Điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam và những vấn đề đặt ra - Pdf 13

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA NGÂN HÀNG

ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN
HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Giáo viên: Trần Thị Lộc
Nhóm 5 – H302 – sáng thứ 6
Hà Nội 20.11.2010
Danh sách thành viên Nhóm 5 H302 sáng thứ 6
stt Tên thành viên Lớp
1 Đào Thị Hải Huyền TCDNB_K11
2 Hoàng Thị Cẩm Tú TCDNB_K11
3 Nguyễn Thị Ngọc Huế TTQTB_K11
4 Vũ Giang Lam TCDNC_K11
5 Trần Văn Chiến TCDNC_K11
6 Nguyễn Thanh Thủy TCDNB_K11
7 Trần Phi Hùng TCDNB_K11
8 Nguyễn Quang Đức TCDNB_K11
9 Bùi Trường Minh TCDNA_K11
10 Phạm Thế Huỳnh TCDNB_K11
11 Mai Hồng Minh TCDNB_K11
12 Nguyễn Văn Thương TCDNB_K11
13 Nguyễn Thị Thùy Linh TCDNE_K11
Mục Lục
Tính độc lập, trách nhiệm của NHNN chưa thích ứng với mức độ hội nhập tài chính
thế giới và phù hợp thể chế chính trị ở nước ta. Kỹ thuật thu thập, xử lý thông tin
chưa đáp ứng được với tình hình biến động của nền kinh tế do đó việc đưa ra quyết
định điều hành CSTT đôi lúc còn chậm. Năng lực dự báo yếu kém, lúng túng, bị
động, giải pháp chưa sát với yêu cầu thực tế 33

a. Khái niệm chính sách tiền tệ :
Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi
thảo và thực thi, thông qua các công cụ , biện pháp của mình nhằm đạt các mục
tiêu :ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm ,tăng trưởng kinh tế .
Chúng ta có thể hiểu, chính sách tiền tệ là tổng hòa các phương thức mà NHNN
VN (NHTW) thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền tệ
trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế -xã hội của
đất nước trong một thời kì nhất định. Mặt khác, nó là một bộ phận quan trọng
trong hệ thống chính sách kinh tế - tài chính vĩ mô của chính phủ.
Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng:
chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền ,giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất
kinh doanh ,giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng -chính sách tiền tệ chống thất
nghiệp) hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền , tăng lãi suất làm giảm
đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng-
chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền).
b. Vị trí chính sách tiền tệ :
Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì chính sách tiền tệ là
một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực
lưu thông tiền tệ .Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ
mô khác như chính sách tài khoá,chính sách thu nhập,chính sách kinh tế đối
ngoại.
Đối với Ngân hàng trung ương ,việc hoạch định và thực thi chính sách chính sách
tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất ,mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho chính
sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn.
2) Mục tiêu của chính sách tiền tệ :
a. Ổn định giá trị đồng tiền :
NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền
của nước mình. Giá trị đồng tiền ổn định được xem xét trên hai mặt: Sức mua đối
nội của đồng tiền(chỉ số giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước)và sức mua đối
ngoại (tỷ giá của đồng tiền nước mình so với ngoại tệ). Tuy vậy, CSTT hướng tới

hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãi suất, từ
đó mà đạt được các mục tiêu của CSTT.
a. Công cụ trực tiếp:
Là các công tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưu thông hoặc các mức
lãi suất trung và dài hạn. Công cụ trực tiếp được áp dụng phổ biến trong thời kỳ
các hoạt động tài chính được điều tiết chặt chẽ. Các công cụ được sử dụng đó là:
 Hạn mức tín dụng
 Ấn định lãi suất
 Ấn định tỷ giá
• Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM:
 Khái niệm :là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM không
được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định(một năm) để
thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình.Việc định ra hạn mức tín
dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô(tốc độ
tăng trưởng ,lạm phátiêu thụ )sau đó NHTW sẽ phân bổ cho các NHTM và
NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTW quy định .
 Cơ chế tác động: Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với
lượng tiền cung ứng, việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho
nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theo mục
tiêu của NHTM.
 Đặc điểm:Giúp NHTW điều chỉnh ,kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi
các công cụ gián tiếp kém hiệu quả ,đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao
trong những giai đoạn phát triển quá nóng,tỷ lệ lạm phát quá cao của nền
kinh tế .Song nhược điểm của nó rất lớn : triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa
các NHTM,làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế ,dễ phát sinh
nhiều hình thức tín dụng ngoàI sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quá
kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên
• Quản lý lãi suất của các NHTM:
 Khái niệm :NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn dịnh một trần lãi
suất cho vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó,từ đó

gian là khối lượng tiền cung ứng và lãi suất. Bao gồm:
• Nghiệp vụ thị trường mở:
 Khái niệm: Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực
hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó đIều tiết
lượng tiền cung ứng.
 Cơ chế tác động :
Nghiệp vụ thị trường mở có 2 loại: được phép mua bán chứng khoán
vào những thời điểm nhất định sau khi nghiệp vụ được tiến hành và loại
không được phép mua bán lại.
Khi NHTW đem chứng khóan ra thị trường mở để bán nó thu tiền hay
séc về, cho nên:
o Giảm lượng cung tiền mắt trong lưu thông từ đó giảm khả năng cho vay
của các ngân hàng trung gian.
o Khi ngân hàng trung gian mua chứng khóan của NHTW thì dự trữ tiền
của nó sẽ giảm xuống và khả năng cung ứng tiền của nó bị thắt chặt.
o Lượng chứng khoán tăng lên, chứng khoán trở nên thừa và giá của nó sẽ
giảm xuống, lãi suất của nó sẽ tăng lên. Lãi suất chứng khoán tăng lên
buộc các ngân hàng phải tăng lãi suất để tránh tình trạng người dân rút
tiền ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào chứng khoán. Lãi suất ngân hàng
tăng làm lượng tiền cung ứng giảm và do đó tiền trở nên khan hiếm, do
đó tỉ giá và giá cả hàng hóa giảm xuống. Và ngược lại khi NHTW ra thị
trường mở để mua chứng khoán.
Như vậy khi NHTW thực hiện nghiệp vụ bán, nó thắt chặt cung ứng tiền,
tăng lãi suất, giảm tỉ giá và giá cả hạ xuống và ngược lại khi thực hiện
nghiệp vụ mua.
 Đặc điểm: Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là
một công cụ rất năng động, hiệu quả, chính xác của CSTT vì khối lượng
chứng khoán mua ( bán ) tỷ lệ với qui mô lượng tiền cung ứng cần điều
chỉnh, ít tốn kém về chi phí , dễ đảo ngược tình thế. Tuy vậy, vì được
thực hiện thông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ

Thị trường xuất khẩu một số mặt hàng biến động phức tạp như dệt may, da
giày, thủy sản, thủ công mỹ nghệ, xe đạp và phụ tùng, động cơ điện Điều đó
đã làm cho giá cả tiêu dùng trong nước tăng cao liên tục chưa có điểm dừng.
Các điểm yếu của nền kinh tế vốn tồn tại nhiều năm nay như kết cấu hạ tầng yếu
kém, nhất là giao thông, thủy lợi, điện đã bộc lộ rõ nét qua thiên tai năm 2007
không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế bền vững với tốc độ cao.
 Về thuận lợi: Thành quả nổi bật của những năm qua là duy trì được tốc
độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5%/ năm trong 5 năm 2001 - 2005 và
8,17% năm 2006, thế và lực của Việt Nam đã mạnh lên so với các năm
trước. Đó là những tiền đề vật chất rất quan trọng, là yếu tố thuận lợi cơ
bản để các ngành, các cấp thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch năm 2007.
Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO và
thực hiện cam kết PNTR với Hoa Kỳ, do đó, thị trường xuất khẩu mở rộng, các
rào cản thương mại Việt Nam với các nước thành viên WTO được dỡ bỏ hoặc hạn
chế. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao qua Hội nghị cấp cao
APEC năm 2006. Quan hệ ngoại giao, các hoạt động hợp tác kinh tế, đầu tư, mở
rộng thị trường xuất khẩu được củng cố và tăng cường thông qua các cuộc thăm
cấp cao của lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng với sự tham gia của các nhà doanh
nghiệp. Tình hình chính trị ổn định, an ninh - quốc phòng bảo đảm, đã tạo môi
trường thuận lợi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài cũng như các doanh nghiệp
trong nước.
Thị trường và giá cả nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam diễn biến theo
hướng cầu lớn hơn cung như dầu thô, gạo, cà phê, chè, thủy sản Do đó, giá cả
các mặt hàng này tăng cao, có lợi cho hoạt động xuất khẩu.
Bối cảnh trên đây đã tác động trực tiếp, toàn diện đến quá trình và kết quả sản
xuất, kinh doanh của các ngành, các doanh nghiệp và xu thế biến động thị trường,
giá cả trong nước trên cả 2 mặt thành tựu và hạn chế, bất cập của nền kinh tế năm
2007.
Sang đến năm 2008 tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động
phức tạp. Cụ thể:

theo hiệu ứng là các tệ nạn tiêu cực xã hội. Tạo đủ công ăn việc làm cho người lao
động là một thách thức của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2009. Khu vực doanh
nghiệp, đặc biệt khối tư nhân, còn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn
tín dụng. Thu hẹp quy mô và giãn sản xuất, đồng nghĩa với việc cắt giảm nhân
công hoặc sử dụng không hết thời gian làm việc, là những giải pháp phổ biến tại
nhiều đơn vị sản xuất thời gian qua.
Mặt bằng lãi suất đã được điều chỉnh giảm dần suốt 6 tháng cuối năm 2008 nhưng
trên thị trường tín dụng, ngân hàng và doanh nghiệp vẫn chưa tìm được tiếng nói
chung.
Do tình trạng suy thoái kinh tế và thất nghiệp còn gia tăng, nhu cầu tiêu dùng
trong năm 2009 sẽ giảm mạnh. Ngân hàng Thế giới ước tính mậu dịch thế giới sau
khi tăng 6,2% trong năm 2008 sẽ suy giảm còn 2,1% trong năm tới. Từ đó, có thể
xác định một năm khó khăn cho xuất khẩu Việt Nam đang ở phía trước. Mặc dù
giá nhập khẩu cũng có xu thế giảm, nhưng muốn bảo đảm nhập siêu ở mức an
toàn, cần tiếp tục kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập khẩu và cổ vũ thực hành tiết
kiệm trong tiêu dùng và đầu tư.
Trong năm 2009, NHNN đã thành công trong việc kích thích tăng trưởng ở mức
5,3%, trong khi kiềm chế lạm phát ở mức 6,5%. Nền kinh tế đã dần đi vào ổn
định. Năm 2010, NHNN sẽ cố gắng đáp ứng cả hai mục tiêu, nhưng mục tiêu tăng
trưởng sẽ chiếm ưu thế vì tình hình kinh tế thế giới sẽ biến chuyển thuận lợi hơn,
tạo điều kiện cho VN tăng trưởng nhanh hơn so với năm ngoái. Để đạt mức tăng
trưởng 6,5% cho 2010 chúng ta phải chấp nhận một mức độ lạm phát cao hơn
7%. Một mức lạm phát 7-9% có thể chấp nhận được
Kinh tế trong nước có xu hướng tăng trưởng cao, thị trường tài chính, tiền tệ và
kinh tế vĩ mô về cơ bản là ổn định. Mặc dù vậy, giá cả hàng hóa tiêu dùng trong
nước tăng ở mức khá cao. Chỉ số giá tiêu dùng 2 tháng đầu năm nay tăng 3,35%,
hầu hết các nhóm mặt hàng đều tăng.
Như vậy, giá cả hàng hóa tiêu dùng tăng ở mức khá cao trong những tháng đầu
năm nay, nhưng so với cùng kỳ các năm gần đây chưa phải là đột biến. Nguyên
nhân trực tiếp và chủ yếu làm cho giá cả hàng hóa tiêu dùng tăng là do tác động

hiệu ổn định lãi suất thị trường. Đồng thời, trong điều kiện nguồn cung ngoại
tệ dồi dào, từ 01/03/2007, NHNN đã chính thức thực hiện bỏ qui định về trần
lãi suất tiền gửi USD của pháp nhân tại TCTD để hoàn toàn tự do hóa lãi suất
thị trường, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế.
- Hạn chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá, thực hiện cho vay
chiết khấu trong hạn mức phân bổ.
+) Điều hành tỷ giá và quản lý dự trữ ngoại hối phù hợp với điều kiện mở
cửa thị trường tài chính:
- Ngay từ đầu năm 2007, NHNN bắt đầu thực hiện nới lỏng biên độ tỷ giá từ
0,25% lên 0,5% và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên 0,75%. Đồng
thời NHNN đã thực hiện việc mua ngoại tệ theo nhu cầu bán của các NHTM,
Kho bạc Nhà nước và các tổ chức quốc tế với tỷ giá phù hợp để hạn chế sức ép
tăng giá đồng Việt Nam và tăng cường mức dự trữ ngoại hối Nhà nước. Chênh
lệch giữa tỷ giá mua ngoại tệ của NHNN và tỷ giá bình quân trên thị trường
liên ngân hàng đã được thu hẹp, phản ánh sát cung cầu ngoại tệ trên thị trường.
- Thực hiện Quyết định số 597/QĐ-TTg ngày 11/5/2007 của Thủ tướng Chính
phủ, NHNN đã duy trì hạn mức Quỹ bình ổn tỷ giá và giá vàng bằng 30% tổng
dự trữ ngoại hối nhà nước, (xác định theo quý) với biên độ +/- 10% thay vì xác
định hạn mức theo giá trị tuyệt đối như trước đây. Việc xác định hạn mức như
vậy cho phép NHNN tăng cường tính linh hoạt trong điều hành tỷ giá, kịp thời
ứng phó với các rủi ro đảo chiều của các nguồn vốn, đặc biệt là các nguồn vốn
đầu tư gián tiếp của nước ngoài.
- NHNN đã quản lý an toàn dự trữ ngoại hối Nhà nước, đáp ứng mục tiêu
thanh khoản và sinh lời ở mức độ nhất định. Tổng dự trữ ngoại hối Nhà nước
tính theo tuần nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng từ mức 13,6 tuần vào thời
điểm cuối năm 2006 lên gần 18 tuần năm 2007.
- Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Ngoại hối;
triển khai thực hiện Đề án nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam,
khắc phục tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế đã được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt.

bảo đảm bằng cầm cố chứng khoán, ủy thác đầu tư và chiết khấu giấy tờ có giá
nhằm phục vụ việc giám sát thường xuyên hoạt động cho vay đối với nhu cầu
vốn này và có các giải pháp xử lý kịp thời; ban hành Chỉ thị 03/2007/CT-
NHNN ngày 28/5/2007 về kiểm soát quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay
đầu tư, kinh doanh chứng khoán và các văn bản hướng dẫn lộ thực hiện đối với
các NHTM đã cho vay vượt mức khống chế tỷ lệ 3%, giảm dần cho đến thời
điểm 31/12/2007 phải đảm bảo tỷ lệ 3%; tăng cường thanh tra, giám sát việc
mở rộng quy mô và chất lượng tín dụng theo Chỉ thị này.
- Ban hành Chỉ thị số 06/2007/CT-NHNN ngày 02/11/2007 về yêu cầu các tổ
chức tín dụng và các đơn vị trực thuộc NHNN thực hiện các giải pháp đảm bảo
khả năng thanh toán và kiểm soát tổng phương tiện thanh toán.
- Tổ chức họp với các NHTM và NHNN chi nhánh thành phố Hà Nội, Đà
Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh để triển khai thực hiện
các giải pháp cụ thể về tiền tệ, tín dụng. NHNN đã chỉ đạo các NHTM tích cực
tham gia nghiệp vụ thị trường mở, điều chỉnh cơ cấu tín dụng, kiểm soát chặt
chẽ tín dụng đối với một số lĩnh vực có độ rủi ro cao như cho vay để đầu tư,
kinh doanh chứng khoán, cho vay kinh doanh bất động sản, cho vay bằng
ngoại tệ, cho vay tiêu dùng.
- Tiến hành thanh tra tại các TCTD về hoạt động cho vay đầu tư, kinh doanh
chứng khoán, cho vay có bảo đảm bằng cầm cố chứng khoán.
b. Giai đoạn 2008:
 6 tháng đầu năm:
Trong 6 tháng đầu năm, áp lực lạm phát gia tăng mang tính toàn cầu, CPI của Việt
Nam trong 6 tháng tăng bình quân là 15,03%, mức thâm hụt cán cân thương mại ở
mức kỷ lục (hơn 14% GDP). Trước tình hình đó thực hiện các công văn số
75/TTg-KTTH, ngày 15 tháng 1 năm 2008, và 319/TTg-KTTH, ngày 03 tháng 03
năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp kiềm chế lạm
phát năm 2008 cùng với nghị quyết 10/2008/NQ_CP về các biện pháp kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững;
NHNN đã thực hiện các giải pháp điều hành CSTT như sau:

+ Tăng lần 2: Lãi suất cơ bản lên 14%/năm, lãi suất tái cấp vốn lên 15%/năm, lãi
suất chiết khấu lên 13%/năm.
+) Nâng dự trữ bắt buộc đối với các NHTM và qui định các NH mua tín phiếu
NHNN:
- Ban hành Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN về việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc
đối với tổ chức tín dụng. Cụ thể, mở rộng diện các loại tiền gửi phải dự trữ bắt
buộc bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, thay vì áp dụng dự trữ
bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn từ 24 tháng trở xuống như
thời gian qua. Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc 1% đối với các loại tiền gửi so
với tỷ lệ quy định hiện nay. Không điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với
các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn nông nghiệp nông thôn.
- Ban hành quyết định số 346/QĐ-NHNN về việc phát hành tín phiếu NHNN bằng
VND dưới hình thức bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng với nội dung chủ yếu
là: tổng giá trị tín phiếu NHNN phát hành bắt buộc đợt này là 20.300 tỷ đồng, kỳ
hạn là 364 ngày, lãi suất là 7,80%/năm; hình thức phát hành là ghi sổ; giá trị tín
phiếu được phân bổ cho từng tổ chức tín dụng theo quy mô, tỷ trọng huy động vốn
bằng đồng Việt Nam của từng tổ chức tín dụng; thời điểm phát hành tín phiếu là
ngày 17/3/2008.
+) Bình ổn thị trường ngoại hối:
- Để bình ổn thị trường ngoại hối, NHNN đã thực hiện hàng loạt biện pháp, như
nới rộng biên độ tỷ giá từ ±1% lên mức ±2% tạo sự linh hoạt tỷ giá sát với cung -
cầu thị trường; thực hiện mở rộng đối tượng bán ngoại tệ cho các NHTM, việc can
thiệp dựa vào trạng thái ngoại tệ của các NHTM trong ngày, thực hiện minh bạch
các thông tin về dự trữ ngoại hối.
- Bên cạnh đó, NHNN thực hiện giám sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh ngoại tệ,
cấm các tổ chức tín dụng (TCTD) không được mua - bán USD thông qua ngoại tệ
khác, phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra và xử lý các hoạt
động đầu cơ, kinh doanh ngoại tệ trái pháp luật trên thị trường và thiết lập đường
dây nóng. Hành động này đã có tác động nâng cao kỷ luật thị trường, góp phần
tích cực tạo bình ổn thị trường.

05/11/2008
13.0%/năm
2316/QĐ-NHNN ngày
20/10/2008
21/10/2008
14%/năm
1317/QĐ-NHNN ngày
10/6/2008
11/06/2008
- Đã tăng lãi suất tiền gửi DTBB bằng đồng Việt Nam đối với các TCTD từ
5%/năm lên 10%/năm và giảm 1% tỷ lệ DTBB đối với tiền nội tệ và 2% tỷ lệ
DTBB tiền gửi ngoại tệ áp dụng cho các TCTD. Tiếp đến tháng 11 giảm lãi suất
tiền gửi dự trữ bắt buộc xuống 7 % và hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc xuống còn mức 5%
đối với Việt Nam đồng.
Bảng 2:
Lãi suất
DTBB
Quyết định Ngày thực hiện
8,5%/năm
3162/QĐ-NHNN ngày
19/12/2008
22/12/2008
9%/năm
2950/QĐ-NHNN ngày
3/12/2008
5/12/2008
10%/năm
2321/QĐ-NHNN ngày
20/10/2008
21/10/2008

khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế. NHNN đã thực thi CSTT một cách
linh hoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thị trường.
+) Dự trữ bắt buộc:
Từ 1/3/2009, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VND của các tổ
chức tín dụng, đồng thời tiếp tục giữ nguyên lãi suất cơ bản VND.
Cụ thể, lãi suất cơ bản được giữ nguyên ở mức 7%/năm và lãi suất cho vay tối đa
là 10,5%/năm. Tỷ lệ dữ trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn
dưới 12 tháng được điều chỉnh đối với mọi loại hình tổ chức tín dụng
- Ngày 3/4/2009, Thống đốc NHNN (NHNN) đã ban hành Quyết định số 790/QĐ-
NHNN về lãi suất tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với tổ chức tín
dụng (TCTD) và lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ của Kho bạc Nhà nước tại NHNN.
Theo quyết định này, kể từ ngày 3/4/2009, NHNN áp dụng mức lãi suất đối với
tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ gửi tại NHNN của các TCTD là
0,1%/năm, áp dụng kể từ kỳ duy trì dự trữ bắt buộc tháng 4/2009. Tiền gửi bằng
ngoại tệ của Kho bạc Nhà nước tại NHNN cũng được áp dụng mức lãi suất
0,1%/năm.
+) Hỗ trợ tín dụng:
-Ngày 29/9, Thống đốc NHNN ban hành Thông tư số 20/2010/TT-NHNN
hướng dẫn thực hiện các biện pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ để hỗ trợ
tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn.
+) Lãi suất:
Lãi suất tái cấp vốn:
Giá trị Văn bản quyết định Ngày áp dụng
08% 2664/QĐ-NHNN 25/11/2009 01/12/2009
7,0%/năm 2232/QĐ-NHNN 01/10/2009
7% 837/QĐ-NHNN 10/04/2009 10/04/2009
7% 173/QĐ-NHNN 23/01/2009 01/02/2009
- Ngày 23/01/2009 Thống đốc NHNNVN ra Quyết định số 173/QĐ-NHNN về lãi
suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán
điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của

7% 626/QĐ-NHNN 24/03/2009 01/04/2009
7% 378/QĐ-NHNN 24/02/2009 01/03/2009
7,0%/năm 172/QĐ-NHNN 23/01/2009 01/02/2009
-Trước khi nghỉ Tết 2009, NHNN đưa lãi suất cơ bản của VND từ mức 8,5%
xuống còn 7% một năm. Mức cắt giảm 1,5% cũng được áp dụng với các loại lãi
suất tái cấp vốn, tái chiết khấu và cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên
ngân hàng. Theo đó, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 9,5%/năm xuống 8%/năm; lãi
suất tái chiết khấu giảm từ 7,5%/năm xuống 6%/năm; lãi suất cho vay qua đêm
trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh
toán bù trừ của NHNNVN đối với các ngân hàng giảm từ 9,5%/năm xuống
8%/năm.
Với phần dự trữ bắt buộc bằng tiền đồng mà các ngân hàng thương mại gửi ở
NHNN, lãi suất giảm mạnh hơn, từ 8,5% xuống còn 3,6% một năm.
+) Trên thị trường ngoại hối:
- 6 tháng đầu năm 2009, thị trường ngoại hối có những diễn biến không thuận lợi.
Mặt khác do tác động phụ của chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay bằng VND và
việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh nghiệp không muốn
vay ngoại tệ mà chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ, dẫn đến nhu cầu mua
ngoại tệ tăng mạnh, tình hình cung cầu ngoại tệ trở nên căng thẳng. Để tăng nguồn
cung và ổn định thị trường ngoại tệ, NHNN đã triển khai quyết liệt nhiều giải pháp
như:
- Mở rộng biên độ ấn định tỷ giá mua bán USD/VND của các ngân hàng thương
mại từ +/-3% lên +/-5% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng cùng phối hợp với
các biện pháp điều tiết cung cầu ngoại tệ trên thị trường như bán ngoại tệ hỗ trợ
nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống;
điều hoà ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ trên ngân hàng.
- Áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ của các doanh
nghiệp và người dân; yêu cầu các NHTM nhà nước giảm lãi suất cho vay và huy
động bằng ngoại tệ (lãi suất cho vay giảm từ mức 6-6,5%/năm xuống không quá
4%/năm kể từ ngày 15/4/2009 và giảm tiếp xuống mức không quá 3%/năm kể từ

chiết khấu 6%/năm. Lãi suất cho vay VND của NHTM tối đa là 12%/năm, lãi suất
thị trường liên ngân hàng biến động không lớn (8 – 10%/năm), lãi suất huy động
VND kỳ hạn dưới 12 tháng dưới 11%/năm; lãi suất huy động bằng USD khoảng 3
– 4%/năm và cho vay khoảng 5 – 8%/năm.
- NHNN đã ban hành Thông tư số 07/2010/TT-NHNN ngày 26/02/2010 quy định
về cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận của TCTD đối với khách
hàng, trong đó, mở rộng cho vay trung, dài hạn bằng VND theo lãi suất thỏa thuận
phù hợp với Nghị quyết số 23/2008/QH12 ngày 06/01/2010 của Quốc hội và kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 và chỉ đạo của Thường trực Chính phủ.
+) Điều chỉnh tỷ giá, thực hiện các biện pháp chống găm giữ và đầu cơ, can
thiệp bán ngoại tệ cho các nhu cầu nhập khẩu mặt hàng thiết yếu nhằm từng
bước tạo sự chuyển biến tích cực của thị trường ngoại tệ:
- Ngày 10/02/2010, Thống đốc NHNNVNban hành Thông tư số 03/2010/TT-
NHNN quy định mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng đô la Mỹ của tổ chức kinh tế tại
tổ chức tín dụng (TCTD) là 1%/năm và quyết định điều chỉnh tỷ giá bình quân liên
ngân hàng áp dụng cho ngày 11/02/2010 là 18.544 VND/USD (tăng 3,36%).
- Thực hiện hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, hạ lãi suất tiền gửi bằng ngoại
tệ của các doanh nghiệp và nâng tỷ giá danh nghĩa lên thêm 3,36%. Cùng lúc,
NHNN chỉ đạo các tổ chức tín dụng tích cực mua lại ngoại tệ của một số tập đoàn,
tổng công ty nhà nước. Đồng thời, NHNN bán ngoại tệ ở mức hợp lý để hỗ trợ
ngoại tệ nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất. Ngoài ra, cơ quan này
cũng tiến hành đóng cửa sàn vàng, góp phần quan trọng ổn định tỷ giá cũng như
ổn định thị trường ngoại hối.
+)Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp bình ổn thị trường vàng theo chỉ
đạo của Thủ tướng Chính phủ:
- Để bình ổn thị trường vàng trong nước, đưa giá vàng trong nước quy đổi bằng tỷ
giá thị trường tự do về sát với giá vàng thế giới để tránh tình trạng nhập lậu vàng,
từ ngày 5/2 đến ngày 24/2/2010, NHNN đã cho phép Công ty SJC nhập khẩu 6 tấn
vàng. Theo báo cáo, Công ty đã bán hết ra thị trường. Sau khi triển khai biện pháp
can thiệp thị trường vàng, đến nay, về cơ bản đã đạt được các mục tiêu nói trên

trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế. Điều này thể hiện ở những kết quả sau:
- Qui mô thị trường tiền tệ mở rộng và ổn định, không để xẩy ra những cú sốc về
lãi suất và tỷ giá trước những biến động khó lường của tình hình thị trường tài
chính quốc tế
+ Lãi suất thị trường liên ngân hàng mặc dù có biến động mạnh trong vài ngày
giữa tháng 11/2007, song, nhìn chung, mặt bằng lãi suất trong năm ổn định: lãi
suất huy động và cho vay của TCTD vẫn giữ được ổn định và có xu hướng giảm
nhẹ so với cuối năm 2006, tạo điều kiện cho việc huy động vốn và đầu tư cho tăng
trưởng kinh tế.
+ Tỷ giá danh nghĩa giao động nhẹ và có xu hướng giảm (VND lên giá nhẹ), trong
bối cảnh lạm phát gia tăng đã góp phần tích cực trong việc ổn định lãi suất VND
và ổn định thị trường tiền tệ. Mặt khác, tỷ giá thực thấp hơn tỷ giá hối đoái danh
nghĩa trên thị trường, cho nên tác động khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập
khẩu, hỗ trợ ổn định lãi suất VND.
- Diến biến tổng phương tiện thanh mặc dù tăng cao, nhưng cơ cấu thay đổi theo
chiều hướng tích cực
+ Tỷ lệ tiền mặt trên TPTTT giảm từ mức 19,3% năm 2006 xuống mức 17,8%
năm 2007.
+ Tỷ lệ ngoại tệ trên tổng tiền gửi từ mức 25,9% năm 2007 xuống còn 22,6% năm
2007 - giảm mức độ đô la hoá của nền kinh tế.
- Hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế
+ Trong hoạt động đầu tư tín dụng của các TCTD có những diễn biến tích cực, các
sản phẩm dịch vụ tín dụng đã được đa dạng hơn, nhiều lĩnh vực cho vay đầu tư
được mở rộng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều điều kiện thuận lợi tiếp cận
nguồn vốn vay ngân hàng, cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn, cho vay
chính sách hỗ trợ các hộ nghèo, hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn cũng được
mở rộng, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Bên cạnh đó,
việc cho vay tiêu dùng cũng được mở ra rất đa dạng đáp ứng đầy đủ các nhu cầu
của xã hội.
+ Tín dụng đầu tư vào thị trường chứng khoán được kiểm soát chặt chẽ và giảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status