Công cụ dự trữ bắt buộc và việc điều hành chính sách tiền
tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông qua công cụ dự
trữ bắt buộc trong thời gian qua
Giảng viên: Th.S Nguyễn Thị Hai Hằng
Nhóm 7:
Trương Mi Mi K104010049
Đỗ Thu Hà K104010019
Vũ Thu Trang K104010085
Bùi Thu Huyền K1040100
Phan Hoài Bảo K104010005
Trần Bích Nhi K104010062
Trương Thành Trung K1040100
Trần Bích Ngọc K104010057
1
Phần I: Công cụ dự trữ bắt buộc
I. Lý thuyết chung về dự trữ bắt buộc:
1. Khái niệm: Dự trữ bắt buộc (DTBB) là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên
một tài khoản tiền gửi không hưởng lãi tại NHTW. Nó được xác định bằng một tỷ lệ phần
trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi tại một khoảng thời gian nào đó. Mức DTBB được
quy định khác nhau căn cứ vào thời hạn tiền gửi, vào quy mô và tính chất hoạt động của
NHTM.
* Đối tượng thực hiện DTBB:
- Các tổ chức tín dụng có huy động tiền gửi
- Loại tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, tiềm gửi có kỳ hạn
* Cơ chế vận hành: Việc thay đổi DTBB ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân tiền tệ trong
cơ chế tạo tiền của các NHTM.
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi nếu:
- NHTW giảm các yêu cầu về dự trữ bắt buộc (giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc) → vốn
khả dụng của các tổ chức tín dụng tăng → hệ số nhân tiền tăng, cơ sở tiền tệ không
thay đổi → lượng tiền cung ứng tăng.
- NHTW tăng các yêu cầu về dự trữ bắt buộc (tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc) → vốn khả
dụng của nền kinh tế.
3
- Đối với lãi suất: Dự trữ bắt buộc có thể tác động đến lãi suất bằng hai cách:
+ Thứ nhất, do dự trữ bắt buộc có thể thu mở rộng hay thu hẹp tiềm năng tín dụng
cho nên lãi suất thị trường cũng vì thế mà có thể giảm xuống hoặc tăng lên.
+ Thứ hai, hiệu ứng của tác động trên càng tăng lên khi phần dự trữ bắt buộc của
các ngân hàng ở NHTƯ không được tính lãi hoặc mức lãi không đáng kể. Khi dự
trữ bắt buộc tăng lên thì lãi thu được từ hoạt động cho vay giảm xuống làm giảm
lợi nhuận của các NHTM. Điều này được các ngân hàng khắc phục bằng cách điều
chỉnh tăng lãi suất cho vay trên thị trường tín dụng.
- Đối với khối lượng tiền cung ứng
Khối lượng tiền cung ứng thay đổi là kết quả tất yếu của việc thay đổi tiềm năng
tín dụng, thay đổi lãi suất trên thị trường, nó cũng là mục tiêu cuối cùng mà NHTƯ
muốn đạt được khi điều chỉnh dự trữ bắt buộc. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ được nâng
lên nếu NHTƯ thực hiện việc thắt chặt tiền tệ, hướng đến mục tiêu kiểm soát lạm
phát và ngược lại, để mở rộng tiền tệ nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản
xuất, tạo thêm công ăn, việc làm cho người lao động thì NHTƯ sẽ hạ tỷ lệ dự trữ
bắt buộc. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động ngược chiều đến khối lượng tiền cung ứng
thể hiện qua công thức tính hệ số nhân tiền:
Hệ số tạo tiền =
Có thể nói sự tác động của tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với khối lượng tiền trong
nền kinh tế là khá toàn diện, nó tác động rất mạnh mẽ không chỉ đến quy mô, khối
lượng tín dụng mà cả đối với lãi suất tín dụng. Mức độ tác động không đơn giản
chỉ làm tăng hay giảm đơn thuần mà làm thay đổi theo số lần về tiền trong lưu
thông.
4
* Các căn cứ để xác định tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
- Tính chất kỳ hạn của mỗi loại tiền gửi - tùy vào tính chất kỳ hạn của tiền gửi mà
nghĩa vụ dự trữ bắt buộc khác nhau; thông thường kỳ hạn càng dài thì mức độ ổn
định càng cao và độ rủi ro thanh khoản càng thấp và vì thế, tỷ lệ dự trữ bắt buộc
* Các TCTD phải duy trì đầy đủ dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nước trong kỳ
duy trì dự trữ bắt buộc theo nguyên tắc sau:
Số dư bình quân tài khoản tiền gửi thanh toán của tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà
nước không thấp hơn tiền dự trữ bắt buộc trong kỳ.
Số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước hàng
ngày trong kỳ duy trì dự trữ bắt buộc có thể thấp hơn hoặc cao hơn tiền dự trữ bắt buộc
của kỳ đó.
* Cách tính dự trữ bắt buộc cho kỳ duy trì dự trữ bắt buộc
Kỳ xác định dự trữ bắt buộc là khoảng thời gian của tháng trước kể từ ngày 01 đầu
tháng đến hết ngày cuối cùng của tháng.
Kỳ duy trì dự trữ bắt buộc là khoảng thời gian của tháng hiện hành kể từ ngày 01 đầu
tháng đến hết ngày cuối cùng của tháng.
- Cách tính dự trữ bắt buộc trong kỳ duy trì dự trữ bắt buộc:
6
Tiền dự trữ bắt
buộc của từng loại
tiền gửi trong kỳ
duy trì dự trữ bắt
buộc
=
Số dư tiền gửi huy động
bình quân từ ngày 01 đầu
tháng đến ngày cuối cùng
trong tháng của từng loại
tiền gửi phải dự trữ bắt
buộc
x
Tỷ lệ dự trữ bắt
buộc tương ứng của
từng loại tiền gửi
ngoại tệ vào tài khoản tiền gửi thanh toán của Hội sở chính tổ chức tín dụng theo lãi suất
tiền gửi không kỳ hạn do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ.
2. Ngân hàng Nhà nước phạt bằng tiền phần thiếu dự trữ bắt buộc của tổ chức tín dụng
như sau:
a. Trường hợp tổ chức tín dụng thiếu dự trữ bắt buộc lần đầu trong năm sẽ chịu hình
thức xử phạt cảnh cáo.
b. Trường hợp tổ chức tín dụng thiếu tiền dự trữ bắt buộc lần thứ 2 trở đi trong năm,
Ngân hàng Nhà nước xử phạt bằng tiền phần thiếu đối với Hội sở chính của các tổ chức
tín dụng như sau:
Đối với phần thiếu dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam, tổ chức tín dụng chịu phạt
theo lãi suất bằng 150% lãi suất tái cấp vốn tại ngày làm việc cuối cùng của kỳ duy trì dự
trữ bắt buộc của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng, tính trên phần thiếu
hụt cho cả kỳ duy trì dự trữ bắt buộc
Đối với phần thiếu tiền dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, tổ chức tín dụng chịu phạt theo
lãi suất bằng 150% lãi suất đô la Mỹ trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng Singapore
(SIBOR) kỳ hạn 3 tháng được công bố vào ngày làm việc cuối cùng của kỳ duy trì dự trữ
bắt buộc, tính trên phần thiếu hụt cho cả kỳ duy trì dự trữ bắt buộc.
Phần II: Tình hình dự trữ bắt buộc ở Việt Nam
Để khuyến khích một số NHTM cho vay nông nghiệp và nông thôn ngày 08/12/2010,
NHNN đã ban hành các thông báo số 457; 458; 459; 460; 461 về việc áp dụng tỷ lệ dự trữ
bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng có tỷ trọng cho vay nông nghiệp và nông thôn cao
theo Thông tư 20/2010/TT-NHNN ngày 29/9/2010 của NHNN. Theo đó, Quỹ tín dụng
nhân dân Trung ương được áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 1/20 so với tỷ lệ dự trữ bắt
8
buộc thông thường; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, NHTM
cổ phần Quốc Tế Việt Nam, NHTM cổ phần Kiên Long, NHTM cổ phần Mê Kông được
áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 1/5 so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường. Với quy
định này NHNN đã bổ sung thêm một cơ sở mới cho việc xác định tỷ lệ dự trữ bắt buộc,
đó là tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn tùy thuộc vào đối tượng đầu tư của các NHTM.
Bảng dưới thể hiện sự thay đổi của tỉ lệ dự trữ từ thời điểm 06/01/2007 đến nay của
9
tăng từ từ, không cần tạo sự bất ngờ và nếu cần, vẫn áp dụng việc trả lãi cho dự trữ bắt
buộc.
* Giải pháp đề xuất:
NHNN cần phải có cơ chế quản lý dự trữ bắt buộc thích hợp để tạo môi trường cạnh
tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các tổ chức tín dụng. Nên mở rộng đối tượng áp dụng
quy chế dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đưa ra phải phù hợp với diễn biến thị
trường tiền tệ, với mục tiêu chính sách tiền tệ và đặc điểm cụ thể của các tổ chức tín dụng
trong toàn bộ hệ thống tổ chức tín dụng ở VN.
Cần phải có biện pháp tăng cường kiểm tra việc chấp hành dự trữ bắt buộc, đi đôi với
việc xữ phạt nghiêm các trường hợp vi phạm qui chế dự trữ để đảm bảo sự lành mạnh của
hệ thống tài chính, ngân hàng thực hiện tốt mục tiêu CSTT.
NHNN nên có biện pháp khuyến khích các NHTM thực hiện tốt các quy chế dự trữ
như: quy định số tiền gửi phải chịu qui chế dự trữ bắt buộc phù hợp, tiếp tục trả tiền lãi
cho số tiền gửi dư thừa của các tổ chức tín dụng với mức lãi suất phù hợp với khả năng
tài chính NHNN.
Trong thời gian trước mắt, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cần
phải giảm bớt ở mức độ phù hợp để tạo điều kiện cho các NHTM thúc đẩy quá trình huy
động và cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế.
Trong tương lai, khi thị trường tiền tệ, thị trường vốn đã phát triển, các công cụ khác
có thể phát huy tác dụng một cách mạnh mẽ thì ngân hàng Nhà nước nên có dự kiến giảm
tỷ lệ DTBB đối với các NHTM để họ được linh động, mạnh dạn hơn trong hoạt động
kinh doanh của mình.
10
_____♠♦♪♥۞۞♥♪♦♠_____
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính, Nguyễn Văn Ngọc, NXB Đại học Kinh
tế quốc dân
- Nguyễn Thị Nhung: “Có thể trả lãi cho dự trữ bắt buộc?”, Tạp chí Ngân hàng số
29/2008