KHOATHỦYSẢN
❧•❧
BÁOCÁO
ĐỀTÀINGHIÊNCỨUKHOA
HỌCSINHVIÊNNĂM2014
TÊNĐỀTÀI:
“Điềutrahiệntrạngnuôixenghépmộtsốđốitượngthủysản
cógiátrịkinhtếởhuyệnPhongĐiềnvàhuyệnPhúVang
tỉnhThừaThiênHuế”
Giáoviênhướngdẫn:TS.GVCTônThấtChất
Bộmôn:Nuôitrồngthủysản
HUẾ,THÁNG11NĂM2014
LỜICẢMƠN
Lời đầu tiên, chúng em xin cảm ơn quý thầy cô khoa Thủy Sản trường đại
học Nông Lâm Huế, những người đã trực tiếp giảng dạy chúng em, truyền đạt
những kiến thức bổ ích, đó chính là nền tảng kiến thức cho chúng em thực hiện
đề tài này. Đặc biệt, chúng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS.Tôn Thất
Chất, là người trực tiếp hướng dẫn chúng em thực hiện đề tài này. Cảm ơn thầy
đã tận tình, quan tâm, giúp đỡ chúng em trong thời gian thực hiện đề tài, giải đáp
những thắc mắc của chúng em trong qua trình thực hiện, nhờ đó chúng em mới
nước ta và nhiều giải pháp khác nhau nhằm nâng cao sản lượng nuôi trồng cao
hơn khi đứng trước nhiều thách thức lớn như: con giống, dịch bệnh, chậm phát
triển,…
Để khắc phục hậu quả việc nuôi chuyên canh tôm, cũng như nâng cao hiệu
quả của việc nuôi trồng nhiều biện pháo kỹ thuật mới như mô hình nuôi ghép,
nuôi luân canh đã được nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn. Trong đó thì mô
hình nuôi xen ghép là mô hình phù hợp với mức độ đầu tư không cao, số lượng
ao ít, có thể giúp người dân tận dụng nguồn thức ăn sẵn có trong ao nuôi, loại bỏ
cácchấtgâyônhiễm
Việc kết hợp một số đối tượng nuôi nhằm cải thiện môi trường ao nuôi,
giảm một số dịch bệnh thường xảy ra trong ao nuôi và mang lại hiệu quả kinh tế
cũng là mô hình được nhân rộng trong xu hướng nuôi an toàn hiện nay. Nuôi xen
ghép không chỉ biết đến ở các vùng đầm phá mà hiện nay ở các ao nước ngọt hay
các vùng trồng lúa không đem lại hiệu quả kinh tế người dân cũng đã chuyển đổi
sang nuôi xen ghép các đối tượng cá nước ngọt, nuôi cá và ếch, trồng sen nuôi
cá… “Phong Điền ngày càng có nhiều hộ lựa chọn mô hình trồng sen, xen cá là
vì, huyện và chính quyền địa phương có chủ trương và luôn tạo điều kiện để giúp
bà con chuyển đổi một số diện tích trồng lúa không mấy hiệu quả sang trồng các
loại cây trồng khác có hiệu quả hơn” ( ông Hồ Đôn, Chủ tịch UBND xã Phong
Anchobiết)
Mô hình nuôi xen ghép ngày càng phổ biến và đa dạng xuất phát từ vấn đề
trên, nhóm sinh viên chúng em đã thực hiện đề tài: “Điều tra hiện trạng nuôi
xen ghép một số đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế ở huyện Phong Điền và
huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế” với mục tiêu tổng quát là thông qua
điều tra để nắm được hiện trạng nuôi xen ghép một số đối tượng thủy sản có giá
trị kinh tế ở huyện Phong Điền và Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế góp phần đa
dạngđốitượng,loạihìnhnuôi,giúpnuôitrồngthủysảnpháttriểnbềnvững.
1.2. Mụctiêucụthểcủađềtài:
Tình hình nuôi xen ghép các đối tượng ở huyện Phong Điền và Phú Vang,
tỉnhTTHuế
trong đó: tôm sú: 61ha, tôm chân trắng 10,83ha), nuôi trồng thuỷ sản 8 tháng đầu
nămvẫnđạtđượcmộtsốkếtquảnhấtđịnh.
Tổng diện tích thả nuôi toàn Tỉnh: 6.447ha đạt 98 % so với kế hoạch và
tăng 4,0 % so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó: Diện tích nuôi nước lợ, mặn:
4.384ha đạt 101% so với kế hoạch, tăng 4,0 % so với cùng kỳ năm trước. Diện
tích nuôi chuyên tôm ao hồ: 442,6ha (tôm sú : 223,6 ha, tôm chân trắng : 219ha).
Diện tích nuôi xen ghép, chuyên cá là: 3.941,4 ha (nuôi xen ghép ao hồ là 2.978,8
ha; nuôi xen ghép chắn sáo ở đầm Sam Chuồn huyện Phú Vang 946,6 ha; nuôi
chuyên cá ao hồ 16 ha).Diện tích nuôi nước ngọt : 2.063 ha đạt 94,5 % kế hoạch,
tăng3,9%sovớicùngkỳnăm2013.
Nuôi cá lồng: 4.189 lồng, đạt 99,1% so kế hoạch, tăng 0,3 % so với cùng
kỳ năm 2013. Trong đó:Lồng lợ: 2.259 lồng, Lồng ngọt: 1.930 lồng. Sản lượng
thu hoạch đến nay: 8.904,4 tấn. Trong đó:Sản lượng nước lợ, mặn là 5.435,5 tấn
tổng các loại (tôm chân trắng, tôm sú, cua, cá…) tăng 33,7 % so với cùng kỳ năm
2013 tập trung tại huyện Phú Vang, Phong Điền, Phú Lộc, Quảng Điền và thị xã
HươngTrà.
Năm nay, người nuôi đã chấp hành khung lịch thời vụ khá tốt. Ngoài ra,
người dân đã thâ
̣
n trọng hơn trong chọn thời điểm thả nuôi thích hợp nên viê
̣
c thả
giống tôm sú nuôi chuyên được đánh giá là muô
̣
n hơn so với năm trước. Một số
diện tích bà con đưa vào nuôi xên ghép nhiều đối tượng nên diện tích nuôi
chuyên năm nay giảm. Nuôi xen ghép có tăng hơn do diện tích nuôi chắn sáo của
đầmSamChuồngcósựràsoátthốngkêlạivàtănglênsovớicùngkỳnăm2013.
Lượng cá giống phục vụ nuôi xen ghép năm nay được các địa phương ương
và nhâ
khoảng80haởĐiềnHương).
Nuôi cá lồng nước lợ tiếp tục được người dân phát huy, năm nay người
nuôi tăng số lượng thả giống hồng mỹ, cá mú, vẫu, giò, cá chim trắng vây vàng
và giảm tỷ lê
̣
thả giống cá chẽm do chất lượng giống của cá chẽm trong những
năm trước được đánh giá không tốt, tỷ lê
̣
hao hụt lớn, khó tiêu thụ và hiê
̣
u quả
thấp.
Nuôi cá nước ngọt tiếp tục phát triển ổn định, thu hút nhiều địa phương tham gia,
nhất là các vùng có mặt nước ngọt, ruộng trũng như Hương Thuỷ, Phong Điền,
Quảng Điền, Phú Lộc, Phú Vang Nhiều địa phương phát triển tốt nghề nuôi cá
lồng trên các loại mặt nước đầm phá có nồng độ muối thấp (Quảng Điền), sông
hồ.
Kết quả sơ bô
̣
cho thấy, đối với các hình thức và phương thức nuôi đều có lãi, rất
ít hô
̣
lỗ và hòa vốn. Hy vọng kết quả nuôi cả về năng suất, sản lượng, hiê
̣
u quả
kinhtếnămnaysẽcaohơnnăm2013.
1.2. Vị trí địa lý huyện Phong Điền và huyện Phú Vang – tỉnh Thừa Thiên
Huế:
Phong Điền là huyện nằm ở cửa ngõ phía bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, rộng
953,751km
C, trung bình tháng lạnh nhất (tháng giêng) là
1920
o
C, tháng nóng nhất (tháng bảy) là 29,4
o
C. Nhiệt độ cao nhất vào mùa hè
đạt4041
o
C,thấpnhấtvàomùaĐôngxuống89
o
C.
c.Chếđộmưa
Phong Điền là huyện có lượng mưa trung bình năm gần 3.000 mm, tăng
dần từ đông sang tây, từ đồng bằng lên vùng núi. Lượng mưa trong năm tập trung
chủ yếu vào mùa mưa chính từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm đến 7275% lượng
mưa năm. Tám tháng còn lại chỉ chiếm 2530%. Đây là nguyên nhân chủ yếu gây
tìnhtrạngngậplụtvàomùamưavàthiếunước,khôhạnvàomùahè.
d.Gióbão,dông
Phong Điền chịu ảnh hưởng của bão nhiều nhất vào tháng 9 (35%), tháng
10 (28%) và tháng 8 (18%). Có năm không có cơn bão nào, nhưng có năm 34
cơn liên tiếp. Nhìn chung số lượng bão không nhiều nhưng thiệt hại gây ra rất
nghiêm trọng vì gió mạnh kèm theo mưa to và rất to, gây lũ lụt lớn và sạt lở bờ
biển.
Ngoài bão còn códônglà hiện tượng phóng điện (sấm sét) thường xảy ra từ
tháng 4 đến tháng 9, nhiều nhất là tháng 5. Dông thường kèm theo mưa rào, đôi
khi có gió mạnh. Vào mùa Hè cũng thường cólốcnhất là khi có gió tây khô
nóng. Nhiều cơn lốc có sức gió mạnh cấp 10 cuốn phăng cây cối, nhà cửa, gây
nhiềuthiệthạikhôngkémgìbão.
Sương mùcũng là hiện tượng phổ biến ở Phong Điền. Có ba loại : sương mù
bình lưu hình thành khi không khí ấm và ẩm tràn qua mặt đất, mặt nước sông
huyện A Lưới trên độ cao 900m chảy về phía bắc rồi đông bắc qua vùng rừng núi
A Lưới, Hương Trà và Phong Điền. Qua khỏi cầu An Lỗ vào địa phận Quảng
Điền, sông đổi hướng đông nam, uốn khúc quanh co trên đồng ruộng Quảng
Điền, Hương Trà rồi nhập vào sông Hương ở ngã ba Sình cách Huế 9km về phía
bắc.Sôngcóchiềudài94km,diệntíchlưuvực938km
2
.
Rào Trànglà nhánh tả ngạn sông Bồ, bắt nguồn từ đỉnh Trường Sơn ở độ cao
1.360m chảy về đông nam rồi đổ vào sông Bồ. Có chiều dài 27km, diện tích lưu
vực 147km
2
, độ dốc rất lớn đến 48,6m/km. Là nhánh sông có nhiều nước vì nằm
trong tâm mưa của tỉnh, hằng năm đổ vào sông Bồ đến 20% tổng lượng nước
sôngnàycungcấpchosôngHương.
Sông Ô Hô cũng là nhánh tả ngạn sông Bồ, nhưng nằm ở địa hình đồi trước
núi. Sông bắt nguồn ở cao độ 25m trên mực biển, có chiều dài 19km, diện tích
lưu vực rộng 583km
2
. Ô Hô cũng là sông ở vùng mưa nhiều, hằng năm cung cấp
một lượng nước hàng chục triệu m
3
. Tuy vậy, do lưu vực sông là nơi dân cư, làng
mạc tập trung đông đúc nên dân sinh thường bị ảnh hưởng trực tiếp bởi lũ lụt
mùamưavàkhanhiếmnướcvàomùaHèkhimựcnướcbịrútxuốngquáthấp.
Khe, suối, hói, bàu, hồ, trằm :cũng là những dạng cung cấp nước phân bố
hầu như khắp nơi trong huyện. Khe A Đong, suối nước nóng Thanh Tân…ở
Phong Mỹ, Phong Xuân, Phong Sơn. Hói Hiền Lương ở Phong Hiền và các hói ở
Phong Hòa, Phong Bình…Hồ Hòa Mỹ ở Phong Mỹ. Trằm mỹ Xuyên, trằm Ô
Môi, trằm Niêm, trằm Thiềm ở Phong Hòa; trằm Hóa Chăm, trằm Bàu Bàng ở
PhongBình…làcácđịachỉtiêubiểu.
tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất, chiếm tới 30%
lượngmưacảnăm.
d.Nắng
Do nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa nên lượng bức xạ mặt trời khá
lớn. Bình quân cả năm bức xạ 7085Kcal/cm
2
/năm, số giờ chiếu sáng trung bình
2000 giờ/năm. Các tháng mùa nóng có lượng bức xạ chiếm 6364% tổng lượng
bức xạ cả năm, có giờ chiếu sáng trung bình 170250 giờ/tháng. Các tháng còn lại
cólượngbứcxạtừ3637%,sốgiờchiếusángkhoảng60100giờ/tháng.
e.Gióbão
Chịuảnhhưởngcủa2hướnggióchính:
+ Gió mùa Tây Nam: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, gió khô nóng, bốc hơi mạnh
gâykhôhạnkéodài.
+ Gió mùa Đông Bắc: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, gió thường kèm
theomưalàmchokhíhậulạnh,ẩm,dễgâylũlụt.
+ Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 9 10 thường gây hiện tượng lũ lụt.
(nguồnUBNDhuyệnPhúVang).
2. TìnhhìnhnuôitrồngthủysảntạihuyệnPhongĐiềnvàhuyệnPhúVang
2.1.TìnhhìnhnuôitrồngthủysảntạihuyệnPhongĐiền
Cho đến nay, thời gian xuất hiện nghề nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn
Phong Điền vẫn chưa được xác định một cách chính xác. Tuy nhiên nghề này có
lẽ đã được hình thành sau nghề đánh bắt thuỷ sản. Trong suốt thời kì phong kiến
và thực dân, vùng đất Phong Điền có mức độ tập trung dân số chưa đông, tình
hình chính trị xã hội có nhiều biến động. Đặc điểm tự nhiên của vùng đất Phong
Điền có nhiều ao hồ, bàu, trằm đã cung cấp nguồn thuỷ sản tự nhiên dồi dào cho
nhu cầu của nhân dân. Do vậy, chưa có động lực thúc đẩy nghề nuôi trồng thuỷ
sản phát triển. Tuy nhiên, phần lớn dân cư Phong Điền đều có nguồn gốc từ các
xã nông nghiệp đã tập hợp được những người lao động có kinh nghiệm nghề ngư
tạo nên các tổ, nhóm nuôi trồng thuỷ sản. Hình thức nuôi trồng thuỷ sản đã có sự
thay đổi đáng kể. Ngoài hình thức nuôi trồng riêng lẻ theo hộ gia đình đã hình
thành các tổ nhóm. Việc thành lập các tổ nhóm nuôi trồng có sự trợ giúp của hợp
tác xã đã tiến hành khai thác diện tích mặt nước ở các bàu, trằm để mở rộng địa
bàn. Các bàu, trằm nước ngọt: bàu Mỹ Xuyên, trằm Niêm, bàu Sen, bàu Bàng,
bàu Co, trằm Bàu Lầy, hồ Hoà Mỹ đã được sử dụng một phần để nuôi trồng
thuỷ sản nước ngọt. Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản trong những năm 19751993
trực thuộc sự quản lí của cáchợp tác xã nông nghiệp. Từ sau năm 1993, với việc
triển khai nghị định 64CP đã thực hiện giao khoán diện tích ruộng đất, mặt nước
cho hộ nông dân nên hoạt động nuôi trồng thuỷ sản đã thay đổi. Các hộ nông dân
đã có quyền chủ động phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản. Toàn bộ diện tích
nuôi trồng thuỷ sản hiện nay trên địa bàn huyện đều thuộc về các hộ cá thể. Phần
lớn diện tích các ao hồ, bàu, trằm tự nhiên trong huyện đã được khai thác để phát
triển nuôi trồng thuỷ sản. Diện tích nuôi trồng và sản lượng cá tăng tương đối
nhanh. Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt của huyệnnăm 2000 là
35,5ha;năm2004là161,9ha.
Việc nuôi cá nước ngọt ở Phong Điền bao gồm hai hình thức: Hình thức nuôi cá
ởao,hồ,bàu,trằmvàhìnhthứcnuôicálồngtrênsông.
Nuôicátrongcácaohồ,bàu,trằm
Phong Điền là huyện có thế mạnh về diện tích mặt nước khá rộng lớn
khoảng 4065 ha bao gồm sông, suối, ao hồ và đầm phá. Tính cho đến năm 2004
chỉ mới sử dụng được 320,11ha để nuôi trồng thuỷ sản. Các khu vực nuôi trồng
thuỷ sản tập trung chủ yếu ở các xã như Phong An 39 ha, Phong Chương28,9 ha,
Điền Lộc 28,5 ha, Điền Môn 14,5 ha, Phong Bình 10,7 ha, Phong Xuân 8,3 ha.
Các xã còn lại chỉ nuôi với quy mô nhỏ dưới 5 ha. Diện tích mặt nước chưa được
sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản còn rất lớn, trong đó có nhiều nơi rất thuận lợi
như các bàu nước ngọt tự nhiên và các hồ thuỷ lợi ở Phong Chương, Phong Mỹ,
Phong An, Phong Xuân. Tổng sản lượng cá nuôi của huyện Phong Điền chưa ổn
định,cónămđạt50tấnnhưngcónămchỉđạtvàichụctấn.
hạn chế lực cản dòng chảy. Địa điểm nuôi cá lồng thuận lợi thường ở hạ lưu có
dòng chảy chậm và các vực nước ven sông. Việc nuôi cá lồng chủ yếu dựa vào
nguồn thức ăn tự nhiên. Nghề nuôi cá lồng là do các hộ gia đình thực hiện, hiện
nay các tổ chức đã có nhiều hoạt động giúp đỡ nghề này phát triển. Các cấp chính
quyền xã, huyện đã tạo điều kiện cho các hộ ngư dân vay các nguồn vốn ưu đãi
như vốn xoá đói giảm nghèo, vốn ODA. Ngoài ra còn tạo điều kiện để vay vốn
tín dụng, trợ giúp kĩ thuật, hỗ trợ nguồn giống. Sản lượng cá do các lồng nuôi
cungcấphàngnămkhoảng20đến30tấn.
Nghề nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt ở Phong Điền chủ yếu vẫn dựa vào
kinh nghiệm truyền thống. Năng suất nuôi cá chưa cao vì chất lượng cá giống và
nguồn thức ăn còn hạn chế. Hiện nay trên địa bàn huyện chưa có các cơ sở sản
xuất cá giống, nguồn giống phải mua từ các địa phương khác ngoài huyện và dựa
vào tự nhiên. Việc nuôi thuỷ sản nước ngọt chịu ảnh hưởng rất lớn bởi chế độ khí
hậu, thời tiết. Ở Phong Điền, vào khoảng tháng 10, 11 có hiện tượng mưa tập
trung rất lớn thường gây ra lũ lụt. Thời gian từ tháng 4 đến tháng 8 có lượng mưa
nhỏ và nắng nóng nên các ao, hồ thiếu nước nghiêm trọng. Sản lượng cá nuôi
được hàng năm không nhiều và không ổn định nên chỉ mới đáp ứng được một
phầnnhucầutiêudùngtronghuyện.
b.Nuôithuỷsảnnướclợ
Nghề nuôi trồng nước lợ mới được hình thành trong thời gian đầu những
năm 1990 ở khu vực phá Tam Giang thuộc xã Điền Hải, Điền Hoà. Diện tích nuôi
trồng năm 2004 của huyện Phong Điền là 63 ha, được phân bố ở các xã: Điền
Hương 15 ha, Điền Lộc 28,3 ha, Điền Hoà 0,5 ha, Điền Hải 16 ha và Phong Hải
3,2 ha. Nghề nuôi trồng thuỷ sản nước lợ hiện nay mới chỉ nuôi các loại như tôm,
ghẹ. Việc nuôi thuỷ sản nước lợ được tiến hành chủ yếu ở các khu vực đầm phá
Tam Giang, cửa sông Ô Lâu. Hình thức nuôi thuỷ sản cũng rất đa dạng: nuôi ở hồ
venđầmphá,nuôiởhồtrêncátvànuôibằngsáo,lồng.
Nuôiởhồvenđầmphá
Hồ được hình thành dựa vào các vụng, triền nước nông ven bờ thuận cho
việc đắp bờ khoanh vùng và gần đây đã được hình thành trên đất cát. Hồ có diện
CôngtyHaoai4ha.Sốdiệntíchnàyđượcthảgiốngvàocuốitháng102003.
Tính đến năm 2004, tổng diện tích nuôi tôm của toàn huyện là là 35ha, sản lượng
tôm thu hoạch hàng năm đạt gần 50 tấn. Hiện tại, tỉnh Thừa Thiên Huế đang
hợp tác với Tập đoàn C.P (Charoen Pokphand Group) Thái Lan để mở rộng và
phát triển nuôi tôm trên cát tại huyện Phong Điền, Quảng Điền theo công nghệ
nuôi tôm Green House (nuôi tôm sạch và khép kín trong mọi thời tiết). Đây là
công nghệ hiện đại nhất của tập đoàn và được triển khai tại nhiều nơi trên thế
giới. Theo thỏa thuận, Tập đoàn C.P Thái Lan sẽ đầu tư nuôi tôm ở 4 khu nuôi
tôm tại Phong Điền và Quảng Điền với diện tích 4.000 ha; trong đó, 1.000 ha
nuôitômcaotriềuvà3.000hanuôitômhạtriều.
2.2. TìnhhìnhnuôitrồngthủysảntạihuyệnPhúVang
Trong những năm gần đây, nghề nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản trên
địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đang từng bước trở thành thế mạnh trong phát triển
kinhtế.
Nuôi trồng thuỷ sản chuyển đổi theo hướng ổn định diện tích, giảm mật độ
nuôi kết hợp đa dạng đối tượng, mở rộng diện tích nuôi xen ghép (tôm, cá,
cua ); tập trung làm tốt việc kiểm dịch, dập dịch, chủ động con giống, hướng
dẫn kỹ thuật, đảm bảo hiệu quả kinh tế, hạn chế được dịch bệnh và tình trạng ô
nhiễm môi trường, sản lượng cũng như giá trị kim ngạch xuất khẩu cũng tăng lên
đángkể.
Huyện Phú Vang là 1 huyện có hệ đầm phá Tam Giang Cầu Hai trải dài
theo chiều dài huyện, nhờ đặc điểm đó, ngề nuôi trồng thủy sản đang dần phát
triển ở huyện. Việc đa dạng các đối tượng nuôi trồng thủy sản ở Đầm phá Tam
Giang Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế thời gian qua đã chứng minh điều đó. Khi
tạo ra sự đa dạng các đối tượng nuôi trồng thủy sản một cách phù hợp cũng đồng
thời tạo ra sự cân bằng sinh thái tự nhiên cho môi trường sống của các đối tượng
thủy sản. Mặt khác, khi đầu tư đa dạng các đối tượng nuôi trồng thủy sản thì tất
cả đều cho thu nhập và thu hồi chi phí đầu tư trực tiếp qua vụ nuôi đến kỳ thu
hoạch, chứ không phải chờ thu hồi giá trị khấu hao như những hình thức đầu tư
khác mất thời gian dài và hay gặp rủi ro khó lường. Đa dạng đối tượng nuôi
ThiênHuế
3.3.Nộidungnghiêncứu
Điều tra diện tích ao nuôi của một số hộ dân trong một số xã thuộc
huyệnPhongĐiềnvàPhúVang
Điềutratìnhhìnhquảnlýchấtlượngaonuôicủacáchộdân.
Điều tra hình thức nuôi và mật độ nuôi các loài xen ghép trong từng mô
hìnhnuôi.
Điều tra các loài thức ăn được sử dụng trong các ao nuôi ( thức ăn công
nghiệp,thứcăntươisống…)
Tìm hiểu một số lợi ích thu được từ quá trình nuôi xen ghép: tận dụng tối
đa được nguồn thức ăn, tiết kiệm được không gian và thời gian, ( có thể nuôi
được nhiều đối tượng nuôi trên một đơn vị diện tích, trong cùng một thời gian có
thểthuđượcnhiềuđốitượngnuôicógiátrịkinhtếcao)
Tìm hiểu một số ảnh hưởng bất lợi từ mô hình nuôi xen ghép để đưa ra
hướng giải quyết: ảnh hưởng khi có dịch bệnh, phải lựa chọn thức ăn phù hợp cho
tấtcảcácđốitượngnuôixenghép,…
Đánhgiáhiệuquảcủatừngmôhìnhnuôixenghépthôngquatốcđộtăng
trưởngvànăngsuấtđạtđược.