Đề tài :
Có quan điểm cho rằng : Doanh nghiệp nhà nước nên
nằm trong khuc vực công, nhưng một số quan điểm khác thì
ngược lại. Hay giải thích và trình bày quan điểm.
Mục lục
1. Khái quát chung.
1.1. Khái niệm khu vực công.
Khu vực công là khu vực phản ánh hoạt động kinh tế chính trị được
tiến hành bởi nhà nước.
Đặc điểm của một cơ quan hay đơn vị được xếp vào khu vực công :
• trong một chế độ dân chủ, những người chịu trách nhiệm lãnh
đạo các cơ quan công lập đều trực tiếp hay gián tiếp được công chúng bầu ra
hoặc được chỉ định.
• Các đơn vị trong khu vực công được giao một số quyền hạn
nhất định có tính chất bắt buộc, cưỡng chế mà các cơ quan tư nhân không
thể có được.
Khu vực công gồm:
- hệ thống các cơ quan quyền lực :
• Cơ quan lập pháp, tư pháp , và hành pháp từ trung ương đến địa
phương
• Hệ thống quốc phòng và các cơ quan an ninh
• Hệ thống các đơn vị cung cấp dịch vụ công
• Hệ thống cơ quan cung cấp an sinh xã hội
- hệ thống các đơn vị kinh tế của nhà nước :
• Các doanh nghiệp nhà nước
• Các định chế tài chính
• Ngân hàng trung ương
• Các đơn vị được nhà nước cấp vốn hoạt động
1.2. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu
tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động
dẫn dắt nền kinh tế đi lên và làm động lực cho các ngành nghề khác phát
triển. Trong quá trình phát triển đất nước hiện nay với sự hoạt động của
mình, DNNN luôn góp phần ngày càng cao trong tăng trưởng kinh tế của đất
nước, luôn là khu vực tạo ra của cải vật chất lớn cho xã hội, chiếm tỷ trọng
cao trong kim ngạch xuất khẩu, đem lại nguồn ngoại tệ cho quốc gia. Ngoài
ra các DNNN không ngừng đổi mới và phát triển, hiện nay nhiều doanh
nghiệp không những có khả năng thực hiện việc kinh doanh và đầu tư ở
trong nước mà còn tham gia đầu tư ở nước ngoài, từ đó nâng cao chất lượng
và hiệu quả hoạt động của DN và đây cũng là một cầu nối với kinh tế nước
ngoài.
Đến cuối năm 2005, sau 20 năm đổi mới khu vực kinh tế nhà nước
vẫn còn đóng góp tới 39% GDP ( trong đó khu vực DNNN chiếm giữ tới
70%), kinh tế dân doanh chiếm 45,5%GDP, kinh tế hợp tác xã đóng góp 8%
GDP, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 15,5% GDP. Trong đó DNNN
đóng góp tới 50% thu ngân sách của quốc gia. (nguồn: viện nghiên cứu quản
lý kinh tế trung ương)
DNNN đóng góp to lớn trong việc tạo ra “bộ mặt” kết cấu hạ tầng
của quốc gia, để nền kinh tế đi lên thì không thể thiếu được những công trình
cơ sở hạ tầng lớn, mà việc xây dựng những công trình này đòi hỏi một lượng
vốn rất lớn, chu kỳ dài, rủi do cao, lợi ích xã hội rộng lớn. Thế nên các
doanh nghiệp bình thường không đủ sức làm và cũng không muốn làm.
Chính nhờ những DNNN mà đất nước ta có những cơ sở hạ tầng lớn như
ngày hôm nay làm động lực cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển đất
nước trong hiện tại và cả trong tương lai. Với một cơ sở hạ tầng tốt đủ đáp
ứng cho nền kinh tế thì đây la một tiền đề quan trọng trong việc thúc đẩy cho
các ngành nghề khác phát triển.
DNNN là những cơ sở quan trọng trong công cuộc hiện đại hóa đất
Trong giai đoạn hiện nay nhà nước đang tích cưc hỗ trợ những ngành
nghề quan trọng tạo động lực phát triển kinh tế như các ngành công nghiệp,
nông nghiệp, vận tải.
2.2. Đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước
Do đây la những doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước nên doanh
thu từ hoạt động kinh doanh sẽ thuộc về nhà nước quản lý, đây là một nguồn
thu quan trọng cho ngân sách nhà nước.
Mức đóng góp ngân sách của 7 tập đoàn, 11 tổng công ty 91 và 56
tổng công ty 90 trong 6 tháng đầu năm của name 2008 cho thấy
Tổng nộp ngân sách của các DNNN là 78.066 tỉ đồng, đạt 68,4% kế
hoạch năm, tăng 58,6% so với cùng kỳ năm 2007. Trong đó, 18 tập đoàn,
tổng công ty 91 đạt 62.484 tỉ đồng, bằng 70% kế hoạch năm, tăng 62% so
với cùng kỳ 2007.
Những tập đoàn, tổng công ty nhà nước có mức nộp ngân sách cao
là: Tập đoàn Dầu khí đạt 75% kế hoạch năm, tăng 18% so cùng kỳ 2007;
Tổng công ty Lương thực miền Nam đạt 94% kế hoạch năm, tăng 38% so
cùng kỳ 2007; Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đạt 66%
kế hoạch năm, tăng 35% so cùng kỳ 2007,...(nguồn: báo điện tử Đảng cộng
sản)
2.3. Điều tiết thị trường phù hợp với tình hình thực tế của đất
nước:
Trong văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nêu rõ:”… Các
thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa .Trong đó nền
kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để
nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế…”. Kinh tế nhà nước ở đây
bao gồm nhiều thành phần góp lại, nhưng “Các tập đoàn, Tổng công ty nhà
nước là lực lượng giữ vai trò then chốt trong nền kinh tế, là công cụ vật chất
nghệ và nhân sự, làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường. Theo đó từ khoảng 6500 doanh nghiệp nhà nước vào đầu năm 2001
đã rút gọn xuống còn khoảng hơn 1.700 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
(Thống kê Bộ tài chính vào tháng 10/2009) kéo theo đó số nhân viên làm
trong doanh nghiệp nhà cũng được tinh giảm xuống nhanh chóng thực với
khoảng 1,9 triệu lao động 54,8 triệu lao động toàn xã hội tức là chỉ sử dụng
khoảng 3,5% số lao động hiện có trong nền kinh tế. Nhưng chỉ với ngần ấy
lao động, các DNNN đã tạo ra 27% GDP của Việt Nam trong năm 2008 nó
cho thấy sự hiệu quả trong việc tạo ra lợi nhuận của các doanh nghiệp nhà
nước trong khi cùng thời kì với các doanh nghiệp tư nhân chiếm nhiều lao
động nhất với 53,7% và tạo ra 46,1% GDP. Nghĩa là 1 lao động ở trong khu
vực nhà nước hiệu quả gấp 9 lần so với 1 lao động ở khu vực tư nhân.
Mặc dù số DNNN bị tinh giảm khá nhiều nhưng với sự đầu tư lớn của
nhà nước, các DNNN cũng đã đầu tư nhiều dự án trọng điểm quan trọng với
vốn lớn và qua đó, gián tiếp tạo ra công ăn việc làm tại từng địa phương có
dự án đầu tư ví dụ dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất, Quảng Ngãi với vốn
đầu tư tổng cộng là 3,5 tỉ USD,nó đã tạo ra 12.000 việc làm trong suốt quá
trình xây dựng và khoảng 2000 kĩ sư sẽ làm việc tại đây khi nhà máy được
vận hành tối đa.
Bên cạnh đó mức lương của người lao động ngày một được cải thiện
theo Theo dự toán mới nhất được thông qua, việc tăng lương tối thiểu lên
830.000 đồng một tháng được thực hiện từ 1/5/2011 từ mức 730.000 như
hiện nay, nghĩa là sẽ tăng khoảng 13,7%,đây là mức tăng khá cao và theo Bộ
trưởng Nội vụ Trần Văn Tuấn đánh giá thì tăng lương đã vượt mức tăng lạm
phát,nó sẽ giúp cho những người lao động đang làm việc trong DNNN có
thể trang trãi thêm trong chi tiêu hàng ngày.
2.5. Giúp cho nền kinh tế tự chủ hơn, hạn chế sự phụ thuộc và
nguy cơ bị thâu tóm của nước ngoài.
Ngày nay DNNN giữ vài trò là xương sống của nền kinh tế với việc
nắm hầu hết các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế với sự hỗ trợ rất lớn từ
hiện nay chúng ta vẫn đang được dùng than với giá rẻ hơn so với các nước
trong khu vực vì TKV đã lấy lợi nhuận từ xuất khẩu với giá cao để bù đắp
cho giá than trong nước, ngoài ra giá điện của VN cũng rẻ hơn với nhiều
nước trong khu vực…..Ngoài ra vào các dịp cao điểm như lễ, tết các DNNN
cũng có nhiều chương trình giảm giá nhằm bình ổn giá cả thị trường giúp
cho đời sống của người dân ít biến động hơn.
Ngoài ra việc nắm giữ hầu hết các lĩnh vực quan trọng cũng giúp cho
các DNNN có thể tạo ra mặt bằng giá cả giúp định hướng giá cả thị trường