MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AD Tổng cầu của nền kinh tế
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
CSTK Chính sách tài khoá
CSTT Chính sách tiền tệ
DTBB Dự trữ bắt buộc
GDP Tống sản phẩm quốc dân
GNP Tổng sản phẩm quốc nội
GTCG Giấy tờ có giá
HTNH Hệ thống ngân hàng
HTXTD Hợp tác xã tín dụng
IPO Chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng
KBNN Kho bạc nhà nước
M1, M2, M3 Lượng tiền cung ứng M1, M2, M3
NHHTX Ngân hàng hợp tác xã
NHLD Ngân hàng liên doanh
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
NHTW Ngân hàng trung ương
OMO Nghiệp vụ thị trường mở
QTDND Quỹ tín dụng nhân dân
SWAP Nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ
TCTD Tổ chức tín dụng
TPCP Trái phiếu Chính phủ
TTTT Thị trường tiền tệ
nhất được sử dụng là nghiệp vụ thị trường mở, nhưng thực tế đã không như
mong đợi của Ngân hàng Nhà nước, giá cả vẫn tiếp tục tăng lên, lượng tiền
cung ứng giảm bớt không đáng kể. Điều này cho thấy, nghiệp vụ thị trường
mở tại Việt Nam còn có nhiều hạn chế, hiệu quả sử dụng chưa cao. Từ thực
tiễn đó, tôi đã chọn đề tài: "Nâng cao hiệu quả sử dụng thị trường mở trong
điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam".
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hoá các vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng nghiệp vụ thị
trường mở.
1
- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng nghiệp vụ thị trường
mở của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nghiệp vụ thị
trường mở tại Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng của nghiệp vụ thị trường
mở.
- Phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng của nghiệp vụ thị trường mở
tại Việt Nam từ năm 2000 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ những nguyên lý chung, luận văn sử dụng các phương
pháp:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng;
- Phương pháp thống kê;
- Phương pháp tổng hợp;
- Phương pháp phân tích;
- Phương pháp chuyên gia.
5. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về nghiệp vụ thị trường mở;
- Phân tích đánh giá làm rõ những hạn chế trong hoạt động của nghiệp
Chính sách tiền tệ (CSTT) là một bộ phận trong tổng thể chính sách
kinh tế - xã hội, một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước về tiền tệ, do Ngân
hàng Trung ương (NHTW) khởi thảo và thực thi, nhằm tới các mục tiêu ổn
định giá trị đồng tiền, ổn định thị trường tài chính, ổn định và tăng trưởng
kinh tế. CSTT thực hiện quá trình kiểm soát tiền tệ, điều chỉnh khối lượng
tiền cung ứng thêm cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định và điều
chỉnh cả khối lượng tiền có sẵn trong lưu thông. Chính sách tiền tệ mở rộng
sẽ tăng cung ứng tiền trên thị trường tiền tệ, khuyến khích đầu tư, mở rộng
sản xuất, tạo công ăn việc làm, chống suy thoái kinh tế. Ngược lại, chính sách
tiền tệ thắt chặt sẽ giảm cung ứng tiền trên thị trường tiền tệ, hạn chế đầu tư,
hạn chế sự phát triển quá đà của nền kinh tế và kiềm chế lạm phát.
CSTT là một chính sách kinh tế vĩ mô trong đó NHTW sử dụng các
công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát các điều kiện tiền tệ của nền kinh
tế nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ, tạo nền tảng thúc đẩy sự tăng
trưởng kinh tế và duy trì các mục tiêu xã hội hợp lý.
4
CSTT theo nghĩa hẹp là chính sách đảm bảo sao cho khối lượng tiền
cung ứng tăng thêm trong một năm tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế và
chỉ số lạm phát (nếu có) nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, góp phần thực
hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Theo nghĩa rộng, CSTT là chính sách điều
hành toàn bộ khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế nhằm phân bổ một cách hiệu
quả nhất các nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, cân đối kinh
tế trên cơ sở đó ổn định giá trị đồng tiền quốc gia. Dù quan niệm CSTT theo
nghĩa nào, CSTT đều nhằm mục tiêu ổn định giá trị tiền tệ, góp phần thực
hiện các mục tiêu của chính sách kinh tế.
1.1.2. Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng
trung ương
Trên cơ sở dự án chính sách tiền tệ đã được phê chuẩn và điều kiện
thực tiễn của nền kinh tế, NHTW sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ
để điều tiết lượng tiền cung ứng nhằm đạt được các mục tiêu xác định. Việc
đồng vốn đầu tư đắt lên. Khi đó đầu tư giảm, dẫn đến GDP giảm xuống. Mặt
khác khi giảm khối lượng tiền tệ, sẽ làm giảm AD, sức mua sẽ giảm, làm tăng
hàng hoá tồn đọng của các doanh nghiệp, do đó các doanh nghiệp không có
cơ sở để mở rộng sản xuất, vì vậy GDP giảm.
- Tạo việc làm, giảm thất nghiệp
Việc làm cho người lao động cũng là một trong các mục tiêu của
CSTT. Chúng ta cũng đã biết rằng nơi nào sức lao động là hàng hoá thì thất
nghiệp là một căn bệnh kinh niên. Để đạt được mục tiêu này, CSTT hướng
vào việc khuyến khích đầu tư, làm gia tăng sản xuất và việc làm sẽ tăng lên;
mặt khác, khi các hoạt động kinh tế được mở rộng, sẽ có tác dụng chống suy
thoái, nhất là suy thoái chu kỳ, để đạt được mức tăng trưởng ổn định, góp
phần ổn định cuộc sống của người dân và tạo thêm nhiều việc làm mới. Sự
điều chỉnh lượng tiền cung ứng nhằm mục tiêu trước hết là ổn định giá trị tiền
tệ, trên cơ sở đó góp phần tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm.
6
- Ổn định giá trị đối nội của đồng tiền trên cơ sở kiểm soát lạm phát
Các nhà kinh tế đã cho rằng, lạm phát là căn bệnh kinh niên của nền
sản xuất hàng hoá, đặc biệt là nền sản xuất hàng hoá phát triển ở mức độ cao
(nền kinh tế thị trường).
Lạm phát tác động tới nền kinh tế - xã hội theo cả hai hướng: tiêu cực
và tích cực. Khi lạm phát gia tăng, nó tác động đến mọi mặt của nền kinh tế-
xã hội, làm sai lệch các chỉ tiêu kinh tế; làm phân phối lại thu nhập; kích thích
tâm lý đầu cơ tích trữ hàng hóa, bất động sản, vàng bạc, gây tình trạng khan
hiếm giả tạo; giảm sức mua thực tế của dân chúng về hàng hoá tiêu dùng. Do
đó, đời sống của người lao động sẽ khó khăn hơn, gây khó khăn cho hoạt
động của hệ thống ngân hàng vì ngân hàng sẽ không thu hút được các nguồn
tiền nhàn rỗi cho hoạt động của mình. Bên cạnh những tác hại mà lạm phát
gây ra cho nền kinh tế, trong chừng mực nào đó, với một tỷ lệ lạm phát vừa
phải, lạm phát lại là yếu tố kích thích kinh tế tăng trưởng. Khi đó, lạm phát trở
thành công cụ điều tiết.
Ngoài những mục tiêu vĩ mô trên, một số nước còn tập trung vào các
mục tiêu cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế của mỗi quốc gia. Tuy
nhiên do tính chất mâu thuẫn giữa các mục tiêu nên NHTW không thể theo
đuổi tất cả các mục tiêu trên trong một khoảng thời gian nhất định. Điều
này buộc NHTW phải có sự lựa chọn trong từng thời kỳ. Đó chính là mục
tiêu điều hành.
b. Mục tiêu điều hành
Mục tiêu điều hành là các biến số tiền tệ có tác động mạnh theo một
chiều nhất định đến mục tiêu cuối cùng của CSTT (ổn định giá trị đồng tiền,
tăng trưởng kinh tế, việc làm cho người lao động và tỷ lệ lạm phát). Để tạo
điều kiện thuận lợi trong quá trình điều hành CSTT, các NHTW đều phải xây
dựng hệ thống mục tiêu điều hành mang tính định lượng cụ thể hơn nhằm
8
thực hiện mục tiêu cuối cùng của CSTT. Căn cứ vào sự phát triển và diễn biến
của thị trường tiền tệ, NHTW các nước đều lựa chọn các mục tiêu điều hành
của CSTT. Trong mục tiêu điều hành của CSTT, hầu hết các NHTW lại chia
mục tiêu điều hành thành mục tiêu trung gian và mục tiêu hoạt động.
- Mục tiêu trung gian
Mục tiêu trung gian là biến số tiền tệ có tác động trực tiếp đến mục tiêu
cuối cùng của CSTT và chịu tác động gián tiếp bởi sự can thiệp tiền tệ của
NHTW, mạnh nhất là khi NHTW thay đổi mục tiêu hoạt động.
Các biến số tiền tệ thường được lựa chọn để làm mục tiêu trung gian là
các khối tiền: M1, M2, M3 hoặc lãi suất (ngắn hạn và dài hạn). Mục tiêu
trung gian hình thành là do NHTW không thể sử dụng các công cụ CSTT tác
động trực tiếp và ngay lập tức đến mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế. Ảnh
hưởng của CSTT chỉ xuất hiện sau một thời gian nhất định, vì vậy thay vì
nhằm thẳng tới mục tiêu cuối cùng trong một thời gian dài, NHTW của tất cả
các nước thường đưa ra các mục tiêu trung gian cần đạt được ngay trong thời
gian trước mắt, trước khi tiến đến mục tiêu cuối cùng.
Tiêu chuẩn của mục tiêu trung gian:
Trên thực tế, NHTW kiểm soát tổng lượng tiền tệ và lãi suất được
nhiều hơn. Nghiệp vụ thị trường tự do (mở) có thể được sử dụng để ấn định
lãi suất bằng cách trực tiếp tác động đến giá cả giấy tờ có giá. Tuy vậy, nếu
NHTW có thể ấn định trực tiếp lãi suất thì nó lại không thể kiểm soát được
hoàn toàn cung ứng tiền tệ. Vì vậy thoạt nhìn qua thì hình như lãi suất đứng
trên các tổng lượng tiền tệ về tiêu chuẩn tính có thể kiểm soát được, nhưng
thực ra NHTW không thể ấn định được lãi suất thực tế, bởi vì nó không thể
kiểm soát diễn biến dự tính của lạm phát. Do đó lại một lần nữa không thể dứt
khoát được rằng lãi suất lại ưa chuộng hơn tổng lượng tiền tệ hay ngược lại
trong việc lựa chọn làm một chỉ tiêu trung gian.
10
+ Khả năng tác động tính trước được đối với mục tiêu
Một đặc tính mà một biến số cần phải có để làm một chỉ tiêu trung gian
hữu ích là nó phải có một ảnh hưởng đoán trước được đối với mục tiêu. Nhiều
chứng cứ hình như thiên về mối quan hệ chặt chẽ (có thể dự đoán rõ hơn)
giữa những mục tiêu đó với cung ứng tiền tệ hơn là với lãi suất, do đó đưa
đến một vài sự ủng hộ nào đó đối với việc dùng các tổng lượng tiền tệ làm chỉ
tiêu trung gian.
- Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu hoạt động được hiểu là các biến số tiền tệ mà NHTW có thể
tác động trực tiếp làm thay đổi mục tiêu trung gian và qua thay đổi biến số
này, NHTW điều chỉnh được xu hướng diễn biến của thị trường tiền tệ.
Hệ thống chỉ tiêu này vừa đóng vai trò phản ánh tình trạnh CSTT đồng
thời phản ánh dấu hiệu về định hướng CSTT của NHTW. Việc lựa chọn một
mục tiêu hoạt động được dựa trên cùng một tiêu chuẩn như đã dùng để đánh
giá mục tiêu trung gian. Để thực hiện được CSTT, NHTW phải sử dụng một
bộ các công cụ nhằm tác động vào nền kinh tế, đưa nền kinh tế phát triển tới
những mục tiêu xác định.
1.1.2.2. Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ
Hệ thống các công cụ CSTT được chia thành các công cụ trực tiếp và
NHTW cần giảm khối lượng tiền trong lưu thông, họ sẽ tăng lãi suất tái cấp
vốn lên. Lúc này, một mặt làm tăng chi phí tín dụng nhằm hạn chế các NHTM
có ý định vay, mặt khác làm giảm khối lượng tín dụng được cấp xuống nếu
NHTM vẫn quyết định vay. Bên cạnh tác động thông qua lãi suất tái cấp vốn,
NHTW còn sử dụng hạn mức tái cấp vốn để tác động trực tiếp về mặt lượng
đối với dự trữ của hệ thống NHTM, cụ thể: khi NHTW tăng tổng hạn mức tái
cấp vốn, điều đó có nghĩa là các NHTM có thể được vay ở NHTW nhiều hơn,
từ đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế, tăng khả năng tạo tiền
12
của hệ thống ngân hàng và điều này trực tiếp làm tăng lượng tiền cung ứng
trong nền kinh tế. Những tác động trên sẽ hoàn toàn ngược lại nếu NHTW
giảm hạn mức tái cấp vốn xuống.
Công cụ này thường được ưu tiên sử dụng khi NHTW đang theo đuổi
một CSTT mở rộng nhằm bổ sung thêm tiền cho phát triển kinh tế một cách
nhanh chóng, và đây cũng chính là ưu điểm của công cụ này. Tuy nhiên, công
cụ này cũng có những nhược điểm của nó, đó chính là việc cấp vốn một cách
thiếu công bằng hay thậm chí một cách quá dễ dãi trong khi theo đuổi mục
tiêu CSTT mở rộng. Đương nhiên, các Ngân hàng thương mại Nhà nước
(NHTMNN) và các NHTM, tổ chức tín dụng (TCTD) có quan hệ thân thiết
nhất sẽ là những đối tượng được ưu tiên đầu tiên, điều này tạo ra sự lệch lạc
về lãi suất, và gây nhiều hiệu ứng bất cập khác.
b. Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) là hoạt động NHTW mua, bán giấy
tờ có giá (GTCG) chủ yếu là ngắn hạn (như Tín phiếu kho bạc, Trái phiếu
kho bạc, Tín phiếu NHTW, Chứng chỉ tiền gửi…) trên thị trường tiền tệ,
điều hoà cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối dự trữ của các
NHTM, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các NHTM dẫn
đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ, cụ thể: bằng cách bán các loại
giấy tờ có giá ngắn hạn, NHTW có thể thu hẹp tín dụng, giảm khối lượng
tiền tệ theo ý muốn để ngăn chặn lạm phát. Ngược lại, khi NHTW mua các
tiền tệ. Ngược lại, nếu khả năng thanh toán thấp thì giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc
nhằm tăng khả năng cho vay của các NHTM (bành trướng khối tiền tệ).
Thông qua công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc, NHTW tác động đến khối lượng và
giá cả tín dụng của các ngân hàng thương mại từ đó tác động đến khả năng
cung ứng tín dụng và khả năng tạo tiền của hệ thống NHTM. Về số lượng:
tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc có nghĩa là giải phóng hay phong toả,
14
cũng tức là thắt chặt hay nới lỏng khả năng tạo tiền của các NHTM. Về chi
phí: giảm hay tăng dự trữ bắt buộc (dự trữ bắt buộc không được hưởng lãi,
nếu có thì thường là rất thấp) sẽ làm giảm hoặc tăng chi phí tín dụng của các
NHTM. Tăng hay giảm số lượng tín dụng kép: do tăng, giảm chi phí; tăng
giảm lãi suất cho vay, dẫn đến giảm hoặc tăng dung lượng tín dụng.
Việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc (DTBB) do NHTW quyết định tuỳ
thuộc vào tình hình cụ thể của nền kinh tế. Đây cũng là nhược điểm của công
cụ này. Vì mang tính hành chính bắt buộc, nên DTBB thường mang lại những
phản ứng phụ cho nền kinh tế, đó là các phản ứng tức thời của hệ thống ngân
hàng (HTNH) trong việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, Nhưng trong
những điều kiện nhất định, việc áp dụng công cụ này lại mang lại cho NHTW
một kêt quả tốt trong điều hành CSTT. Do đó, công cụ này là một trong
những công cụ quan trọng và thường xuyên được sử dụng nhất trong điều
hành CSTT.
d. Công cụ lãi suất tín dụng
Lãi suất được xem là một công cụ gián tiếp thực hiện CSTT trong việc
điều khiển mức cung ứng tiền cho nền kinh tế, bởi lẽ lãi suất không làm tăng
hoặc giảm khối lượng tiền tệ trong lưu thông. Nhưng sự tăng, giảm lãi suất có
thể kích thích sản xuất hoặc kìm hãm sản xuất.
Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương,
chính sách và giải pháp cụ thể của NHTW nhằm kiểm soát và điều tiết lãi suất
trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định. Cơ chế này được
thực hiện theo nguyên tắc: trong điều hành chính sách lãi suất, NHTW chỉ
dụng cung ứng cho nền kinh tế đảm bảo tính tăng trưởng của tổng phương
tiện thanh toán theo mục tiêu đề ra.
Hạn mức tín dụng là hạn mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các ngân
hàng phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. Mức dư nợ cho từng
16
ngân hàng căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của ngân hàng, trong định hướng
cơ cấu kinh tế và trong giới hạn tổng hợp dư nợ tín dụng dự tính của toàn bộ
nền kinh tế trong một thời gian xác định. Hạn mức tín dụng được sử dụng để
khống chế tổng dư nợ tín dụng, qua đó hạn mức tín dụng được sử dụng để
khống chế tổng dư nợ tín dụng, qua đó khống chế lượng tiền cung ứng cho
nền kinh tế. Do vậy cơ chế tác động của nó mang tính áp đặt của NHTW đối
với hệ thống ngân hàng. Qua sử dụng hạn mức tín dụng, NHTW nhằm điều
chỉnh khả năng tạo tiền của các NHTM phù hợp với trình độ phát triển của
nền kinh tế. Tránh tình trạng tổng khối lượng tiền tăng quá mức trong lưu
thông, NHTW quy định hạn mức tín dụng tối đa cho từng ngân hàng thương
mại. Trong phần lớn các trường hợp những hạn mức riêng được xác định căn
cứ vào tỷ trọng cho vay của nó trong quá khứ so với tổng mức cho vay của hệ
thống ngân hàng. NHTM chỉ được cấp tín dụng cho nền kinh tế tối đa bằng
hạn mức tín dụng được quy định. Lúc này, NHTW phải theo dõi hoạt động
cho vay của các NHTM, nếu NHTM cho vay vượt quá hạn mức tín dụng quy
định sẽ bị xử phạt.
Ưu điểm của công cụ này là có thể khống chế và lượng hoá mức tín
dụng trong nền kinh tế một cách khá chính xác, từ đó có thể tính toán và đưa
ra quyết định chuẩn xác trong việc kiểm soát lượng tiền cung ứng và tạo điều
kiện tốt cho việc thực hiện CSTT. Tuy nhiên, đây là một công cụ mang tính
áp đặt cho nên nó có nhiều bất cập, nhiều khi gây thất vọng cho giới ngân
hàng và tác động, can thiệp chủ quan lên hệ thống tài chính tiền tệ, làm phản
ánh sai thực trạng của nền kinh tế.
f. Công cụ tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tương quan giữa sức mua của đồng nội tệ và đồng
tiến áp dụng từ những năm đầu của thế kỷ 20. Với những ưu điểm vượt trội,
cho đến nay, nó đã trở thành công cụ quan trọng bậc nhất để điều hòa lưu
thông tiền tệ tại nhiều quốc gia.
18
1.2.1. Khái niệm
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua, bán các giấy tờ có giá của
NHTW với các đối tác trên thị trường mở nhằm thực hiện CSTT quốc gia.
Các đối tác giao dịch mua bán với NHTW có thể là các tổ chức tín dụng, các
doanh nghiệp hoặc các tổ chức phi tài chính khác. Thông qua hoạt động mua,
bán giấy tờ có giá, NHTW tác động trực tiếp đến dự trữ của hệ thống ngân
hàng và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường, từ đó ảnh hưởng đến lượng
tiền cung ứng thông qua tác động cả về lượng và giá.
Nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operation - OMO) là nghiệp
vụ NHTW thực hiện việc mua vào hoặc bán ra các giấy tờ có giá (chủ yếu là
ngắn hạn) nhằm thay đổi cơ số tiền tệ, trên cơ sở đó tác động đến lượng tiền
cung ứng và lãi suất ngắn hạn.
Theo cách hiểu chung nhất, khái niệm “ Nghiệp vụ thị trường mở” là
hoạt động mua bán các GTCG của NHTW với các đối tác được lựa chọn để
qua đó tác động tới lãi suất của thị trường hoặc dự trữ của các đối tác đó.
Thuật ngữ “thị trường mở ” ở đây được hiểu là một thị trường có tính
chất mở, nghĩa là đa dạng về các đối tác tham gia thị trường và đa dạng về các
loại giao dịch trên thị trường. Trong OMO phải có sự tham gia của NHTW
bởi vì nếu không có NHTW tham gia thì khối lượng tiền tệ nói chung sẽ
không thay đổi. Một NHTM này bán chứng khoán cho một NHTM khác, xét
trong toàn cục, chỉ là sự chuyển dịch chứng khoán và di chuyển ngược lại của
một phần dự trữ đang dư thừa từ NHTM này sang NHTM khác đang thiếu
vốn mà thôi.
OMO được áp dụng lần đầu tiên vào năm 1914, được coi là một trong
các công cụ CSTT có hiệu quả cao và hiện đang được các nước trên thế giới
sử dụng. Các GTCG được sử dụng trên thị trường là các GTCG ngắn hạn và
nước. Sở dĩ như vậy vì tín phiếu kho bạc có tính thanh khoản cao, được phát
20
hành định kỳ với khối lượng lớn và vì thế có thể thoả mãn nhu cầu can thiệp
của NHTW với các mức độ khác nhau.
Bộ Tài chính có vai trò quan trọng trong việc xác định khối lượng phát
hành, thanh toán lãi và gốc của tín phiếu. Tín phiếu kho bạc được phát hành
hàng tuần để chi trả các khoản nợ ngắn hạn của Chính phủ. Vì vậy, khối
lượng tín phiếu này thay đổi tuỳ theo nhu cầu vay mượn của Chính phủ trong
những thời điểm nhất định.
- Chứng chỉ tiền gửi
Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của ngân hàng hay các định chế tài
chính phi ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã được gửi vào ngân
hàng trong một thời gian nhất định với một mức lãi suất định trước.
Thời hạn của chứng chỉ tiền gửi thường là ngắn hạn (cũng có trường
hợp thời hạn lên tới 3-5 năm). Sự ra đời của chứng chỉ tiền gửi đánh dấu sự
thay đổi căn bản trong cơ chế quản lý ngân hàng: chuyển từ quản lý tài sản nợ
sang quản lý tài sản có vì nó cung cấp một hình thức huy động vốn chủ động
cho ngân hàng thay vì phải phụ thuộc vào người gửi tiền. Tính ưu việt của
chứng chỉ tiền gửi chính là đảm bảo cho sức sống của nó, và do đó nó được sử
dụng như là hàng hoá phổ biến cho nghiệp vụ thị trường mở.
- Thương phiếu
Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán
hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời
gian nhất định. Đây là giấy nhận nợ được phát hành bởi các doanh nghiệp
nhằm bổ sung nhu cầu vốn ngắn hạn.
Luật và pháp lệnh thương phiếu ở các nước đảm bảo tính chất an toàn
cho công cụ này bằng các quy định về điều kiện được phép phát hành thương
phiếu. Thương phiếu là tài sản có đối với người sở hữu; có thể là ngân hàng
(thông qua các hành vi chiết khấu hoặc cho vay có bảo đảm bằng thương
phiếu) hoặc các tổ chức phi ngân hàng trong quan hệ thanh toán trực tiếp (cơ