoảng và còn
tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác động đến kinh tế nước ta. Vì vậy, Việt Nam không thể chủ
quan với những dấu hiệu tích cực vừa qua của nền kinh tế. Từ bài học của các nước trên thế
giới cũng như dự báo tình hình biến động năm 2010, nhóm đưa ra những giải pháp như sau để
nâng cao hơn nữa hiệu quả của CSTT như sau:
3.3.1 Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện các công cụ của CSTT:
Điều hành chính sách tiền tệ cần sự nhất quán, xuyên suốt, luôn bám sát nhu cầu thị
trường, nhạy cảm với các tín hiệu của thị trường và thực hiện “mệnh lệnh” của thị trường. Nên
hạn chế tối đa việc sử dụng các mệnh lệnh mang tính hành chính của cơ quan quản lý, sử dụng
nhiều hơn những công cụ của CSTT như nghiệp vụ thị trường mở, chiết khấu, tái chiết khấu,
dự trữ bắt buộc… Cụ thể:
 Tự do hoá công cụ lãi suất: Để NHTW thực sự là người cho vay cuối cùng trên thị
trường liên ngân hàng, cần tiếp tục đổi mới cơ chế điều hành lãi suất theo hướng : sử dụng
lãi suất tái chiết khấu như lãi suất sàn; lãi suất cho vay qua đêm và lãi suất tái cấp vốn làm
lãi suất trần trên thị trường liên ngân hàng nhằm tác động đến việc huy động vốn và cho
vay của các ngân hàng thương mại trên thị trường.
 Tăng cường hiệu quả của cơ chế truyền tải tiền tệ thông qua: tăng tỷ lệ tiếp cận tín
dụng, nhất thể hóa thị trường lãi suất, tăng cường các biện pháp kết hối ngoại tệ & vàng
nhằm giảm tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế.
 Điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt theo quan hệ cung cầu trên thị trường, trong mối

ngũ cán bộ NHNN; có chế độ đãi ngộ hợp lý để khuyến khích thu hút nhân tài; hiện đại
hoá công nghệ quản lý trong việc tổng hợp, thống kê, phân tích, dự báo phục vụ cho việc
điều hành chính sách tiền tệ.
 Đẩy mạnh sự phát triển của thị trường tiền tệ. Tiếp tục tạo hàng hoá và phát triển
nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ; mở rộng thành viên tham gia thị trường; nâng cao vai trò
điều tiết, hướng dẫn của NHNN trên thị trường tiền tệ; hoàn thiện hành lang pháp lý tạo
điều kiện cho thị trường tiền tệ phát triển. Sự phát triển của thị trường tiền tệ sẽ là kênh
dẫn có hiệu quả trong cơ chế truyền tải các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.
 Nâng cao một bước chất lượng công tác nghiên cứu, dự báo; nhanh nhạy hơn trong
phản ứng và đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, phát hiện vi phạm và triệt để trong xử lý. Đó là
chìa khóa tạo ra niềm tin vào chính sách điều hành của cơ quan quản lý đối với dư luận.
 Hoàn thiện hệ thống thông tin thống kê của nghành ngân hàng: nhằm mục đích phục
vụ cho các quyết định chính sách của NHTW kịp thời.
 Duy trì tăng trưởng hợp lý và bảo đảm an sinh xã hội: Tăng cường các nguồn vốn đầu
tư cho phát triển sản xuất và xuất khẩu, kích cầu đầu tư, kích cầu tiêu dùng, các chính sách
tài chính cho phục vụ nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu vùng xa….tránh tình trạng chênh
lệch quá cao về sự phát triển giữa các vùng miền
 Linh hoạt khi kết hợp chính sách tiền tệ với chính sách tài chính và 1 số chính sách
kinh tế vĩ mô khác: trong điều kiện dòng vốn đầu tư nước ngoài chảy vào Việt Nam nhiều
như một số năm trước đây (trong đó có dòng vốn ngắn hạn), nếu không kiểm soát tốt dòng
vốn này, sẽ ảnh hưởng đến việc chống lạm phát. Do đó, cần có sự phối hợp chặt giữa chính
sách tiền tệ với chính sách tài chính và chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài : đánh
thuế hoặc yêu cầu ký quỹ đối với dòng vốn ngắn hạn vào Việt Nam. Hiện nay trong bối
cảnh kinh tế thế giới sụt giảm, thì việc điều hành chính sách tiền tệ trong quan hệ phối hợp
chính sách tài chính nhằm mục tiêu góp phần ngăn chặn nguy cơ sụt giảm nền kinh tế
trong nước, nhưng đồng thời kiểm soát được lạm phát.
 Hành động của bản thân Chính phủ: giảm bội chi ngân sách, đẩy mạnh xuất khẩu, hạn
chế nhập siêu qua đó cải thiện cán cân thanh toán, cán cân vãng lai, cán cân thương mại,
giảm lãng phí trong đầu tư nhằm cải thiện hệ số ICOR, đơn giản hóa thủ tục hành chính;
củng cố thị trường nội địa./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status