CẢI CÁCH TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM THEO HƯỚNG TỰ DO HÓA - Pdf 24

Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1. Tài chính kiềm chế.
1.1.1. Tài chính kiềm chế là gì?
Tài chính kiềm chế là một cơ chế tài chính được đặc trưng hóa bởi sự can thiệp quá
mức của nhà nước vào các hoạt động và các quá trình tài chính. Trong đó, nhà nước sẽ ấn
định những mức lãi suất trần, trực tiếp điều tiết quá trình phân phối tín dụng bằng các
quyết định hành chính nhiều hơn là thông qua cơ chế thị trường, ưu tiên cho khu vực kinh
tế nhà nước và đặt ra các tỷ lệ dự trữ bắt buộc quá cao và kiểm soát chặt chẽ nguồn vốn
trong và ngoài nước.
1.1.2. Hậu quả của tài chính kiềm chế.
Tài chính kiềm chế áp dụng mức lãi suất thấp sẽ khuyến khích đầu tư, từ đó sẽ thúc
đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, nó gây ra không ít những hạn chế về tăng trưởng kinh tế cũng
như sự mất ổn định kinh tế vĩ mô như:
− Tài chính kiềm chế áp dụng mức lãi suất thấp sẽ khuyến khích đầu tư, từ đó sẽ thúc
đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, nó gây ra không ít những hạn chế về tăng trưởng kinh tế cũng
như sự mất ổn định kinh tế, tiềm năng tài chính không được sử dụng và đầu tư vào sản
xuất bởi vì lãi suất thấp thì công chúng sẽ không muốn gởi tiết kiệm mà sẽ hiện vật hóa
dưới dạng vàng, đá quý, ngoại tệ mạnh, hàng hóa tiêu dùng. Vì vậy, gây ra tình trạng thiếu
vốn đầu tư, khan hiếm hàng hóa giả tạo, mất cân đối nghiêm trọng trên thị trường hàng
hóa.
− Cầu về vốn vượt xa khả năng của các nguồn cung cấp nên các danh mục đầu tư có
tỷ suất lợi nhuận cao phải hủy bỏ hoặc sử dụng vốn từ các thị trường ngầm.
− Ngân sách nhà nước luôn phải bao cấp và thiếu hụt vì các doanh nghiệp nhà nước
luôn được ưu tiên vay vốn với lãi suất bao cấp dẫn tới luôn ỷ lại, không sản xuất và kinh
doanh có hiệu quả.
− Hệ thống tài chính không được phát triển và không thể thực hiện được những chức
năng trong việc điều tiết và tạo vốn thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
− Thị trường tài chính có thể không có hoặc manh mún, phân tán và đầy rủi ro, lạm

dịch vụ mới, đa dạng, tiện ích với chi phí và thời gian ít nhất.
− Tự do hoá các dịch vụ tài chính đem đến nhiều cơ hội cho việc chuyển giao công
nghệ và làm giảm thiểu những rủi ro có tính hệ thống.
− Tự do hoá các dịch vụ tài chính tạo điều kiện cho việc thiết lập một chính sách kinh
tế vĩ mô có hiệu quả hơn phù hợp với những điều kiện trong một nền kinh tế mở, trên cơ
sở đó thực hiện phân phối nguồn lực một cách có hiệu quả trên cơ sở khai thác tối đa lợi
thế kinh tế trong nước và thế giới.
1.2.3. Mặt trái của tự do hóa tài chính
Tiềm năng lợi ích của tự do hoá tài chính là rất lớn, tuy nhiên tự do hoá tài chính
cũng cố những mặt trái nhất thiết phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt trong điều kiện
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 2/85
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
xu thế tự do hoá tài chính cũng mới chỉ dừng lại ở những bước đi ban dầu. Những hạn chế
của tự do hoá tài chính thông thường được nhìn nhận trên hai gốc độ:
− Thứ nhất: Tự do hoá tài chính có thể làm tăng thêm khả năng gây ra khủng hoảng
tài chính nếu tiến trình tự do hoá được thực hiện một cách nôn nóng, sai trình tự hoặc
thiếu đồng bộ trong các biện pháp quản lý vĩ mô ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế.
− Thứ hai: Tài chính thường được coi là công cụ quản lý chiến lược và là lĩnh vực đặc
biệt cần được nắm giữ bởi Nhà nước để tập trung thực hiện những mục đích quan trọng
của một quốc gia. Việc mở cửa thị trường tài chính có thể có nguy cơ làm xao nhãng hoặc
thiếu tập trung trong việc điều hành thực hiện những mục tiêu của nhà nước vì các tổ
chức, doanh nghiệp nước ngoài sẽ không quan tâm đến một mục đích nào khác hơn là mục
đích lợi nhuận. Đặc biệt, trong điều kiện hệ thống tài chính nội địa có khả năng cạnh tranh
kém, nền tài chính có nguy cơ bị thống trị bởi các tổ chức, doanh nghiệp tài chính nước
ngoài thì quyền lực kiểm soát, khống chế và điều khiển thị trường tài chính của Nhà nước
sẽ dần bị thu hẹp lại, và do đó có thể phương hại đến mục tiêu chiến lược của quốc gia.
Hơn nữa, việc mở cửa thị trường tài chính nếu không được chuẩn bị kỹ lưỡng có thể sẽ dẫn
đến nhiều hiện tượng tiêu cực, thiếu lành mạnh như lừa đảo, phá sản, đổ vỡ... gây thiệt hại

phiếu.
− Đối với người dân tự do hóa nguồn vốn cho phép họ thực hiện các hoạt động ở
nước ngoài như mở tài khoản ngân hàng, tham gia các hoạt động đầu tư nhằm đạt lợi
nhuận cao.
− Các doanh nghiệp được phép đầu tư và sở hưu các công ty khác nhau, các dòng vốn
được tự do di chuyển từ nơi có tỷ suất sinh lợi thấp sang những nơi có tỷ suất sinh lợi cao.
1.2.5. Điều kiện để cho tự do hóa tài chính thành công
Cải cách tài chính ở Việt Nam, hội nhập tài chính bằng cách mở cửa dần từng bước
các giao dịch thương mại trên lĩnh vực tài chính là một xu hướng tất yếu. Việt Nam muốn
hội nhập tài chính thì chính sách tài chính và chính sách tiền tệ phải linh hoạt - ổn định
đáng tin cậy. Những điều kiện cho việc tự do hóa tài chính thành công là:
− Quản lý kinh tế vĩ mô vững chắc và tiết kiệm quốc gia cao.
− Thực hiện đúng lộ trình tự do hóa kinh tế.
− Hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả.
− Hệ thống giám sát ngân hàng hợp lý và việc thi hành có hiệu quả.
− Không có khoản cho vay mang tính chất chính trị và lạm dụng hệ thống tài chính.
− Một Chính Phủ triệt để chống tham nhũng và lãng phí.
− Tính minh bạch trong công bố thông tin.
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 4/85
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
CHƯƠNG 2
CẢI CÁCH TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
THEO HƯỚNG TỰ DO HÓA
2.1. Chính sách tái cấu trúc nền kinh tế
2.1.1. Tự do hóa tài khoản vãng lai
Trong hoạt động ngân hàng, một tài khoản vãng lai là một tài khoản tiền gửi mở tại
ngân hàng hoặc tổ chức tài chính nào đó, với mục đích cung ứng một cách nhanh chóng và
an toàn phương tiện tiếp cận thường xuyên tới các món tiền gửi theo nhu cầu, thông qua

ngoài phục vụ các giao dịch vãng lai, người dân không phải xuất trình các chứng từ liên
quan đến việc xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế với Nhà nước Việt Nam.
Chính vì vậy, có thể nói rằng việc tự do hóa giao dịch vãng lai có ảnh hưởng lớn tới
hoạt động doanh nghiệp và đại bộ phận dân cư. Cụ thể là việc mua ngoại tệ phục vụ nhu
cầu cá nhân như: du lịch, khám chữa bệnh, du học hay của các doanh nghiệp khi thanh toán
xuất nhập khẩu, vay tín dụng thương mại nước ngoài ngắn hạn sẽ không nhiều thủ tục về
giấy phép như hiện nay. Cũng theo quy định trong Pháp lệnh Ngoại hối, người dân và các
tổ chức kinh tế còn được trực tiếp vay trả nợ nước ngoài theo nguyên tắc tự vay tự chịu
trách nhiệm.
Các giao dịch vãng lai bao gồm các khoản thanh toán và chuyển tiền liên quan đến
xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; các khoản vay tín dụng thương mại và ngân hàng
ngắn hạn; các khoản chuyển tiền một chiều cho mục đích tiêu dùng...
Khi xuất nhập cảnh, các cá nhân sẽ không phải khai báo nếu mang ngoại tệ hay
đồng VN bằng tiền mặt dưới hạn mức qui định (hạn mức đang áp dụng hiện nay là 7.000
USD)... Trong trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài muốn mua bán chứng khoán, các
giấy tờ có giá khác và góp vốn, mua cổ phần tại VN, phải mở tài khoản vốn đầu tư gián
tiếp bằng đồng VN tại ngân hàng...
Hiện trạng tự do giao dịch vãng lai tại Việt Nam:
− Thực tế trong những năm qua, người dân có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ mạnh
như USD hoặc Euro vẫn tìm điểm đến là các tiệm vàng. Theo quy định, người dân muốn
mua USD tại các ngân hàng hay các quầy thu đổi ngoại tệ chính thức phải xuất trình đủ các
loại giấy tờ chứng thực việc cần mua USD cho việc chuyển ra nước ngoài nộp học phí hay
đi du lịch... Do đó, trong trường hợp người dân muốn mua USD để tích trữ thì họ không
thể nào tìm đến các điểm giao dịch ngoại hối chính thức. Khi đó họ sẽ tìm đến các điểm
mua bán ngoại tệ không hợp pháp. Ở đây họ có thể dễ dàng mua bán, trao đổi bất kỳ loại
ngoại tệ thông dụng nào mà không cần xuất trình bất kỳ loại giấy tờ nào.
− Hạn chế khi kết chuyển ngoại hối: Khi xuất nhập cảnh, các cá nhân sẽ không phải
khai báo nếu mang ngoại tệ hay đồng VN bằng tiền mặt dưới hạn mức qui định (hạn mức
đang áp dụng hiện nay là 7.000 USD)... Trong trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9

Blueprint), theo đó, tự do hóa các luồng chu chuyển vốn được thực hiện theo các nguyên
tắc: (i) tự do hóa tài khoản vốn phù hợp với điều kiện thực tế và mức độ sẵn sàng của các
nước thành viên; (ii) cho phép phòng vệ chính đáng trước các nguy cơ mất ổn định kinh tế
vĩ mô và rủi ro hệ thống; và (iii) đảm bảo chia sẻ lợi ích giữa tất cả các nước ASEAN.
Trên cơ sở các nguyên tắc định hướng nêu trên, các nước thành viên sẽ tiến hành tự
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 7/85
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
do hoá theo bốn bước sau: (i) nới lỏng hoặc loại bỏ các qui định liên quan đến giao dịch
vãng lai (2008-2015); áp dụng Điều VIII của IMF về loại bỏ hạn chế đối với các thanh
toán và chuyển tiền để thực hiện các giao dịch vãng lai quốc tế vào năm 2011; (ii) đánh giá
và dần dần nới lỏng các qui định về chuyển tiền quốc tế liên quan đến FDI (2008-2015);
(iii) đánh giá và dần dần nới lỏng các qui định về các luồng vốn đầu tư gián tiếp; đặc biệt
các qui định về nợ và cổ phần (2009-2015); và (iv) đánh giá và dần dần nới lỏng các qui
định về các luồng vốn khác, đặc biệt cả qui định về vay nợ nước ngoài dài hạn của người
cư trú (2011-2015).
Tiến trình thực hiện và định hướng trong thời gian tới
Theo lộ trình hội nhập tài chính tiền tệ, nguyên tắc tự do hoá tài khoản vốn phải
đảm bảo quá trình tự do hoá có trật tự, phù hợp với kế hoạch của từng quốc gia, từng nước
thành viên sẽ thực hiện quá trình tự do hoá tài khoản vốn theo phương thức là tổng hợp
quy chế hiện hành về tài khoản vốn và tự đưa ra một chương trình tự do hoá các khoản
mục trong tài khoản vốn.
Trên cơ sở đó, hàng năm các nước sẽ báo cáo, trao đổi về các biện pháp, chính sách
tự do hoá các khoản mục của nước mình. Điều đó sẽ giúp Việt nam cũng như các nước cập
nhật được các biện pháp, chính sách về việc loại bỏ dần các rào cản đối với các luồng luân
chuyển vốn của từng nước trong khu vực.
− Chu chuyển các luồng vốn giữa các quốc gia tăng mạnh cả về qui mô và tốc độ
− Mỗi quốc gia cần có chính sách và biện pháp thích hợp nhằm đảm bảo ổn định kinh
tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững. Trong đó, cần xác định được động cơ và nguyên nhân

quan đến tự do hóa tài khoản vốn với vai trò trọng yếu của hệ thống tài chính được chế tài
tốt, quản lý tốt, và tư bản hóa tốt càng được coi trọng hơn. Các nhà làm chính sách đã nhìn
nhận đúng đắn hơn rằng tự do hóa tài khoản vốn phụ thuộc vào một loạt các chính sách
hữu hiệu.
− Tự do hóa tài khoản vốn thường xuyên gây ra các cuộc khủng hoảng ở cả các nền
kinh tế phát triển và đang phát triển (ở khu vực Scandinavia, Mỹ Latinh, và Đông á), tự do
hóa tài khoản vốn đã hấp thu một lượng vốn chảy vào nền kinh tế quá lớn so với khả năng
hấp thụ của chúng một cách an toàn. Thời gian trôi qua, vốn chảy vào biến thành vốn chảy
ra, để lộ ra một hệ thống tài chính què quặt.
− Nhờ có tăng trưởng nhanh hơn và/hoặc lạm phát cao hơn, lãi suất có xu hướng cao
hơn ở nước có tài khoản được tự do hóa so với mức quốc tế. Lãi suất cao hơn này, kết hợp
với sự hiện diện của nhiều cơ hội mới nảy sinh từ việc tự do hóa, dẫn đến dòng vốn chảy
vào tăng lên mạnh
− Tăng trưởng tiền tệ nhanh, và thậm chí tăng trưởng tín dụng nhanh hơn, giá các loại
tài sản tăng kiểu bong bóng, và cơn sốt đầu tư và tiêu dùng.
− Khi tính cạnh tranh bị giảm sút, tài khoản vãng lai thâm hụt, và nợ xấu tăng lên, làm
xói mòn lòng tin của các nhà đầu tư. Sự tăng giá của bản tệ, hoặc là do sự lên giá về danh
nghĩa, hoặc là do lạm phát cao hơn, làm giảm tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu, và do đó
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 9/85
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
làm tăng thêm thâm hụt tài khoản vãng lai.
− Sau giai đoạn giá các loại tài sản đạt đỉnh điểm, lượng tín dụng cho vay đầu tư bất
động sản và chứng khoán trở nên khó thu hồi, trong khi đó các khoản đầu tư kinh doanh
không còn mang lại mấy lợi nhuận. Mất cân đối trong cán cân vãng lai và sự mong manh
dễ vỡ của hệ thống tài chính là dấu hiệu của rủi ro và thúc đẩy vốn chảy ngược ra ngoài.
Sự đổ ngược vốn ra ngoài như vậy gây áp lực lên tỷ giá và thị trường tài sản nội địa và đặt
các cơ quan quản lý vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan giữa một bên là nâng lãi suất, và
một bên là để cho bản tệ bị mất giá.

Quốc đã mở rộng cửa cho các dòng vốn nước ngoài. Thậm chí người ta có thể nói rằng
Trung Quốc đã mở cửa cho FDI còn rộng hơn cả nhiều nước OECD. Đặc biệt, Trung Quốc
gần đây đã khuyến khích FDI ra nước ngoài, vào các dự án về năng lượng và kỹ thuật.
− Ngoài ra, đồng CNY được sử dụng khá phổ biến ở những nước láng giềng, đôi khi
có thể coi như một ngoại tệ mạnh. Có lẽ bằng chứng về độ mở rộng rãi về tài chính của
Trung Quốc có thể thấy qua tốc độ phát triển của tiền gửi ngoại tệ trong hệ thống ngân
hàng Trung Quốc, một phần vì chính phủ cho phép duy trì lãi suất tiền gửi ngoại tệ ở
Trung Quốc khá gần với mức trên thị trường quốc tế. Sự biến động tiền gửi ngoại tệ hàng
tháng theo sát những biến động về biên độ lãi suất và dự đoán về tỷ giá. Những yếu tố về
mở cửa tài chính này sẽ tạo thuận lợi cho việc tự do hóa tài khoản vốn vì nhiều điều chỉnh
lớn cần thực hiện khi tự do hóa đã được thực hiện.
− Nhưng do tiền gửi bằng ngoại tệ tăng nhanh, kết hợp với xu hướng giảm cho vay
bằng ngoại tệ của các ngân hàng Trung Quốc, hệ thống ngân hàng Trung Quốc đã dư thừa
vốn thanh khoản bằng ngoại tệ. Nguồn vốn này, tăng nhanh hơn cả tốc độ tăng dự trữ
ngoại hối, đã góp thêm vào luồng vốn ngoại tệ đổ ra khỏi Trung Quốc lên đến 140 tỷ USD
trong thời kỳ 1999 - 2001. Bởi vậy, câu hỏi liên quan đến việc tự do hóa tài khoản vốn của
Trung Quốc không còn là câu hỏi liệu có cho phép vốn ngoại tệ chảy ra nước ngoài hay
không, mà là câu hỏi liệu có phải tạo ra thêm các kênh dẫn để vốn ngoại tệ đổ ra nước
ngoài nhiều hơn, và làm thế nào để quá trình này được dễ dàng hơn.
− Thứ hai, và có lẽ là yếu tố tích cực và quan trọng nhất cho việc tự do hóa tài khoản
vốn, nền kinh tế Trung Quốc đang tăng trưởng với tốc độ rất nhanh trong thập kỷ qua, lên
tới trên 9%/năm. Là một nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới với tỷ lệ tiết kiệm
trong dân cư lên tới 40% GDP, Trung Quốc dễ dàng đa dạng hóa các hạng mục tài sản
trong nước và tạo ra một môi trường thuận lợi cho các thể chế nội địa.
− Thứ ba, lãi suất nội địa Trung Quốc không vượt xa mức trên thị trường tiền tệ quốc
tế. Vào đầu năm 1990, Trung Quốc có mức lạm phát tương đối cao, nhưng sau đó giảm
được xuống mức thấp nhờ thắt chặt chính sách tiền tệ. Trong những năm gần đây, giá cả ở
Trung Quốc lại giảm xuống ở mức nhẹ. Lãi suất nội địa, về cơ bản vẫn do nhà nước thiết
lập, giảm xuống thấp theo lạm phát, bằng hoặc thậm chí thấp hơn mức quốc tế.
− Thứ tư, đồng CNY đã được tự do chuyển đổi trên tài khoản vãng lai năm 1996, và

phiếu...) cao. Trong khi đó, ở các nước tự do hóa tài khoản vốn và bị khủng hoảng, thường
có lạm phát tương đối cao, lãi suất bản tệ cao, và giá trị các tài sản thấp. Hai là, Trung
Quốc hấp thu được một luồng vốn FDI lớn, dự trữ ngoại tệ lớn, và là một chủ nợ của thế
giới, thay vì phải phụ thuộc vào vốn ngắn hạn mang tính đầu cơ, dự trữ ngoại tệ hạn hẹp và
nợ nước ngoài lớn như ở các nước khác nói ở đây.
Nói chung, những điều kiện ban đầu của một nền kinh tế quyết định mức rủi ro
trong việc tự do hóa tài khoản vốn. Có thể dự đoán rằng sau khi mở tài khoản vốn ở Trung
Quốc, chỉ có FDI sẽ tăng lên mạnh mẽ, và rủi ro đi kèm với nó không phải là đáng lo ngại.
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 12/85
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
Thách thức chính cho Trung Quốc có lẽ nằm ở việc quản lý thành công tự do hóa tài
khoản vốn thông qua nhiều kênh khác nhau, ngoài các kênh truyền thống như gửi tiền bằng
ngoại tệ vào ngân hàng, trả trước các khoản nợ bằng USD, và đầu tư vào thị trường chứng
khoán Hong Kong.
Tình trạng kinh tế hiện tại của Trung Quốc, với vốn bắt đầu chảy ra khỏi lãnh thổ,
đặt ra những câu hỏi thú vị về chính sách. Về sự tồn tại lẫn lộn cả tiền gửi ngoại tệ và bản
tệ, kinh nghiệm thế giới cho thấy tỷ giá linh động hơn nữa và quá trình tự do hóa lãi suất
đang diễn ra tại Trung Quốc sẽ làm thay đổi đáng kể cơ cấu tiền gửi và cho vay bằng ngoại
tệ và bản tệ, có lẽ đôi lúc sẽ thúc đẩy mạnh dòng vốn chảy ra. Trong khi có thể nâng lãi
suất để ngăn chặn dòng vốn chảy ra này, nhưng lãi suất tăng xảy ra trùng hợp với giá tài
sản giảm sẽ đặt ra một tình thoái lưỡng nan về chính sách tiền tệ. Để giải quyết vấn đề này,
liệu có nên áp dụng một mức dự trữ bắt buộc trên tài khỏan tiền gửi bằng ngoại tệ (ở trong
nước) khác với mức áp dụng trên tài khoản tiền gửi bản tệ không (để hạn chế việc chuyển
đổi từ bản tệ sang ngoại tệ), như đã được thực hiện ở những nước khác? Tất nhiên, câu trả
lời phải tính đến thực tế rằng tiền gửi ở nước ngoài thì không bị áp dụng dự trữ bắt buộc.
Do đó, biện pháp áp dụng dự trữ bắt buộc này sẽ trở nên vô hiệu trừ khi áp dụng trở lại các
biện pháp kiểm soát lưu chuyển ngoại hối để hạn chế việc chuyển đổi CNY thành ngoại tệ
của dân chúng sống ở Trung Quốc.

liên quan ở điểm là hệ thống tài chính còn rất yếu kém, với tỷ lệ nợ xấu cao, rủi ro hệ
thống lớn, thông lệ cho vay bất cẩn, chế độ quản trị ngân hàng còn yếu kém, và cơ chế tỷ
giá còn cứng nhắc...
Với những đặc điểm này, có thể thấy rằng các điều kiện tiền đề cho tự do hóa tài
khoản vốn ở Việt Nam một cách an toàn là chưa tồn tại hoặc chưa đầy đủ, nhất là những
điều kiện tiền đề về nền kinh tế vĩ mô lành mạnh, cũng như một hệ thống tài chính và hạ
tầng cơ sở giám sát vững chắc. Cũng không kém phần quan trọng là chính phủ và người
dân Việt Nam có quá ít kinh nghiệm bước đầu với việc tự do hóa tài khoản vốn (như cho
phép đầu tư trực tiếp/gián tiếp ra nước ngoài - một hiện tượng mới được đề cập đến gần
đây).
Về giải pháp thúc đẩy hình thành các điều kiện tiền đề này, có lẽ không gì thích hợp
hơn việc nghiên cứu mô hình tự do hóa của các nước trên thế giới, đặc biệt Trung Quốc,
như nêu ở trên, tập trung vào những lợi thế, thách thức, và những khó xử trong chính sách
liên quan đến quá trình tự do hóa của họ để làm bài học cho Việt Nam. Có thể thấy trước
rằng việc tự do hóa tài khoản vốn ở Việt Nam cũng đồng nghĩa với một cuộc cải cách sâu
rộng và đồng bộ trên nhiều mặt của nền kinh tế vĩ mô mà một trục trặc trong quá trình này
cũng sẽ làm cái giá phải trả cho việc tự do hóa trở nên đắt hơn nhiều.
2.1.3. Chính sách tiền lương và giá cả
Hiện VN đang duy trì 3 mức lương tối thiểu giữa 3 loại hình DN (DN có vốn đầu tư
nước ngoài, DNNN, DN tư nhân). Mặt khác, trên thực tế, mức tiền lương mà NLĐ VN
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 14/85
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
hiện đang được nhận chưa đủ đáp ứng cho đời sống, mức tiền lương hầu như không dựa
trên sự thỏa thuận giữa chủ sử dụng LĐ và NLĐ, mà thường là sự áp đặt của người sử
dụng LĐ dao động quanh mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Điều đó đòi hỏi phải
có lộ trình cải cách cụ thể, tích cực, phù hợp trong thời gian tới.
“Hội nghị đối thoại của các cơ quan/viện nghiên cứu và đào tạo Á – Âu” lần thứ
nhất với nội dung “So sánh chính sách tiền lương tối thiểu” đã tổ chức rất thành công ở

Người lao động sau khi sử dụng sức lao động tạo ra sản phẩm thì được trả một số
tiền công nhất định. Xét về hiện tượng ta thấy sức lao động được đem trao đổi để lấy tiền
công. Vậy có thể coi sức lao động là hàng hoá, một loại hàng hoá đặc biệt. Và tiền lương
chính là giá cả của hàng hoá đặc biệt đó, hàng hoá sức lao động. Vì hàng hoá sức lao động
cần được đem ra trao đổi trên thị trường lao động trên cơ sở thoả thuận giữa người mua
với người bán, chịu sự tác động của quy luật giá trị, quy luật cung cầu. Do đó giá cả sức
lao động sẽ biến đổi theo giá cả của các yếu tố cấu thành cũng như quan hệ cung cầu về lao
động. Như vậy khi coi tiền công là giá trị của lao động thì giá cả này sẽ hình thành trên cơ
sở thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Giá cả sức lao động hay tiền
công có thể tăng hoặc giảm phụ thuộc vào cung cầu hàng hoá sức lao động. Như vậy giá cả
tiền công thường xuyên biến động nhưng nó phải xoay quanh giá trị sức lao động cung như
các loại hàng hoá thông thường khác, nó đòi hỏi một cách khách quan yêu cầu tính đúng,
tính đủ giá trị của nó. Mặt khác giá tiền công có biến động như thế nào thì cũng phải đảm
bảo mức sống tối thiểu để người lao động có thể tồn tại và tiếp tục lao động.
Vai trò của tiền lương:
− Vai trò tái sản suất sức lao động
− Vai trò kích thích sản xuất
− Vai trò tái sản suất sức lao động
− Vai trò tích luỹ
Các nhân tố ảnh hưởng tiền lương:
− Nhóm nhân tố thuộc thị trường lao động: Cung – cầu lao động ảnh hưởng trực tiếp
đến tiền lương.
− Nhóm nhân tố thuộc môi trường doanh nghiệp: Các chính sách, Khả năng tài chính,
Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp ảnh hưởng mạnh tới tiền lương.
− Nhóm nhân tố thuộc bản thân người lao động: Trình độ lao động, Thâm niên công
tác, mức độ hoàn thành công việc nhanh hay chậm, đảm bảo chất lượng hay không đều ảnh
hưởng ngay đến tiền lương của người lao động.
− Nhóm nhân tố thuộc giá trị công việc: Mức hấp dẫn của công việc, mức độ phức tạp
của công việc, điều kiện thực hiện công việc, yêu cầu của công việc đối với người thực
hiện.

mở rộng...”.
− Quan trọng nhất vẫn là, tiền lương không thể áp đặt mà phải theo hướng thị trường -
hình thành trên cơ sở mức sống, quan hệ cung cầu lao động và thỏa ước lao động tập thể.
− Để thoát ra khỏi giới hạn ngân sách khi quỹ lương hiện đã chiếm trên 30% tổng chi
ngân sách và bằng 60% của chi thường xuyên là điều rất khó khăn (dù nhu cầu tăng lương
cho cán bộ công chức là hết sức cấp bách) nhưng vẫn có thể thực hiện được.
− Cần phải thu nhỏ bộ máy hành chính, cắt giảm biên chế những người ăn bám vào
ngân sách đồng thời gia tăng năng lực quản lý các nguồn thu, chi ngân sách. Nếu làm được
điều này, không chỉ sẽ thực hiện được việc tăng mức lương tối thiểu mà còn có thể giảm
thiểu được sự nhũng nhiễu trong hàng ngũ cán bộ công chức.
− Các doanh nghiệp cũng mong muốn lương tối thiểu sát với thực tế. Ngoài ra, lương
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 17/85
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
tối thiểu thấp hơn lương thực tế cũng là một bất lợi cho các doanh nghiệp trong nước khi
thương lượng bán hàng cho nước ngoài vì các đối tác thường dựa vào mức lương quy định
chung của Nhà nước để tính ra đơn giá. Vì vậy, phần lớn các doanh nghiệp đều mong
muốn mức lương tối thiểu tiệm cận với mức lương thực tế mà doanh nghiệp đang trả.
− Từ đầu năm 2011 đến nay, việc nhà nước điều cbhỉnh tỷ giá, tăng giá xăng, giá điện
đã làm gia tăng hầu hết chi phí đầu vào các mặt hàng thiết yếu như xi măng, thép,…cùng
lạm phát tăng cao đã hỗ trợ tâm lý giá cả các nhóm mặt hàng lương thực phẩm, nhà ở, dịch
vụ tăng cao.
− Giá cả tăng không chỉ khiến cho người mua lo lắng mà người bán cũng lo ngại.
Người tiêu dùng thắt chặt hầu bao, lượng tiêu thụ ít đi ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của
người lao động. Chính phủ đang vận động người dân đồng cam cộng khổ với những khó
khăn của nền kinh tế trong thời buổi lạm phát. Thế nhưng để người dân thực sự đồng lòng
thì Chính phủ, trong phạm vi có thể kiểm soát được, cũng cần đảm bảo rằng gánh nặng khó
khăn được phân bổ một cách công bằng. Đồng thời, Chính phủ cũng cần cải thiện hiệu quả
của nền kinh tế để từ đó có cơ sở cải thiện phúc lợi của nhân dân.

qua những lời ca tụng không ngớt về những thành tựu nổi bật của Việt Nam, về vị thế mới
của Việt Nam trên trường quốc tế (thành viên WTO, lần đầu tiên được bầu là thành viên
không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc...) và về dòng vốn nước ngoài đầu tư
trực tiếp và gián tiếp ào ạt đổ vào trong nước.
Trước những thay đổi mạnh mẽ về luồng vốn, tác động từ bên ngoài như vậy, lẽ ra
phải thực hiện ngay những cải cách cơ cấu và thể chế cần thiết để nâng cao năng lực giám
sát, quản lý các lĩnh vực trọng yếu như ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường bất
động sản, cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách hành chính theo hướng mở rộng công
khai minh bạch, mở rộng sự tham gia giám sát của các nhà khoa học, hiệp hội chuyên môn
trong quá trình chuẩn bị quyết định, soạn thảo chính sách.
Song, trên thực tế Chính phủ đã dồn dập triển khai các biện pháp và các công trình
để đạt các mục tiêu đề ra: việc phân cấp (về nguyên tắc là đúng đắn và cần thiết) quá mức
cho chính quyền địa phương cấp tỉnh về đầu tư (trong nước và ngoài nước), việc cấp đất,
mở khu công nghiệp... đã tạo ra những chồng chéo và dư thừa đáng lo ngại về quá nhiều
công trình đầu tư vào sân golf, bất động sản, nhà máy thép, nhà máy lọc dầu lớn nhỏ.
Hệ quả là bên cạnh sự năng động và tăng nhanh về số lượng, các quyết định hàng tỉ
đô la Mỹ ở các địa phương, tập đoàn kinh tế, liên quan đến năng lượng, kết cấu hạ tầng,
nguồn nhân lực ở tầm kinh tế quốc dân, rất hệ trọng cho quốc kế dân sinh đã được quyết
định một cách nhanh chóng, thiếu sự thẩm định cần thiết của các chuyên gia, hội đồng
thẩm định có chuyên môn ở các bộ, ngành và thiếu sự tham gia của các tổ chức quần
chúng.
Bắt đầu từ quý 3-2008 một sự cộng hưởng ngoài ý muốn giữa hiệu lực của các biện
pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ với tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, suy
thoái kinh tế toàn cầu đã xuất hiện. Giá hàng loạt nguyên vật liệu trên thế giới giảm mạnh
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 19/85
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
khiến tốc độ tăng giá tiêu dùng giảm dần và chỉ số giá của hai tháng 10 và 11 lần lượt giảm
thấp hơn tháng trước.

Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 20/85
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
nhằm kích cầu đầu tư, phát triển sản xuất.
Từ cuối năm 2008, Nhiều chính sách thuế mới nhằm thực hiện chủ trương kích cầu,
giảm khó khăn cho doanh nghiệp (DN) theo Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày
11/12/2008 của Chính phủ về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế,
duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội đã được triển khai thực hiện.
Những chính sách thuế trên là đòn bẩy thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng. Nếu như trước
đây DN phải thực hiện nghĩa vụ thuế ngay khi phát sinh thu nhập, thì giờ đây, chủ trương
của Chính phủ giảm 30% thuế thu nhập DN trong quý 4/2008 và cả năm 2009, giãn nộp
thuế thu nhập DN trong thời gian 9 tháng đối với các DN nhỏ và vừa và các DN trong một
số ngành nghề đã góp phần tháo gỡ khó khăn về vốn cho nhiều DN. Mặc dù chính sách
này không trực tiếp giải quyết được vấn đề cơ bản của DN là thiếu đầu ra cho sản phẩm
nhưng đây vẫn là một chính sách được cộng đồng doanh nghiệp hoan nghênh vì nhờ nó
DN giảm được chi phí. Việc giảm 50% thuế giá trị gia tăng đối với 19 nhóm mặt hàng
thuộc các ngành hàng mà trước đây có thuế suất là 10% đã tác động trực tiếp đối với DN
để phục vụ cho việc giảm giá hàng bán, giúp kích cầu tiêu dùng trong bối cảnh suy giảm
kinh tế hiện nay.
Cùng với đó, đối tượng được tạm hoàn thuế giá trị gia tăng là các tổ chức sản xuất,
kinh doanh hàng hóa xuất khẩu có hàng hóa đang trong thời gian chưa được phía nước
ngoài thanh toán qua ngân hàng theo hợp đồng. Ngoài ra, các đối tượng DN khác, nếu cơ
quan thuế xác định đủ điều kiện được hoàn thuế thì vẫn được giải quyết, không cần chờ
kiểm tra, xác minh rồi mới hoàn thuế như thông lệ.
Ngoài ra, chính sách giãn và miễn nộp thuế thu nhập cá nhân đối với một số loại thu
nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công, từ bản quyền, chuyển nhượng thương mại, đầu
tư vốn, thừa kế và quà tặng, được các nhà chính sách đánh giá sẽ giúp tăng thu nhập khả
dụng, nhờ đó tăng chi tiêu của người tiêu dùng.
Việc thực hiện một cách linh hoạt và đồng bộ các chính sách tài khóa và các chính

2.3.1. Tính chuyển đổi của đồng tiền
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế ( IMF), đồng tiền tự do chuyển đổi là đồng tiền của một
nước hội viên mà IMF nhận thấy đồng tiền đó được sử dụng rộng rãi để thanh toán các
giao dịch quốc tế và được mua bán rộng rãi trên thị trường ngoại hối chủ chốt.
Có nghĩa là đồng tiền đó phải được chấp nhận ở trong nước và trên phạm vi quốc
tế. Theo đó, đồng tiền tự do chuyển đổi gắn chặt với sức mạnh nền kinh tế, đó phải là nền
kinh tế có sức cạnh tranh cao và có tính ổn định kinh tế vĩ mô bền vững.
Mặt khác, để tự do chuyển đổi, trước hết đồng tiền đó phải có tính chuyển đổi, có
nghĩa là đồng tiền đó có thể được chuyển đổi sang ngoại tệ mà không có bất kỳ hạn chế
nào.
Biểu đồ 1: Diễn biến tỷ giá USD/VND giai đoạn 1/2009 – 6/2010
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 22/85
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
Đối với Việt Nam, nâng cao tính chuyển đổi của đồng Việt Nam (VND) là mục tiêu
đã được khẳng định trong Pháp lệnh ngoại hối và hướng tới đồng tiền tự do chuyển đổi
hoàn toàn là một mục tiêu mong muốn
Pháp lệnh ngoại hối ban hành năm 2005 là cơ sở pháp lý rất thông thoáng cho tính
chuyển đổi của VND. Tháng 11/2005, IMF chính thức công nhận Việt Nam đã thực hiện
tự do hóa giao dịch vãng lai, có nghĩa là VND đã được chuyển đổi tự do trong các giao
dịch vãng lai, còn giao dịch vốn chưa được tự do hoàn toàn, nhưng những hạn chế là
không nhiều. Hiện nay, trong giao dịch vốn chỉ còn hạn chế về dòng vốn đầu tư gián tiếp,
bên cạnh đó là một số hạn chế về đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, xét trên nhiều khía cạnh
thì tính chuyển đổi của VND còn thấp, bởi các lý do cơ bản sau:
− Thứ nhất, nền kinh tế còn một số bất cập. Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện
nay cho thấy, trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận
trong phát triển kinh tế, đặc biệt là nhanh chóng vượt qua thời kỳ bất lợi của cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu. Cụ thể, tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2010 tương đối khả
quan, đạt mức trên 6% (Quý I, GDP tăng trưởng 5,82%, quý II tăng gần 6,4%); lạm phát

mang tầm vóc quốc gia, gắn liền với lộ trình phát triển kinh tế, phát triển thị trường tài
chính tự do hóa và phát triển hệ thống tài chính vững mạnh.
2.3.2. Hệ thống ngân hàng
Ngân hàng là lĩnh vực hoàn toàn mở trong cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) của Việt Nam với lộ trình 7 năm. Chính vì vậy trong bối cảnh Việt Nam
gia nhập WTO, hơn bất cứ ngành nào, lĩnh vực ngân hàng cần phải tăng tốc cải cách nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh để không bị thua thiệt ngay trên chính "sân nhà".
Đứng trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực đáng kể trong
việc lành mạnh hóa khu vực ngân hàng thông qua việc triển khai Đề án củng cố, chấn
chỉnh các NHTMCP ( năm 1998) và Đề án cơ cấu lại các NHTMNN ( năm 2001), gỡ bỏ
dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ phần của các định chế tài chính nước ngoài theo
những cam kết trong Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ (năm 2006), “mở” toàn bộ các
quy định về việc khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngân
hàng nước ngoài theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định khung về hợp tác thương
mại dịch vụ (AFAS) của Hiệp hội các nước ASEAN (năm 2008). Những nỗ lực trên nhằm
Lớp Cao học kinh tế – Đêm 4 – Nhóm 9
Trang 24/85
Tài chính tiền tệ Đề tài: Tự do hóa tài chính ở Việt Nam –
GVHD: TS. Điệp Gia Luật Thực tiễn chuyển đổi đồng tiền Việt Nam
lành mạnh hóa tài chính, tăng cường kỷ luật thị trường trong hoạt động ngân hàng và nâng
cao khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng. Chương trình cải cách ngân hàng cũng
nhận được sự hỗ trợ quan trọng về tài chính và kỹ thuật của cộng đồng quốc tế, đặc biệt
WB, ADB, IMF và chính phủ các nước.
Vấn đề cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể chia theo 2 giai đoạn, tương
ứng với sự phát triển và thay đổi chính sách của ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Giai đoạn 1: Thời điểm trước gia nhập WTO ( 07/11/2006)
− Tăng trưởng về quy mô và số lượng
Sau giai đoạn bùng phát vào đầu những năm 1990 và thu hẹp bớt trong giai đoạn
hậu khủng hoảng tài chính năm 1997, hệ thống ngân hàng nhà nước Việt Nam trong những
năm qua tương đối ổn định về mặt số lượng. Với khoảng 78 ngân hàng các loại trong năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status