các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam - thực trạng và giải pháp hoàn thiện - Pdf 22

1
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
Chương I: Lý luận cơ bản về Ngân hàng Trung ương và chính sách tiền
tệ của Ngân hàng Trung ương 3
1.1 Ngân hàng Trung ương 3
1.1.1 Lịch sử phát triển hệ thống ngân hàng và sự ra đời của Ngân hàng
trung ương 3
1.1.2 Chức năng của Ngân hàng Trung ương 7
1.1.3 Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 10
1.2 Chính sách tiền tệ 14
1.2.1 Khái niệm và vai trò của chính sách tiền tệ 14
1.2.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 15
1.2.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ 17
1.3 Kinh nghiệm sử dụng công cụ chính sách tiền tệ của một số nước trên
thế giới 26
1.3.1 CSTT của Ngân hàng nhân dân Trung Quốc (PBC) 26
1.3.2 CSTT của Thái Lan 30
1.3.3 Bài học kinh nghiệm 32
Kết luận chương I 34
2
Chương II: Thực trạng sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 2000 - 2011 35
2.1 Khái quát về điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam giai đoạn 2000 -

3.3 Điều kiện cho thực thi chính sách tiền tệ 112
KẾT LUẬN 119
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
4
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của Đề tài nghiên cứu:
Nói đến chính sách tiền tệ là nói đến một hệ thống các biện pháp điều
tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
bởi nó có tác động mạnh mẽ nhiều mặt đến các biến số vĩ mô như: tốc độ tăng
trưởng kinh tế, lạm phát, công ăn việc làm, Để đạt được các mục tiêu tăng
trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát, hạn chế thất nghiệp thì việc sử dụng các
công cụ của chính sách tiền tệ có vai trò cơ bản, quyết định.
Sau hơn 30 năm tiến hành đổi mới chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã đạt được
những thành tựu đáng kể, trong đó, có vai trò tác động của việc thực hiện các
chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, hoạt động tiền tệ - tín dụng tại Việt Nam còn
nhiều hạn chế, bất cập dẫn đến tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức cao, đồng nội tệ mất
giá Do đó, đòi hỏi việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ phải có
sự điều chỉnh linh hoạt để các hoạt động tiền tệ - tín dụng đáp ứng được yêu
cầu của thực tiễn.
Do vậy, đề tài: “Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” luôn mang
tính thời sự, cấp thiết trong từng thời điểm.
Mục đích nghiên cứu của Đề tài: Căn cứ vào cơ sở lý luận, những phân
tích đánh giá thực trạng điều hành các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 – năm 2011, rút ra
những mặt được, hạn chế yếu kém, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà

và trao đổi hàng hóa của xã hội đã phát triển ở mức độ cao. Quá trình hoàn
thiện các nghiệp vụ ngân hàng và sự ra đời một ngân hàng hoàn chỉnh kéo dài
hàng nghìn năm, bắt đầu từ hoạt động ngân hàng sơ khai vào khoảng 3500
năm trước Công nguyên cùng với sự khởi đầu của các thiết chế tổ chức xã
hội. Có thể chia quá trình phát triển hệ thống ngân hàng thành các giai đoạn
chủ yếu sau:
1.1.1.1- Thời kỳ hoạt động của các ngân hàng sơ khai
Từ năm 3500 trước CN đến 1800 trước CN là giai đoạn các ngân hàng
sơ khai. Nghiệp vụ ban đầu của nghề kinh doanh tiền tệ là nhận giữ tiền vàng
và các tài sản có giá trị khác được thực hiện bởi các nhà thợ vàng, các lãnh
chúa, nhà thờ. Người gửi tiền được nhận lại một tờ biên lai làm căn cứ để xác
định quyền sở hữu và trả lệ phí gửi tiền.
Dần dần những người gửi tiền nhận ra rằng thay vì sử dụng tiền kim
loại vốn khó bảo quản và vận chuyển khó khăn họ có thể sử dụng các loại
giấy chứng nhận quyền sở hữu vàng để thanh toán. Người nhận các chứng thư
này không gặp khó khăn gì trong việc chuyển chúng sang tiền mặt. Việc
thanh toán dễ dàng hơn nếu hai người cùng gửi tiền ở một nơi. Đây là mầm
mống đầu tiên của nghiệp vụ phát hành dấu hiệu giá trị. Mặt khác, những
người nắm giữ tiền cũng nhận thấy rằng trong cùng một khoảng thời gian có
7
một số người đến đổi chứng thư lấy tiền, nhưng cũng có những người khác
gửi tiền vào. Sự bổ sung qua lại giữa lưu lượng gửi tiền vào và rút tiền ra làm
xuất hiện một lượng tiền nhàn rỗi trong kho. Điều này chứng tỏ những người
thợ vàng giờ đây chỉ cần dự trữ tiền mặt với một tỷ lệ nhất định so với tổng số
tiền gửi, phần còn lại có thể sử dụng để cho vay. Đến đây các ngân hàng bắt
đầu tham gia vào quá trình cung ứng tiền.
1.1.1.2- Giai đoạn từ thế kỷ thứ V đến XVII
Đây là giai đoạn phát triển và hoàn thiện các nghiệp vụ của một ngân
hàng thương mại. Các nghiệp vụ ghi chép sổ sách, hình thành các số hiệu tài
khoản, chi tiết đến đối tượng cho vay, mục đích vay cũng như nguồn vốn cho

phát hành thành trung tâm thanh toán.
Cho đến cuối thế kỷ XIX, hầu hết các nước Châu Âu (trừ Italia và Thụy
Sĩ), cùng với một vài nước thuộc châu Á và châu Phi như Nhật Bản, Java,
Angerie đã hình thành ngân hàng phát hành với quyền lực và sự ưu tiên đặc
biệt từ Chính phủ. Tất cả các ngân hàng này, với mức độ khác nhau, từng
bước đã thực hiện các chức năng của một NHTW: phát hành tiền, kiểm soát
lưu thông tiền tệ, là ngân hàng của các ngân hàng trung gian và là ngân hàng
của Chính phủ. Với ý nghĩa như vậy, khái niệm “Ngân hàng trung ương” bắt
đầu được nhắc đến từ cuối thế kỷ XIX.
1.1.1.4- Giai đoạn từ thế kỷ XX đến nay
Là giai đoạn hoàn thiện hoạt động NHTW về tổ chức và chức năng,
đồng thời là giai đoạn thành lập một loạt các NHTW mới.
Trước hết là sự tách rời chức năng độc quyền phát hành ra khỏi chức
năng kinh doanh tiền tệ trực tiếp với công chúng, được thực hiện đầu tiên bởi
Ngân hàng Anh và sau đó là các ngân hàng phát hành các nước khác, nhằm
9
hoàn thiện chức năng quản lý của NHTW. Các NHTW giờ đây chỉ quan hệ
trực tiếp với các ngân hàng trung gian, với Chính phủ và ngân hàng nước
ngoài, thông qua các hoạt động kiểm soát tín dụng, quản lý dự trữ của các
ngân hàng trung gian cũng như dự trữ vàng và ngoại tệ của nhà nước và thực
hiện điều hòa vốn khả dụng cho toàn hệ thống ngân hàng trong nước.
Có thể nói, cho đến trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất, NHTW với
các chức năng đầy đủ của nó đã thực sự ra đời phổ biến ở các nước Châu Âu,
mà điển hình cho mô hình này là Ngân hàng Anh, sau thời kỳ phát triển hàng
nghìn năm từ hoạt động ngân hàng sơ khai.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới 1929 – 1933 và sự phát
triển học thuyết của Keynes vào cuối những năm 30 (và sau đó được phát
triển bởi Milton Friedman 1960) về sự cần thiết của vai trò quản lý vĩ mô của
nhà nước đối với nền kinh tế, cũng như ảnh hưởng của khối lượng tiền cung
ứng đối với các biến số kinh tế vĩ mô đã tạo nên sự thay đổi toàn bộ trong

còn dựa trên cơ sở dự trữ vàng. Nó được thực hiện dựa trên cơ sở đảm bảo
bằng giá trị hàng hóa, dịch vụ thể hiện trên các giấy nhận nợ do các doanh
nghiệp phát hành hoặc trái phiếu chính phủ. Thông qua cơ chế tín dụng ngắn
hạn, NHTW thực hiện tái chiết khấu hoặc tái cầm cố các chứng từ có giá để
đưa tiền vào lưu thông. Khối lượng tiền phát hành phụ thuộc vào tốc độ tăng
trưởng kinh tế và nhu cầu tiền trong từng thời kỳ.
- Ngân hàng trung ương tham gia và kiểm soát chặt chẽ việc tạo tiền
chuyển khoản của các ngân hàng thương mại (NHTM) và tổ chức tín
dụng (TCTD).
Tiền chuyển khoản được tạo ra thông qua nghiệp vụ tín dụng và thanh
toán không dùng tiền mặt qua hệ thống ngân hàng. Cơ chế tạo tiền này không
11
thể thiếu được sự tham gia và kiểm soát chặt chẽ của NHTW. Nghiệp vụ kiểm
soát này được thực hiện bằng việc định ra tỷ lệ dự trữ bắt buộc, cơ cấu hợp lý
giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản, lãi suất tái chiết khấu Và giao dịch tín
dụng, thanh toán với các NHTM và TCTD là NHTW thực hiện nội dung chức
năng phát hành tiền.
Việc phát hành tiền của NHTW theo các kênh sau:
- Cho vay các NHTM và TCTD: NHTW phát hành tiền qua hoạt động cấp
tín dụng, dưới hình thức tái chiết khấu, hoặc tái cầm cố các chứng từ có
giá của các NHTM và TCTD. Đây là kênh phát hành tiền quan trọng nhất
và phù hợp với cơ chế phát hành tiền hiện nay.
- Phát hành qua thị trường vàng và ngoại tệ: NHTW phát hành tiền để mua
vàng và ngoại tệ nhằm tăng dự trữ ngoại hối nhà nước và điều tiết tỷ giá
hối đoái khi cần thiết.
- Ngân sách nhà nước vay: Chính phủ vay của NHTW trong trường hợp
ngân sách nhà nước bị thiếu hụt tạm thời hoặc bội chi. Cũng có thể NHTW
phải ứng trước cho Chính phủ, trong trường hợp ngân sách nhà nước chi
trước và thu sau. Những khoản cho Chính phủ vay quan trọng nhất là
NHTW tái chiết khấu, tái cầm cố các loại trái phiếu của Chính phủ thông

• Cấp giấy phép hoạt động cho các NHTM, TCTD.
• Quy định nội dung, phạm vi hoạt động kinh doanh và các quy chế
nghiệp vụ đòi hỏi các NHTM phải tuân thủ.
• Kiểm tra, giám sát mọi mặt hoạt động của các NHTM.
• Đình chỉ hoạt động hoặc giải thể NHTM trong trường hợp mất khả
năng thanh toán.
1.1.2.3- Chức năng Ngân hàng Nhà nước
13
Nội dung của chức năng này được thể hiện trên các phương diện quản lý
nhà nước về tiền tệ, tín dụng và ngân hàng sau đây:
- NHTW xây dựng và thực thi CSTT quốc gia, quản lý nhà nước về các hoạt
động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng đối nội cũng như đối ngoại.
- Nhận tiền gửi của kho bạc nhà nước, cho ngân sách nhà nước vay khi ngân
sách bị thiếu hụt tạm thời hoặc bội chi, quản lý dự trữ ngoại hối quốc gia.
- Thay mặt Chính phủ ký kết các hiệp định tiền tệ, tín dụng, thanh toán với
nước ngoài và tổ chức tài chính - tín dụng quốc tế.
- Đại diện cho Chính phủ tham gia vào một số tổ chức tài chính - tín dụng
quốc tế với cương vị là thành viên của các tổ chức này.
1.1.3- Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:
Sự ra đời NHTW của Việt Nam dưới tên gọi Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam không giống với nguồn gốc ra đời truyền thống của các NHTW trên thế
giới. Quá trình phát triển từ hệ thống ngân hàng một cấp thành hệ thống ngân
hàng hai cấp cùng với sự tách bạch và hoàn thiện chức năng quản lý Nhà
nước và chức năng kinh doanh từ hệ thống ngân hàng một cấp gắn liền với sự
ra đời và hoàn chỉnh chức năng của NHTW ở Việt Nam.
1.1.3.1- Hệ thống ngân hàng một cấp (1951 – 1987)
Hệ thống NHNN VN mà tiền thân là Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
được thành lập vào năm 1951 – giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh chống
Pháp và trong điều kiện nền kinh tế tiểu nông, lạc hậu. Chức năng chủ yếu
của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là: phát hành giấy bạc và quản lý kho bạc,

Chi nhánh tỉnh,
TP
Chi nhánh tỉnh,
TP
Chi điếm NH
huyện
Chi nhánh
tỉnh, TP
Chi điếm huyện Chi điếm huyện
Chi điếm huyện
15
Vì thế cùng với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, từ cơ chế quản lý
hành chính và trực tiếp chuyển sang việc sử dụng các biện pháp kinh tế theo
cơ chế thị trường, từ năm 1988 hệ thống ngân hàng đã được cải cách từng
bước nhằm mục đích phân định rõ ràng hai chức năng quản lý Nhà nước và
chức năng kinh doanh của hệ thống ngân hàng, đồng thời chuyển hẳn hệ
thống ngân hàng sang cơ chế kinh doanh theo nguyên tắc hạch toán kinh tế.
1.1.3.2- Hệ thống ngân hàng hai cấp (từ 1988 – nay)
Bước sơ khai của hệ thống ngân hàng hai cấp được thể hiện trong Nghị
định 53 ngày 26/3/1988, theo đó hệ thống ngân hàng Việt Nam bao gồm:
NHNN và các ngân hàng chuyên doanh. NHNN hoạt động với tư cách là
ngân hàng độc quyền phát hành, là cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín
dụng và là cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối của Nhà nước. Với chức năng
như vậy, NHNN VN thực sự trở thành một NHTW.
Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước 5/1990 thực sự đánh dấu bước đổi mới
căn bản hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam và khẳng định lại sự
đúng đắn của cải cách ngân hàng trong Nghị định 53. Khái niệm NHTW lần
đầu tiên được đề cập đến trong định hướng của các Pháp lệnh ngân hàng.
Định hướng chỉ rõ: “NHNN là NHTW, có chức năng quản lý Nhà nước đối
với hệ thống ngân hàng. Chức năng kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng

lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất
nước trong một thời kỳ nhất định”. (Giáo trình Lý thuyết tiền tệ - Học viện
Tài chính).
Trong nền kinh tế thị trường, CSTT được sử dụng như một công cụ
điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với hoạt động của nền kinh tế. Nó được
hoạch định trên cơ sở mục tiêu kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng
giai đoạn phát triển. Dựa trên cơ chế thị trường và các quy luật vận động của
nó, CSTT được hoạch định đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo và được điều
hành chủ yếu bằng hệ thống các công cụ gián tiếp. CSTT rất nhạy cảm và có
vị trí chủ đạo trong hệ thống chính sách kinh tế vi mô.
CSTT có thể được điều hành theo một trong hai hướng sau:
- CSTT mở rộng: là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế, nhằm khuyến
khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm.
- CSTT thắt chặt: là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế, nhằm hạn chế
đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế. CSTT theo hướng
này nhằm đạt mục tiêu kiềm chế lạm phát.
18
Nền kinh tế thường xuyên biến động, do vậy có lúc thừa và có lúc thiếu
tiền. Do đó, CSTT được vận hành theo xu hướng nào là tùy thuộc vào thực
trạng kinh tế và nhu cầu tiền trong từng thời kỳ.
1.2.2- Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ do NHTW thực thi nhằm đạt tới một hệ thống các
mục tiêu:
a) Mục tiêu cuối cùng
- Ổn định tiền tệ:
Ổn định tiền tệ là ổn định sức mua đối nội và sức mua đối ngoại của
đồng tiền quốc gia.
 Ổn định sức mua đối nội là ổn định sức mua của tiền đối với hàng hóa
và dịch vụ trong nước (ổn định giá cả). Nền kinh tế có lạm phát hoặc
thiểu phát tức là sức mua đồng tiền không ổn định. Do đó, kiểm soát

Giữa ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm có mối
quan hệ mật thiết với nhau. NHTW không thể cùng một lúc đạt được cả ba
mục tiêu trên. Chẳng hạn, kiềm chế lạm phát có thể dẫn đến tăng trưởng kinh
tế thấp, thất nghiệp gia tăng. Ngược lại, thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo thêm
công ăn việc làm có thể dẫn tới lạm phát. Do vậy, đưa mục tiêu nào lên hàng
đầu tùy theo điều kiện nền kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ. Đa số các
nước coi ổn định tiền tệ là mục tiêu chủ yếu và dài hạn của CSTT.
b) Mục tiêu trung gian
Mục tiêu trung gian là mục tiêu được NHTW lựa chọn để đạt tới mục
tiêu cao nhất của CSTT.
NHTW các nước thường dựa vào ba tiêu chuẩn để lựa chọn mục tiêu
trung gian: (1) phải đo lường được, (2) phải kiểm soát được, (3) phải có khả
20
năng tác động trực tiếp tới mục tiêu cao nhất. Hai chỉ tiêu: khối lượng tiền
cung ứng và lãi suất thị trường đều đáp ứng đủ cả ba tiêu chuẩn trên, vì vậy
nó đều có thể được chọn làm mục tiêu trung gian của CSTT.
c) Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu hoạt động là các chỉ tiêu có phản ứng tức thời với sự điều
chỉnh của CSTT.
Tiêu chuẩn để chọn mục tiêu hoạt động như tiêu chuẩn để lựa chọn
mục tiêu trung gian. Các chỉ tiêu được chọn làm mục tiêu hoạt động là dự trữ
của NHTM và lãi suất thị trường liên ngân hàng.
Các loại mục tiêu của CSTT có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Mục
tiêu cao nhất được coi là mục tiêu cơ bản nhất, là đích cuối cùng của CSTT.
Hình 1.3 Quy trình thực hiện CSTT
1.2.3- Các công cụ của chính sách tiền tệ
Công cụ của CSTT là hệ thống các biện pháp nhằm tác động trực tiếp
hoặc gián tiếp tới mức cung cầu tiền để đạt được các mục tiêu đề ra. Tùy
thuộc vào cơ chế tác động của các công cụ mà nó được chia ra thành công cụ
trực tiếp và công cụ gián tiếp.

kém hiệu quả.
 Ấn định khung lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay
NHTW có thể quy định khung lãi suất dưới các hình thức: lãi suất sàn -
lãi suất trần, lãi suất trần - mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay bình quân và
lãi suất tiền gửi bình quân, lãi suất trần - lãi suất cơ bản, … và bắt buộc các
NHTM phải xây dựng biểu lãi suất kinh doanh nằm trong khung lãi suất.
Biện pháp này có ưu điểm là các NHTM được phép xây dựng các mức
lãi suất linh hoạt hơn và bước đầu có quyền tự chủ quy định mức lãi suất kinh
doanh; đồng thời giúp cho các ngân hàng lựa chọn dự án kinh tế tối ưu để cho
vay, loại bỏ dự án kinh tế kém hiệu quả.
- Hạn mức tín dụng:
22
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa NHTW cho phép các NHTM
cung ứng cho nền kinh tế. Hạn mức này được quy định cho từng ngân hàng,
căn cứ vào đặc điểm kinh doanh, nhu cầu tài trợ cho các đối tượng chính sách
và nằm trong tổng dự nợ tín dụng của toàn bộ nền kinh tế trong một thời gian
nhất định. NHTM chỉ được cấp tín dụng cho nền kinh tế tối đa bằng hạn mức
tín dụng.
Hạn mức tín dụng là công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính
của NHTW để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng cung ứng cho nền
kinh tế, nhằm đảm bảo mức tăng trưởng khối lượng tiền cung ứng theo mục
tiêu đã đề ra.
Công cụ này kém hiệu quả điều tiết, thiếu linh hoạt, không thể thay đổi
thường xuyên vì sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình kinh doanh của các
NHTM. Việc xác định hạn mức tín dụng cho các NHTM rất khó, nhiều khi
thiếu chính xác. Khi hạn mức tín dụng lớn hơn nhu cầu tín dụng thì công cụ
này không có ý nghĩa. Ngược lại, nếu hạn mức tín dụng quá nhỏ, nó có thể
làm tăng lãi suất tín dụng, thúc đẩy “thị trường vốn ngầm”.
b) Các công cụ gián tiếp
Đó là những công cụ NHTW có thể sử dụng để tác động trước hết vào

căn cứ vào mức độ phụ thuộc về vốn của NHTM vào NHTW, vì thế nó là
công cụ kém chủ động. Để khắc phục nhược điểm này người ta thường sử
dụng kết hợp với công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
Theo luật định, khi các NHTM huy động được vốn tiền gửi trong xã
hội phải trích ra một phần của số tiền gửi này để gửi vào tài khoản dự trữ bắt
24
buộc tại NHTW và để tại quỹ của mình. Số tiền gửi được trích ra theo tỷ lệ dự
trữ bắt buộc quy định của NHTW.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm giữa số tiền dự trữ bắt buộc và
tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc các NHTM thu hút được trong
một khoảng thời gian nhất định.
Tùy theo điều kiện từng nước, trong từng thời kỳ, có nhiều quy định về
việc xác định tỷ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể
quy định chung cho tất cả các NHTM hoặc có thể quy định riêng cho từng
ngân hàng. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể được quy định chung cho toàn bộ các
loại tiền gửi hoặc có thể quy định đối với từng loại tiền gửi (tiền gửi không kỳ
hạn, tiền gửi ngắn hạn dưới 1 năm, tiền gửi có kỳ hạn dưới 2 năm,…).
Việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc tạo điều kiện để NHTW kiểm soát
quá trình tạo tiền của hệ thống NHTM và quan trọng hơn là NHTW sử dụng
để tác động đến mức cung tiền tệ.
Cơ chế sử dụng:
Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, làm thay đổi mức dự trữ bắt buộc,
từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng trên các phương diện sau:
 Khi NHTW quyết định tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, làm giảm
hoặc tăng khả năng cho vay của các NHTM đối với nền kinh tế. Từ đó,
làm giảm hoặc tăng mức cung ứng tiền tệ.
 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một thành phần trong mẫu số của công thức tạo
tiền. Vì thế sự tăng lên hoặc giảm xuống của tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ
làm giảm hoặc tăng hệ số mở rộng tiền gửi và do đó khả năng mở rộng

các chứng từ có giá đang nắm giữ.

Trích đoạn Giải pháp về chính sách lãi suất Giải pháp sử dụng hiệu quả công cụ tỷgiá hối đoái Điều kiện cho thực thi chính sách tiền tệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status