Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quốc Hải
LỜI MỞ ĐẦU
Với đặc tính sạch, sản phẩm đa dạng, hiệu quả thì khí được xem là nhiên
liệu lý tưởng để phục vụ ngành điện, công nghiệp, sinh hoạt và là nguyên liệu
trong sản xuất phân bón, hóa chất, nhựa, Các dự án, các công trình nhà máy
chế biến, xử lý khí đã và đang lần lượt được xây dựng, mở rộng.
Tháng 10 năm 1998, nhà máy xử lý khí Dinh Cố đi vào hoạt động, đánh
dấu bước phát triển vượt bật của ngành công nghiệp khí Việt Nam, giải quyết
được vấn đề phải lãng phí đốt bỏ 91.5% lượng khí đồng hành khai thác được từ
mỏ Bạch hổ, cung cấp một khối lượng lớn khí khô, condensate, khí hóa lỏng
phục vụ cho sản suất công nghiệp và tiêu dùng dân dụng nhằm đáp ứng nhu cầu
trong nước và xuất khẩu.
Trong đó LPG và Condensate là 2 sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Nó là
nguồn nguyên liệu để sản xuất xăng, các loại dung môi hữu cơ, nhiên liệu đốt và
những nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp hoá dầu.
Với nhu cầu lớn về LPG và Condensate nhà máy cần có những giải pháp
nhằm tăng công suất để đáp ứng được nhu cầu của thị trường nhưng vẫn đảm
bảo các chỉ tiêu kĩ thuật của sản phẩm thương phẩm. Tháp ổn định condensate
C-02 là tháp chưng cất phân đoạn có nhiệm vụ phân tách LPG và Condensat để
các sản phẩm này đáp ứng đủ các tiêu chuẩn thương mại quy định.
Trong nhà máy xử lý khí Dinh Cố, tháp ổn định C-02 là một mắt xích quan
trọng trong toàn bộ dây chuyền công nghệ. Chức năng của tháp C-02 là tách
Bubro ra khỏi dòng Condensate, mục đích để ổn định thành phần Condensate và
khí hoá lỏng (LPG) cho công đoạn chế biến tiếp theo. Do vậy em chọn đề tài:
“Tìm hiểu quy trình phân tách LPG và Condesat trong tháp C-02 của nhà
máy xử lý khí Dinh Cố ”.
Lớp DH08H2 Trang 1
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quốc Hải
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NHÀ MÁY XỬ LÝ
KHÍ DINH CỐ
1.1. Giới thiệu về ngành khí.
toàn bộ dự án khí Bạch Hổ giúp PV GAS có khả năng cung cấp khí khô, LPG và
Condensate cho thị trường nội địa.
Ngày 4/4/2005, 15 tỷ m
3
khí khô được đưa vào bờ cung cấp cho các nhà
máy điện đánh dấu cột mốc quan trọng cho quá trình phát triến của PV GAS nói
riêng và của ngành công nghiệp dầu khí nói chung.
Hiện nay, PV GAS đang cung cấp cho các nhà máy điện Bà Rịa, Phú Mỹ 1,
Phú Mỹ 2, Phú Mỹ 3, Phú Mỹ 4, công ty sản xuất phân bón, thép ,vật liệu xây
dựng, gốm sứ, gạch thủy tinh, công ty phân đạm và hóa dầu khí
Ngày 18/07/2007, hội đồng quản trị tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam
quyết định số 2232/QD-DKVN về việc thành lập tổng công ty khí.
Tổng công ty khí là công ty TNHH một thành viên và các đơn vị trực thuộc
tập đoàn dầu khí Việt Nam đang hoạt động trong lĩnh vực vận chuyển, tồn trữ, chế
biến, kinh doanh khí và các sản phẩm khí.
1.2. Nhà máy xử lý khí Dinh Cố.
1.2.1 Tên và địa chỉ công ty.
Tên gọi: Nhà máy xử lý khí Dinh Cố (thuộc PVgas) được khởi công xây
dựng ngày 4/10/1997, là nhà máy khí hóa lỏng đầu tiên của Việt Nam.
Địa chỉ: xã An Ngãi, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cách
Long Hải 6 km về phía Bắc, cách điểm tiếp bờ của đường ống dẫn khí từ Bạch
Hổ khoảng 10km.
Diện tích: 89.600m
2
(dài 320 m, rộng 280m).
Lớp DH08H2 Trang 3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quốc Hải
Hình 1.1: Nhà máy xử lý khí Dinh Cố.
1.2.2 Tầm quan trọng của nhà máy đối với nền kinh tế quốc gia.
Nhà máy xử lý khí Dinh Cố cung cấp khí để sản xuất ra khoảng 40% nhu
nhỏ và hầu như không chứa khí H
2
S, hàm lượng C
2
+
>10%.
Bảng 2.1: Thông số kĩ thuật của khí đầu vào.
Áp suất 10900 kPa
Nhiệt độ 25.6
o
C
Lưu lượng 1.5 tỷ sm
3
/năm (4.3 triệu m
3
/ngày)
Hàm lượng nước Bão hòa (thực tế đã được xử lý ngoài khơi)
Bảng 2.2: Thành phần khí đầu vào.
No Tên mẫu Khí Rạng
Đông
Khí Bạch
Hổ
Khí về
bờ
Vị trí theo sơ đồ 28 10 11
Ngày lấy mẫu 21.12.05 21.12.05 21.12.05
Tên cấu tử % Mole % Mole % Mole
1 N
2
0.114 0.129 0.123
H
8
và butane C
4
H
10
.
Bình thường thì propane và butane là các chất ở dạng khí, nhưng để dễ vận
chuyển và sử dụng, người ta cho chúng tồn tại ở dạng lỏng.
LPG không màu, không mùi (nhưng chúng ta vẫn thấy gas có mùi vì
chúng đã được cho thêm chất tạo mùi trước khi cung cấp cho người tiêu dùng để
dễ dàng phát hiện ra khi có sự cố rò rỉ gas).
Mỗi kg LPG cung cấp khoảng12.000 kcal năng lượng, tương đương nhiệt
năng của 2 kg than củi hay 1.3 lít dầu hỏa hoặc1.5 lít xăng. LPG được xem là
một trong những nguồn nhiên liệu thân thiện với môi trường.
Các đặc tính của LPG
LPG là loại khí đốt thuận tiện cho việc vận chuyển và tồn chứa do khả
năng hoá lỏng ở áp suất không quá cao (0.3-0.4 MPa).
LPG có độ sạch cao, không lẫn tạp chất ăn mòn và các tạp chất có chứa
lưu huỳnh, không gây ăn mòn các phương tiện vận chuyển và tồn chứa.
Khi cháy, LPG không gây ô nhiễm môi trường, không gây độc hại kể cả
khi LPG tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm.
Tính chất cơ bản của LPG
Thành phần.
Lớp DH08H2 Trang 6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quốc Hải
LPG chủ yếu bao gồm cả các hydrocarbon parafin có công thức chung
C
định và trọng lượng của một dung tích không khí tương đương.
- Propane: 1 lít propan hơi cân nặng bằng 1.5 lít không khí.
- Butane: 1 lít butan hơi cân nặng bằng 2.0 lít không khí
Tỷ trọng của LPG lỏng nặng 0.51-0.58 so với nước.
Tính độc hại.
LPG không gây độc. Tuy nhiên, nếu hít vào số lượng lớn sẽ bị ngạt thở.
Không nên bước vào nơi có đầy hơi LPG vì ngoài nguy hiểm bị ngạt thở nócòn
có tính dễ cháy
Điểm sôi.
Điểm sôi là nhiệt độ mà ở đó chất lỏng sôi ở áp suất khí quyển.
- Điểm sôi của propane là -42
o
C
Lớp DH08H2 Trang 7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quốc Hải
- Điểm sôi của butane là -4
o
C.
Khi LPG thoát ra ngoài không khí,vì LPG giãn nở và bay hơi nên nhiệt độ
tại đó sẽ giảm nhanh, nếu LPG tiếp xúc với da có thể gây bỏng lạnh.
b) Sản xuất LPG.
Cơ sở lý thuyết quá trình sản xuất LPG
LPG tồn tại trong thiên nhiên ở các giếng dầu hoặc giếng gas và cũng có
thể sản xuất ở các nhà máy lọc dầu. Nguyên liệu ban đầu dùng để sản xuất LPG
là dòng khí thiên nhiên khai thác từ các mỏ dầu hoặc qua quá trình xử lý dầu thô
để thu được LPG. Về cơ bản, quy trình sản xuất LPG gồm các bước:
• Làm sạch khí: Loại bỏ các tạp chất bằng phương pháp lắng, lọc Sau
khi loại bỏ các tạp chất, khí nguyên liệu còn lại chủ yếu là các hydrocarbon như
etane, propane, butane…
C
Propane
Bảng 2.5: Sản lượng propane đạt được ở chế độ vận hành khác nhau.
Thông số AMF MF GPP
Sản lượng 535 tấn/ngày
Hiệu suất thu hồi 85.2%
Áp suất 1800 kPa
Nhiệt độ 45.57
o
C
Hàm lượng C
4
+
max 2.5 %
Butane
Bảng 2.6:Sản lượng butane đạt được ở những chế độ vận hành khác nhau.
Thông số AMF MF GPP
Sản lượng 415 tấn/ngày
Hiệu suất thu hồi 92%
Áp suất 900 kPa
Nhiệt độ 45
o
C
Hàm lượng C
5
+
max 2.5%
Lớp DH08H2 Trang 9
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quốc Hải
c) Khai thác và sử dụng LPG trên thế giới.
cận như Thái Lan, Malaysia, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc. Tuy nhiên trong
nhữngnăm gần đây, nguồn cung LPG cho thị trường Việt Nam từ các nước trong
khu vực Đông Nam Á ngày càng trở nên khan hiếm và không ổn định. Dự kiến
trong tương lai, nguồn cung LPG nhập khẩu cho thị trường Việt Nam sẽ chủ yếu
từ các nước thuộc khu vực Trung Đông.
Ngày 1/1/1995 nhà nước đã quyết định cho nhà máy điện Bà Rịa
Vũng Tàu sử dụng khí đồng hành thay diegel, đồng thời xây dựng nhà
mý khí Dinh Cố tại Bà Rịa. Đây là nhà máy xử lý khí đầu tiên của nước
ta đã chính thức hoạt động, cung cấp LPG phục vụ cho công nghiệp và dân
dụng.
LPG do nhà máy xử lý khí Dinh Cố (Bà Rịa-Vũng Tàu) sản xuất đáp ứng
khoảng 30% nhu cầu thị trường LPG Việt Nam. Sản lượng LPG dự kiến năm
2009 sẽ đạtkhoảng 270.000 tấn. Dự kiến sản lượng LPG Dinh Cố sẽ đạt khoảng
230.000 tấn vào năm 2010, giảm dần xuống còn 173.000 tấn vào năm 2015, tăng
trở lại mức 279.000 tấn vào năm 2020 và đạt mức 230.000 tấn vào năm 2025 (số
liệu báo cáo đầu tư dự án Kho LPG lạnh Thị Vải của PVGAS). Sản phẩm LPG
của nhà máyDinh Cố đã được Quatest 3 cấp chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn
quốc tế ASTMD 1835-03.
LPG được sản xuất tại Dinh Cố sử dụng nguồn nguyên liệu là khí đồng
hành được vận chuyển từ các mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng. Khí đồng hành tại
các mỏ này có hàm lượng H
2
S và CO
2
rất thấp (0.4-4%), thuận lợi cho chế biến
và sử dụng.
Về tiêu thụ LPG ở Việt Nam đã có trước những năm 1975. Nhưng mãi
đến năm 1991, do Nhà nước có ban hành chính sách mở cửa để thu hút đầu tư
nước ngoài, kết hợp với sự đổi mới, nâng cao mức sống của nhân dân lúc đó
LPG được quay lại sử dụng ở Việt Nam và hình thành các công ty chuyên cung
cơ học, chất ăn mòn và các tạp chất có chứa lưu huỳnh không đáng kể, hàm
lượng sản phẩm trắng cao.
b). Tính chất cơ bản của Condensate
Thành phần:
Là các hydrocarbon no có phân tử lượng và tỷ trọng lớn hơn butan như
pentane, hexane, heptane Ngoài ra còn chứa các hydrocarbon mạch vòng, các
nhân thơm, và một số tạp chất khác.
Một số đặc tính kỹ thuật của condensate Việt Nam:
+ Áp suất hơi bảo hoà (psi): 12.
+ Tỷ trọng: 0.7352.
+ Độ nhớt ở 20
o
C (cSt): 0.796.
+ API: 12.
+ Trọng lượng phân tử: 107.
+ Chỉ số octan: 65.
Condesate Việt Nam có 2 loại:
Loại 1: Condensate được tách từ bình lỏng đặt tại giàn khoan. Khí đi ra từ
bình tách khí (C
1
- C
4
) ở áp suất (3-40 bar) và nhiệt độ 103
o
C. Sau đó khí khô
theo đường ống 12 inch xuống đáy biển đến giàn nhẹ BK3 và quay trở lại CPP2
với chiều dài 6300m, nhiệt độ 20-25
o
C do đó khí đồng hành sẽ được giảm nhiệt
độ từ 80-90
max 2%
Ứng dụng condensate
Có thể chế biến thành các sản phẩm sau:
- Naphtha: (xăng gốc, dùng để pha xăng)
- White spirit: dung môi pha sơn
- IK: Illuminat kerosen: dung môi, dầu hỏa
- Diesel Oil-Fuel Oil.
c). Tình hình sử dụng Condensate tại Việt Nam hiện nay
Ngoài một lượng nhỏ condensate được sử dụng trong việc sản xuất xăng
dung môi dùng trong công nghệ hoá học, condensate Việt Nam được sử dụng
chủ yếu cho mục đích sản xuất xăng nhiên liệu như là một cấu tử phối liệu xăng
sau khi đã qua quá trình chế biến như đang thực hiện ở nhà máy lọc dầu Cát Lái.
Thực chất là xử lý condensate rồi phối trộn với xăng có chỉ số octan cao và phụ
gia nhập ngoại (Reformate, MTBE ). Tuy nhiên, từ tháng 7/2001 chính phủ đã
Lớp DH08H2 Trang 14
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quốc Hải
ban hành nghị định cấm nhập khẩu và lưu thông xăng pha chì và đưa ra tiêu
chuẩn về xăng không chì gồm M-90, M-92, M-95. Vì vậy, việc sử dụng
condensate làm cấu tử phối trộn trực tiếp để sản xuất xăng không mang lại hiệu
quả kinh tế và không thoả mãn các tiêu chuẩn kỹ thuật của xăng thương phẩm.
Để xử lý tốt hơn condensate nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn
nguyên liệu này, trên thế giới, người ta đã áp dụng công nghệ isome hoá nhằm
chuyển hoá các n-parafin thành các parafin mạch nhánh có chỉ số octane cao
hơn nhiều và đáp ứng các yêu cầu của xăng động cơ ngày càng khắt khe hơn về
chất lượng và bảo vệ môi trường: giảm hàm lượng chất thơm, MTBE, các phối
tử có chỉ số octane cao trong phối liệu tạo xăng.
2.3. Mô tả dây chuyền sản xuất và nguyên lý cấu tạo các thiết bị chính.
2.3.1 Tìm hiểu về sơ tổng quát, chế độ hoạt động của nhà máy.
Theo thiết kế nhà máy có thể hoạt động ở các chế độ khác nhau:
Chế độ AMF (Absolute Minium Facility): Cụm thiết bị tối thiểu tuyệt đối.
bằng dầu nóng nhờ thiết bị gia nhiệt E-07.
Dòng khí thoát ra từ Slug Catcher được vào bình tách lọc V-08. Khí từ
đầu ra của V-08 được đưa vào thiết bị hòa dòng EJ-01 A/B/C để giảm áp từ 109
bar xuống 47 bar Nhiệm vụ của EJ-01 A/B/C giữ áp suất làm việc của tháp C-
01 ổn định.
Tháp C-05 hoạt động ở áp suất 47 bar, nhiệt độ 20
o
C. Dòng khí từ đỉnh
tháp C-05 được đưa ra đường khí thương phẩm để cung cấp cho nhà máy điện.
Lỏng tại đáy C-05 được đưa vào đĩa thứ 1 của tháp C-01. Chế độ AMF tháp C-
02 có 2 dòng nhập liệu:
Dòng từ V-03 vào đĩa thứ 14 của tháp C-01.
Dòng lỏng từ đáy tháp C-05 vào đĩa trên cùng của tháp C-01.
Áp suất hơi của condensate giảm đi và được điều chỉnh trong tháp C-01
nhằm mục đích phù hợp cho việc chứa trong bồn chứa ngoài trời. Với ý nghĩa
đó, trong chế độ AMF tháp C-01 hoạt động như là tháp ổn định condensate.
Trong đó, phần lớn hydrocacbon nhẹ hơn butan được tách ra khỏi condensate ở
đáy tháp được trao đổi nhiệt tại E-04A/B và được làm lạnh bằng không khí ở E-
09 để giảm nhiệt độ xuống 45
o
C trước khi ra đường ống dẫn condensate về kho
cảng hoặc bồn chứa TK-21.
2.3.3. Chế độ vận hành MF.
a) Thiết bị:
Lớp DH08H2 Trang 16
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quốc Hải
Thiết bị của chế độ này bao gồm toàn bộ các thiết bị của chế độ AMF (trừ
EJ-01 A/B/C) và được bổ sung thêm các thiết bị chính sau.
+ 1 tháp ổn định Condensate C-02.
+ 3 thiết bị trao đổi nhiệt E-14, E-20.
C
2
được tách ra và đi lên đỉnh tháp C-01, sau
đó được nén từ 25 bar lên 47 bar nhờ máy nén K-01 trước khi dẫn vào đường
khí thương phẩm.
Lớp DH08H2 Trang 17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quốc Hải
Phần lỏng ra từ đáy tháp C-01 được đưa đến tháp C-02. Tháp C-02 làm
việc ở áp suất 11 bar, nhiệt độ đỉnh 60
o
C và nhiệt độ đáy 154
o
C. Tại đây C
5
+
được tách ra và đi ra ở đáy tháp, sau đó được dẫn qua thiết bị trao đổi nhiệt E-
04A/B để gia nhiệt cho nguyên liệu vào tháp.
Sau khi ra khỏi E-04A/B dòng lỏng này được đưa đến làm lạnh tại thiết bị
quạt làm mát bằng không khí E-09 trước khi đưa ra ống hoặc bồn chứa
Condensate thương phẩm TK-21.
Dòng hơi ra khỏi đỉnh tháp C-02 là LPG, được ngưng tụ tại E-03 và đưa
về V-02, một phần được cho hồi lưu trở lại C-02 để đảm bảo sự hoạt động của
tháp, phần còn lại theo đường ống dẫn sản phẩm LPG.
2.3.4. Chế độ vận hành GPP thiết kế.
a) Thiết bị
Chế độ này bao gồm các thiết bị của chế độ MF và được bổ sung một số
thiết bị sau:
+ Một tháp tách C
3
/C
-20
o
C) như 1 dòng hồi lưu ở đỉnh tháp.
Dòng khí ra từ đỉnh tháp C-01 được máy nén K-01 nén từ 29 bar lên 47
bar rồi tiếp tục được làm lạnh trong thiết bị trao đổi nhiệt E-08 sau đó vào tháp
C-04 để tách nước và hydrocarbon nhẹ lẫn trong lỏng đến từ V-03 .
Dòng lỏng ra từ tháp C-04 được đưa lên đĩa thứ 14 của tháp C-01, dòng
lỏng ra từ tháp C-05 được đưa đến đĩa thứ nhất của tháp C-01 đóng vai trò như
dòng hồi lưu ngoài ở đỉnh tháp.
Dòng khí ra từ đỉnh tháp C-02 là hỗn hợp bupro được tiến hành ngưng tụ
hoàn toàn qua hệ thống quạt làm mát không khí E-02, sau đó được đưa tới bình
hồi lưu V-02. Một phần bupro được bơm trở lại C-02 để hồi lưu bằng bơm P-
01A/B, áp suất của bơm có thể bù đắp sự chênh lệch áp suất làm việc của tháp
C-02 (11 bar) và tháp C-03 (16 bar). Phần bupro còn lại được gia đến 60
o
C trong
thiết bị gia nhiệt E-17 trước khi cung cấp cho tháp C-03 bằng chất lỏng nóng từ
đáy tháp C-03. Sản phẩm đáy của tháp C-02 chính là Condensate thương phẩm
được đưa ra bồn chứa hoặc dẫn về Cảng Thị Vải.
Dòng ra từ đỉnh tháp C-02 là hỗn hợp bupro được tiến hành ngưng tụ
hoàn toàn ở nhiệt độ 43
o
C qua hệ thống quạt làm mát bằng không khí E-02,
được đưa tới bình hồi lưu V-02.
Một phần bupro được bơm trở lại tháp C-02 để hồi lưu bằng bơm P-
01A/B, áp suất của bơm có thể bù đắp được sự chênh áp suất làm việc của tháp
C-02 (11 bar) và tháp C-03 (16 bar).
Phần bupro còn lại được gia nhiệt đến 60
o
C trong thiết bị gia nhiệt E-17
Phần thứ nhất khoảng 1/3 lượng khí khô đưa vào thiết bị trao đổi nhiệt
E-14. Sau đó được làm lạnh sâu bằng cách giảm áp qua van FV-1001 để giảm áp
từ 109 bar xuống tới 35 bar, đồng thời với quá trình giảm áp, nhiệt độ của dòng
khí sẽ giảm xuống tới -62
o
C. Lúc này dòng khí sẽ chứa khoảng 56% mol lỏng và
đưa tới đĩa trên cùng của thiết bị tinh cất C-05.
Phần thứ hai khoảng 2/3 sẽ được đưa vào thiết bị CC-01 để thực hiện
việc giảm áp suất từ 109 bar xuốg tới 35 bar và nhiệt độ giảm xuống -12
o
C.
Dòng khí lạnh này sau đó được đưa vào đáy của tháp tinh cất C-05.
Hỗn hợp khí đi ra từ đỉnh tháp tinh cất C-05 có thành phần chủ yếu là
methane và ethane, có nhiệt độ -42
o
C được sử dụng làm tác nhân lạnh cho thiết
bị trao đổi nhiệt E-14 và sau đó được nén tới áp suất 47 bar trong phần nén của
thiết bị CC-01.
Lớp DH08H2 Trang 20
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quốc Hải
Hỗn hợp khí đi ra từ thiết bị này được đưa vào hệ thống đường ống 16
inch đến các nhà máy điện như là khí thương phẩm.
Hỗn hợp lỏng đi ra từ đáy tháp tinh cất C-05 có thành phần là C
3
+
, chủ yếu
là propane được đưa vào đỉnh tháp C-01 như dòng hồi lưu ngoài.
Tháp Deethanizer C-01 là một tháp đĩa dạng van hoạt động như một thiết
bị chưng cất, có nhiệm vụ tách các hydrocarbon nhẹ như methane và ethane ra
khỏi condensate. Tháp hoạt động ở áp suất 27 bar, nhiệt độ đỉnh 10
Condensate ra khỏi đáy tháp C-02 có nhiệt độ cao được tận dụng để gia
nhiệt cho dòng lỏng ra từ đáy V-03 thông qua thiết bị trao đổi nhiệt E-04, đồng
thời nhiệt độ của dòng condensate cũng giảm xuống còn 60
o
C, sau đó được làm
Lớp DH08H2 Trang 21
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quốc Hải
mát tiếp đến 45
o
C tại thiết bị làm lạnh bằng quạt E-09 cuối cùng được đưa vào
bồn chứa hoặc dẫn về kho cảng Thị Vải.
CHƯƠNG 3: THÁP ỔN ĐỊNH C-02
3.1. Cơ sở lý thuyết chưng cất.
3.1.1 Khái niệm.
Chưng cất là phương pháp tách hỗn hợp chất lỏng cũng như hỗn hợp khí
lỏng thành các cấu tử riêng biệt. Dựa vào nhiệt độ bay hơi khác nhau của các cấu
tử trong hỗn hợp, nghĩa là khi ở cùng nhiệt độ thì áp suất hơi của các cấu tử khác
nhau.
Khi chưng cất ta thu được nhiều sản phẩm, hỗn hợp có bao nhiêu cấu tử thì
thu được bấy nhiêu sản phẩm. Với trường hợp chưng cất hỗn hợp hai cấu tử thì
Lớp DH08H2 Trang 22
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Quốc Hải
sản phẩm đỉnh gồm cấu tử có độ bay hơi lớn hơn và một phần ít cấu tử có độ bay
hơi bé hơn, còn sản phẩm đáy gồm cấu tử có độ bay hơi bé hơn và một phần ít cấu
tử có độ bay hơi lớn hơn.
Trong thực tế sản xuất có nhiều phương pháp chưng cất khác nhau. Tùy
theo điều kiện sẵn có, thực tế sản xuất, tính chất hỗn hợp và yêu cầu độ tinh khiết
đối với sản phẩm mà có phương pháp chưng thích hợp:
Chưng đơn giản gồm tách các hỗn hợp gồm các cấu tử có độ bay
hơi rất khác nhau. Phương pháp thường dùng để tách sơ bộ và làm sạch cấu tử
cấu trúc cơ khí nằm ngang trong tháp chưng cất, có tác dụng tạo điều kiện cho
pha hơi đang bay lên và pha lỏng đang đi xuống tiếp xúc với nhau một cách đủ
lâu, đủ tốt để sự trao đổi chất giữa chúng xảy ra hoàn hảo.
Các tháp chưng cất trong nhà máy lọc dầu, trong nhà máy xử lý chế biến
khí từ 10 đến 50 hay 60 đĩa, trong nhà máy hóa dầu có thể nhiều hơn do ở có
nhu cầu phân tách cao hơn, tạo ra những phân đoạn có nhiệt độ sôi khác nhau rất
ít, thậm chí tạo ra các chất gần như nguyên chất.
d. Nguyên tắc hoạt động của tháp.
Hình 3.2. Hoạt động của hơi và lỏng trên các đĩa.
Nguyên liệu được đưa vào tháp ở gần giữa tháp (để cho chất lỏng chảy
xuống dưới có không gian tiếp xúc với hơi ở đáy tháp bị đun nóng bay lên) với
lưu lượng và thành phần đã biết.
Thông thường nguyên liệu dưới dạng hai pha lỏng-hơi. Đĩa mà nguyên
liệu vào được gọi là đĩa nạp liệu.
Phần trên đĩa nạp liệu gọi là vùng cất, phần dưới kể cả đĩa nạp liệu gọi là
vùng chưng. Dòng lỏng nhập liệu sẽ chảy xuống vùng chưng đến đáy tháp. Tại
Lớp DH08H2 Trang 25