Nghiên cứu thực tế việc tổ chức triển khải hoạt động theo dõi, giám sát và đánh giá thực hiện một số chương trình, dự án ở Việt Nam - Pdf 24


TỔNG CỤC THỐNG KÊ
VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ
BÁO CÁO
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHUYÊN ĐỀ
NGHIÊN CỨU THỰC TẾ VIỆC TỔ CHỨC TRIỂN KHAI
HOẠT ĐỘNG THEO DÕI, GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ
THỰC HIỆN MỘT SỐ CHƢƠNG TRÌNH, DỰ ÁN Ở VIỆT
NAM

THUỘC ĐỀ TÀI
Biên soạn bộ tài liệu hƣớng dẫn thực hiện Khung theo dõi và
đánh giá thực hiện Chiến lƣợc phát triển Thống kê Việt Nam
giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Mã số đề tài: 2.1.3-B12-13 Nhóm nghiên cứu: CN. Nguyễn Hữu Thoả
CN. Phan Thị Ngọc
ThS. Trần Thị Thu Trang
Chủ nhiệm đề tài: TS. Phạm Đăng Quyết
Cơ quan chủ trì: VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ

3.2 Đối tượng theo dõi và đánh giá 34
3.3 Đề xuất hệ thống theo dõi và đánh giá, phương pháp, quy trình thu thập
thông tin cho hệ thống theo dõi và đánh giá thực hiện Chiến lược phát triển
Thống kê Việt Nam 2011-2020 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
Phụ lục 1: các thuật ngữ, khái niệm 46

2
I. Tổng quan kinh nghiệm thực tế việc tổ chức triển khai hoạt động theo
dõi, giám sát và đánh giá thực hiện một số chƣơng trình, dự án ở Việt
Nam.
1.1 Sự cần thiết của công tác đánh giá các chƣơng trình, dự án
Đánh giá dự án là hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo hiệu quả và tính
bền vững của các chương trình, dự án. Trong thời gian qua, Chính phủ Việt
Nam đã có nhiều nỗ lực thiết lập hệ thống theo dõi và đánh giá các chương
trình dự án ODA ở cấp quốc gia, ban hành đồng bộ các văn bản pháp quy
hiện về theo dõi và đánh giá ODA. Ngoài ra, Bộ KH&ĐT cũng đã ban hành
các sổ tay hướng dẫn kỹ thuật kèm theo bộ công cụ về theo dõi và đánh giá
các chương trình, dự án ODA.
Theo các quy định hiện hành, tất cả các ngành, các cấp chịu trách
nhiệm về công tác theo dõi và đánh gía. Về công tác đánh giá, Chủ dự án
chịu trách nhiệm về đánh giá ở cấp dự án (đánh giá ban đầu, đánh giá giữa
kỳ, đánh giá kết thúc), Cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm đánh giá đột xuất
và đánh giá tác động, Bộ KH&ĐT chịu trách nhiệm chủ trì và điều phối các
hoạt động đánh giá ở cấp quốc gia. Để hoàn thành tốt trách nhiệm của mình,
việc nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực của các ngành, các cấp về công
tác theo dõi và đánh giá có vai trò rất quan trọng.
Để quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA) trong bối cảnh phân cấp theo tinh thần của Nghị định 131/2006/NĐ-
CP, Chính phủ đã giao cho Bộ KH&ĐT nhiệm vụ xây dựng và vận hành hệ

đó Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng “Khung
theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA thời kỳ 2006 - 2010”; xây
dựng phương pháp luận và quy trình đánh giá tác động của các dự án đầu tư
xây dựng sau khi hoàn thành.
Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2006 của Chính
phủ đã đề ra nhiệm vụ xây dựng, vận hành và hoàn thiện hệ thống quốc gia
về theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA; chia sẻ thông tin với
các cơ quan liên quan và nhà tài trợ, khai thác có hiệu quả hệ thống này.

4
Trên cơ sở đánh giá thực trạng theo dõi và đánh giá chương trình, dự
án ODA trong thời gian qua, những kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm rút ra
trong quá trình triển khai thí điểm việc thiết lập hệ thống theo dõi và đánh giá
ODA ở một số Bộ, ngành và địa phương, tham khảo kinh nghiệm về theo dõi
và đánh giá dự án của một số nước trên thế giới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã
xây dựng Khung theo dõi và đánh giá chương trình, dự án ODA, kèm theo
Kế hoạch hành động nhằm thiết lập và vận hành Hệ thống quốc gia về theo
dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA thời kỳ 2006 - 2010. Ngày
30/10/2007 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ra Quyết định số
1248/2007/QĐ-BKH về việc ban hành Khung theo dõi và đánh giá các
chương trình, dự án ODA thời kỳ 2006 – 2010.
Khung theo dõi và đánh giá chương trình, dự án ODA được xây dựng
trên cơ sở:
- Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010;
- Định hướng Quản lý nợ nước ngoài đến năm 2010 (theo Quyết định
số 135/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ);
- Đề án “Định hướng thu hút và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA) thời kỳ 2006 - 2010” (theo Quyết định số 290/2006/QĐ-TTg
ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ);
- Kế hoạch hành động thực hiện Đề án “Định hướng thu hút và sử dụng

hành hệ thống quốc gia về theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án
ODA.
Mục tiêu 2: Lựa chọn và sử dụng các phương pháp, công cụ theo dõi
và đánh giá các chương trình, dự án ODA tiên tiến và thường xuyên cập nhật
để phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Mục tiêu 3. Chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ làm công tác theo dõi
và đánh giá các chương trình, dự án ODA.
Mục tiêu 4. Đảm bảo ngân sách cho các hoạt động theo dõi và đánh giá
các chương trình, dự án ODA.

6
Mục tiêu 5. Phối hợp với các nhà tài trợ trong công tác theo dõi và
đánh giá các chương trình, dự án ODA.
Mục tiêu 6. Sử dụng kết quả theo dõi và đánh giá để quản lý theo kết
quả phát triển.
Mục tiêu 7. Lồng ghép và sử dụng công cụ, kỹ năng, kinh nghiệm của
hệ thống theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA để hỗ trợ phát
triển hệ thống theo dõi và đánh giá đầu tư công.
2. Chương trình hành động thực hiện Định hướng chiến lược trong thời
kỳ 2006-2010. Chương trình hành động đề ra những hoạt động, vai trò và
trách nhiệm, thời hạn cũng như đầu ra dự kiến để hỗ trợ hệ thống quốc gia về
Theo dõi và Đánh giá các chương trình, dự án ODA với 6 đầu ra chủ yếu
dưới đây:
Đầu ra 1. Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin ODA thống nhất để đưa hệ
thống theo dõi và đánh giá chương trình, dự án ODA vào vận hành (thời gian
hoàn thành đến quý II/2008).
Đầu ra 2. Phát triển công cụ theo dõi và đánh giá chương trình, dự án
ODA ở cả 3 cấp: Cấp chủ dự án; Cấp cơ quan chủ quản và Cấp cơ quan quản
lý nhà nước về ODA (thời gian hoàn thành đến quý III/2008).
Đầu ra 3. Phát triển năng lực theo dõi và đánh giá chương trình, dự án

Công cụ theo dõi thống nhất (AMT) được xây dựng để giúp các Ban QLDA
chuẩn bị các báo cáo quý, báo cáo năm và tổng hợp dữ liệu theo dõi nhằm hỗ
trợ các nhà lãnh đạo quản lý hướng tới các kết quả phát triển.
• Hệ thống theo dõi cấp cơ quan chủ quản – các Bộ và tỉnh quản lý
ODA chịu trách nhiệm giám sát các quy trình và theo dõi những thay đổi so
với kế hoạch về tình hình giải ngân, đấu thầu, bảo vệ môi trường và an sinh
xã hội; kiểm tra tình hình thực hiện bao gồm chất lượng và số lượng đầu ra.
Các cơ quan chủ quản cần tổng hợp dữ liệu từ một số AMT để theo dõi danh
mục dự án tư. Công cụ theo dõi danh mục dự án (PMT) được xây dựng để
giúp các cơ quan chủ quản chuẩn bị các báo cáo tổng hợp hàng quý thông
qua việc tổng hợp và phân tích các dữ liệu theo dõi.

8
• Hệ thống theo dõi cấp quốc gia – các phòng, ban của cơ quan quản
lý Nhà nước về ODA chịu trách nhiệm giám sát các dự án ODA, giám sát các
quy trình và theo dõi những thay đổi so với kế hoạch về tình hình giải ngân,
tiến độ và tình hình thực hiện danh mục dự án ODA quốc gia. Các đơn vị này
phải tổng hợp dữ liệu từ tất cả các AMT, sử dụng công cụ theo dõi quốc gia
(NMT) để chuẩn bị báo cáo tổng hợp 6 tháng và báo cáo năm thông qua việc
tổng hợp và phân tích dữ liệu theo dõi từ các cấp ngành, cơ quan chủ quản và
nhà tài trợ.
Các chuyên gia và cán bộ VAMESP II căn cứ vào yêu cầu thực tiễn
của công tác theo dõi và đánh giá ở Việt Nam, đồng thời tham khảo những
thông lệ theo dõi và đánh giá tốt nhất của quốc tế đã biên soạn cuốn “Cẩm
nang Theo dõi và Đánh giá Quốc gia”. Cẩm nang gồm 4 mô-đun: Hướng dẫn
xây dựng và vận hành hệ thống TD&ĐG tại Việt Nam – Tài liệu phục vụ cấp
lãnh đạo, Thực hành theo dõi, Thực hành đánh giá và Tài liệu đào tạo
TD&ĐG tại Việt Nam. Cẩm nang cung cấp không những những nguyên tắc,
khái niệm cơ bản, phương pháp và công cụ thực hiện theo dõi và đánh giá mà
còn minh họa bằng những ví dụ cụ thể (nghiên cứu tình huống) do các

• Tạo cơ sở nền tảng cho hoạt động theo dõi, đánh giá dịch HIV tại
Việt Nam;
• Cung cấp những số liệu bằng chứng giúp cho việc hoạch định chính
sách phòng chống HIV hiệu quả;
• Thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả chương trình theo dõi và đánh giá để
cải thiện hệ thống báo cáo tại tất cả các cấp;
• Bảo đảm minh bạch trong việc sử dụng nguồn lực;
• Sử dụng số liệu thu thập được để theo dõi tiến trình thực hiện dựa
trên những mục tiêu mà UNGASS và Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đề ra.
• Hướng dẫn việc thu thập các thông tin chiến lược từ nhiều nguồn
khác nhau;
• Xác định những thông tin thiếu hụt hiện thời và cách thức thu thập
những thông tin thiếu hụt đó;

10
• Đưa ra hướng dẫn quản lý số liệu hiệu quả.
Chương trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS)
đề nghị các hoạt động theo dõi và đánh giá phải được tiến hành theo một kế
hoạch quốc gia thống nhất. Mỗi quốc gia đều phải có những chỉ số theo dõi
và đánh giá được chuẩn hóa và các bên liên quan trong phạm vi quốc gia đó
cần phải thực hiện theo. Một hệ thống thông tin quốc gia vững mạnh cần phải
có và cần đảm bảo cung cấp thông tin hiệu quả cho các bên tham gia ở các
cấp quốc gia, tỉnh, huyện và địa phương.
Trong năm 2006, Bộ y tế hợp tác với các chuyên gia từ nhiều Bộ, cục
khác, và các chuyên gia quốc tế trong nhóm công tác về TD&ĐG để xây
dựng Khung theo dõi-đánh giá. Khung này tập hợp 54 chỉ số chính về các
hoạt động phòng chống HIV ở Việt Nam. Nó cung cấp thông tin cơ bản về hệ
thống TD&ĐG trong nước, kế hoạch phát triển và cách thức thu thập và quản
lý số liệu. Khung này, cùng với Quyết định 56/QD-BYT về cầu trúc một hệ
thống TD&ĐG quốc gia và Chương trình hành động quốc gia về theo dõi,

hình thực tế tại tỉnh.
4. Cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là huyện): Đơn
vị TD-ĐG tuyến huyện được đặt tại Trung tâm Y tế dự phòng huyện với ít
nhất một đến hai cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.
Bên cạnh đó, Nhóm Hỗ trợ kỹ thuật quốc gia về TD-ĐG được Bộ Y tế
thành lập với sự điều phối của Cục Phòng, chống HIV/AIDS và sự tham gia
của các đơn vị TD-ĐG Quốc gia, đơn vị TD-ĐG khu vực, các trường đại học
và các chuyên gia từ một số tổ chức quốc tê để cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho
các hoạt động theo dõi và đánh giá.
Khung theo dõi-đánh giá quốc gia được xây dựng để phục vụ các nhà
quản lý chương trình cấp tỉnh và quốc gia, những người tham gia vào việc lập
kế hoạch, thực hiện, theo dõi và đánh giá các hoạt động phòng chống HIV.
Khung này cũng hỗ trợ việc sử dụng thông tin từ các hoạt động kể trên để
nâng cao quá trình ra quyết định và lập chương trình. Khung theo dõi-đánh
giá HIV là một tài liệu làm việc hỗ trợ việc ra quyết định dựa trên tình hình

12
thực tế vì Việt Nam vẫn đang có những bước tiến mới trong các ứng phó với
HIV. Cục phòng chống AIDS Việt Nam (VAAC) trực thuộc Bộ y tế chịu
trách nhiệm chỉ đạo việc xây dựng Khung theo dõi- đánh giá ở Việt Nam.
1.4 Giám sát & Đánh giá thực hiện dự án Giảm nghèo các tỉnh miền núi
phía bắc giai đoạn 2
Ngày 6/7/2009, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý về chủ trương tiếp
nhận nguồn vốn 100 triệu USD của Ngân hàng Thế giới WB để thực hiện dự
án "Giảm nghèo các tỉnh miền núi phía bắc giai đoạn 2" và đưa dự án vào
danh mục các dự án vay vốn của WB năm tài khóa 2010. Vốn đối ứng cho dự
án là 14,8 triệu USD, Các tỉnh tham gia dự án là: Lào Cai, Sơn La, Lai Châu,
Ðiện Biên, Hòa Bình và Yên Bái. Bộ KH&ĐT là cơ quan chủ quản của dự
án, chủ trì điều phối các hoạt động của dự án tại các tỉnh; xây dựng cơ chế
phối hợp giữa Bộ với các tỉnh tham gia dự án trong quá trình thực hiện, bảo

i) Công tác giám sát ở cấp xã (cho các công việc trong Hợp phần Ngân
sách phát triển xã)
ii) Giám sát và báo cáo tiến độ thực hiện (các tiến độ tài chính và thực
hiện các kế hoạch)
iii) Kiểm toán (kiểm tra ngẫu nhiên về chất lượng và sự tuân thủ các
quy định về tài chính và thủ tục)
iv) Giám sát an toàn (đền bù, môi trường, người thiểu số)
v) Giám sát quá trình (chất lượng của các hoạt động, đầu ra và các thủ
tục quản lý)
vi) Đánh giá tác động (đánh giá các tác động của dự án)
vii) Giám sát từ bên ngoài (giám sát toàn bộ dự án và sự tuân thủ các
chính sách an toàn)
viii) Phổ biến và phản hồi thông tin (đến cấp địa phương)
Tất cả các cấp quản lý đều có nhiệm vụ giám sát. Chi phí cho các hoạt
động giám sát thường xuyên sẽ lấy từ Ngân sách quản lý dự án (nguồn vốn
vay) ở các cấp tỉnh, huyện, xã. Công tác giám sát nêu trên bao gồm (1) công
tác giám sát trong hợp phần Ngân sách phát triển xã, (2) giám sát và báo cáo

14
về tài chính và tiến độ thực hiện, (3) kiểm toán dự án, và (4) giám sát về an
toàn.
Nguồn vốn đồng tài trợ của DFID sẽ được sử dụng cho (5) giám sát
tiến độ thực hiện và (6) đánh giá tác động của dự án. Nguồn vốn đồng tài trợ
của DFID cũng sẽ giành cho các hỗ trợ kỹ thuật như thiết kế chi tiết, đào tạo
và đưa hệ thống M&E vào dự án, ngoài ra còn chi phí cho các hội thảo đánh
giá thực hiện dự án do Ban QLDATW tổ chức.
Ban QLDATW chịu trách nhiệm điều phối chung. Các trách nhiệm cụ
thể của Ban QLDATW trong lĩnh vực này là:
i) Chuẩn bị các hướng dẫn và đào tạo về hệ thống GSĐG;
ii) Giám sát và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thực

động theo những pháp luật hiện hành của Chính phủ và các Đối tác phát triển.
03 Đối tác phát triển, bao gồm Thuỵ Điển, Đan Mạch và Hà Lan, trong đó
Thụy Điển đóng vai trò là Nhà tài trợ điều phối.
Là một Chương trình sử dụng vốn ODA nên các Đối tác phát triển sẽ
cùng với Chính phủ đóng vai trò quản lý và theo dõi. Vì thế, sẽ có những hoạt
động và quyết định được Thanh tra Chính phủ (TTCP) và các Đối tác phát
triển đồng thời thực hiện.
Cơ cấu quản lý Chương trình được xây dựng ở nhiều cấp độ. Ban chỉ
đạo - ở cấp độ cao nhất đứng đầu là Tổng Thanh tra với thành phần bao gồm
Giám đốc Ban quản lý (BQL) và các lãnh đạo cấp vụ của TTCP.
Cấp độ tiếp theo là BQL, có trách nhiệm quản lý ở cấp độ Chương
trình và quản lý Dự án hợp phần (DAHP) của TTCP. Điều này có nghĩa BQL
sẽ chịu trách nhiệm chính cho việc thực hiện thành công Chương trình. Tuy
nhiên điều này còn phụ thuộc vào các DAHP và các đối tác thực hiện khác
trong ngành Thanh tra.
Cấp độ quản lý thứ ba là các BQL DAHP. Các BQL DAHP có trách
nhiệm triển khai DAHP của mình, báo cáo lên BQL và các cơ quan hữu quan
của Chính phủ Việt Nam thông qua BQL và tuân thủ hướng dẫn chỉ đạo của
BQL. BQL không quyết định những vấn đề liên quan đến việc triển khai ở

16
cấp độ DAHP (trừ DAHP TTCP) nhưng sẽ hỗ trợ các BQL DAHP về mặt
quản lý, kỹ thuật và phương pháp.
TTCP, với vai trò vừa là cơ quan chủ quản Chương trình, vừa là một
DAHP, sẽ là “trung tâm” trong mối quan hệ phối hợp hoạt động giữa các
DAHP nhằm cùng hướng tới thực hiện mục tiêu chung của Chương trình.
Công tác theo dõi được thực hiện bởi đội ngũ cán bộ của BQL và BQL
DAHP, bao gồm cả cán bộ được chỉ định đảm nhiệm công tác theo dõi và
đánh giá, cũng như các cán bộ khác của Chương trình/Dự án. Mỗi đơn vị
(BQL DAHP và BQL) chịu trách nhiệm cho việc xây dựng hệ thống theo dõi

làm cho dự án triển khai có hiệu quả hơn.
Trong một số trường hợp, theo yêu cầu của lãnh đạo hoặc các Đối tác
phát triển, việc đánh giá đột xuất có thể được tiến hành, ví dụ trong trường
hợp quá trình triển khai Chương trình/Dự án không tiến hành thuận lợi, hoặc
khi có những sự việc bất thường xảy ra… Những kiểu đánh giá này không
phổ biến nhưng có tồn tại.
Công việc đánh giá thường do một cá nhân hoặc một tổ chức, công ty
tiến hành mà trước đó không có bất kỳ lợi ích nào từ Chương trình/Dự án
trong suốt giai đoạn lập kế hoạch hoặc giai đoạn thực hiện. Điều này sẽ giúp
cho việc đánh giá được khách quan và không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ lợi ích
nào từ dự án.
Trong năm thực hiện đầu tiên, BQL sẽ xây dựng kế hoạch đánh giá
tổng thể cho toàn bộ thời gian thực hiện Chương trình. Kế hoạch này sẽ được
trình bày trong hội nghị kiểm điểm năm đầu tiên để lấy ý kiến tham vấn của
các Đối tác phát triển. Công việc này sẽ được tiến hành cùng với quá trình
xây dựng hệ thống theo dõi trong đó quy định rõ các yêu cầu báo cáo và thu
thập cơ sở dữ liệu. Tất cả các DAHP sẽ tham gia vào công việc này. Quá
trình này sẽ được tiến hành 2 tháng sau khi Chương trình POSCIS bắt đầu đi
vào hoạt động. Vì thế từ năm thứ hai kế hoạch đánh giá sẽ được lồng vào kế
hoạch năm và là một phần của kế hoạch năm.

18
Sau khi kế hoạch dự kiến được thông qua, BQL sẽ tiến hành các
nghiên cứu thực địa, các công việc tiếp theo để chọn lọc các chỉ số và phương
thức thẩm tra dựa vào Khung Logic của văn kiện Chương trình và các văn
kiện DAHP. Kế hoạch cũng sẽ chỉ rõ ai chịu trách nhiệm gì trong quá trình
thực hiện. Thông thường BQL sẽ quyết định và thuê nguồn lực bên ngoài để
tiến hành đánh giá ở cả cấp độ Chương trình và dự án. Tuy nhiên tư vấn chỉ
làm việc với các DAHP.
Ban quản lý các dự án hợp tác phát triển của Thanh tra Chính phủ dã

bộ đã đạt được và một cam kết về giải trình và minh bạch đối với các kết quả
có thể đánh giá đo lường được.
Hơn nữa, những tiến trình thay đổi trong chính bản thân các nước đang
phát triển, trong đó có quá trình phân cấp phân quyền, thương mại hoá và tư
nhân hoá càng buộc người ta phải đi theo hướng quản lý dựa trên kết quả,
nâng cao sự cần thiết của TD&ĐG ở cấp địa phương, vùng và quốc gia. Ngay
cả khi chính phủ giảm vai trò cung cấp hàng hoá và dịch vụ công của mình,
chính phủ vẫn cần phải theo dõi và đánh giá tác động của các chính sách,
chương trình của mình, bất kể ai đang thực hiện các chính sách, chương trình
đó. Ngoài ra, trong hầu hết các tổ chức tài trợ và tổ chức phi chính phủ, quản
lý dựa trên kết quả hiện nay cũng là một xu hướng và người ta ngày càng kêu
gọi đối tác quốc gia, vùng và địa phương áp dụng mạnh mẽ hơn nữa cách tiếp
cận dựa trên kết quả trong theo dõi và đánh giá.
Theo dõi và Đánh giá trong khuôn khổ Quản lý vì Các kết quả
phát triển
Quản lý vì các kết quả phát triển (QLKQPT) là một sáng kiến có lồng
ghép nhiều khía cạnh. Sáng kiến được đưa ra nhằm mục đích thúc đẩy quan
hệ đối tác phát triển toàn cầu có hiệu quả hơn và định hướng theo kết quả
hơn, sử dụng nhiều công cụ quản lý hiệu quả hoạt động thực tiễn. Nó phản
ánh sự đồng thuận giữa các đối tác về tầm quan trọng của quản lý hiệu quả
trong viện trợ phát triển quốc tế, dựa trên kinh nghiệm quản lý hành chính

20
công trong hơn 30 năm qua. Quản lý dựa trên kết quả được xem là một công
cụ quan trọng để nâng cao chất lượng cũng như tác động của các nỗ lực phát
triển.
Khái niệm QLKQPT được dựa trên các lý thuyết quản lý sự thay đổi
và sự thay đổi trong phát triển, trong đó những khái niệm cốt lõi của các lý
thuyết đó là:
• Định hƣớng theo mục đích; việc đặt ra các mục đích và kết quả rõ

tập quán canh tác mà nhờ đó năng suất được cải thiện, thu nhập và đời sống
hộ gia đình được nâng cao. Đào tạo cán bộ khuyến nông và xây dựng năng
lực thể chế là một công cụ quan trọng khác
Tầm quan trọng của việc Đánh giá Kết quả
Nếu không đánh giá kết quả, bạn không thể thấy được thành công từ
những thất bại.
Nếu không nhận ra thành công, bạn không thể hưởng thành quả đó.
Nếu không thể hưởng thành quả đó, có thể bạn đang phải nếm mùi
thấtbại.
Nếu không nhận ra thành công, bạn không thể học hỏi được gì từ thành
công đó. Nếu bạn không nhận ra thất bại, bạn không thể sửa chữa nó.
Nếu chứng minh được kết quả, bạn có thể giành được sự ủng hộ của
công chúng giúp đạt được mục tiêu này.
Thông qua các chỉ số được xây dựng ở từng bước, người ta có thể đánh
giá liệu những thay đổi mong muốn có thực sự xảy ra hay không và ở mức độ
nào. Xác định những khía cạnh đã thực hiện tốt, chưa tốt sẽ cung cấp thông
tin quan trọng sử dụng cho việc quản lý quá trình thay đổi cũng như tối đa
hoá lợi ích cho nhóm dân chúng mục tiêu. TD&ĐG thường chủ yếu tập trung
vào quá trình thực hiện, xem xét các hoạt động có được thực hiện đúng thời
gian và kết quả đạt được. Trong quản lý dựa trên kết quả, TD&ĐG được sử
dụng không chỉ trả lời cho câu hỏi “họ có thực hiện không?”, mà còn đánh
giá mức độ các hoạt động và đầu ra đóng góp vào việc đạt được các kết quả
và tác động như thế nào, cố gắng trả lời câu hỏi cuối cùng “đời sống của

22
người dân được cải thiện đến đâu?” và “đã có một môi trường thuận lợi được
tạo ra để đạt được kết quả đó hay không?”. Quan niệm của các bên có liên
quan về thay đổi cũng được quan tâm.
Ngoài nâng cao trách nhiệm giải trình, hệ thống TD&ĐG còn giúp các
bên có liên quan học hỏi từ chính hành vi của mình cũng như nâng cao kiến

4 Dữ liệu cơ sở về chỉ số - HIện nay chúng ta đang ở đâu?
5 Lập kế hoạch Cải thiện - Chọn các Mục tiêu kết quả
6 Theo dõi kết quả
7 Vai trò của Đánh giá
8 Báo cáo Kết quả phát hiện
9 Sử dụng Kết quả phát hiện
10 Duy trì hệ Hệ thống TD&ĐG trong Tổ chức
Việc thực hiện theo dõi và giám sát dự án của Viện Nam được thực
hiện 9 bước theo dõi để thực hiện nhiệm vụ theo dõi mộtdự án ODA, bao
gồm:
Bƣớc 1: Xây dựng và điều chỉnh khung logic của dự án đƣợc theo
dõi
Bước đầu tiên là xây dựng hoặc điều chỉnh khung lôgíc làm cơ sở cho
việc thiết lập và sử dụng hệ thống theo dõi dự án. Khung lôgíc là một công cụ
phân tích, trình bày và quản lý giúp các cán bộ thực hiện theo dõi, các nhà
hoạch định và nhà quản lý thực hiện các nhiệm vụ sau:
• Phân tích thực trạng trong quá trình chuẩn bị,
• Xây dựng lịch trình lôgíc cho các hoạt động để đạt được kết quả đầu
tư,
• Xác định các rủi ro tiềm ẩn ảnh hưởng tới việc đạt được các kết quả
bền vững,
• Thiết lập cơ chế theo dõi và đánh giá các sản phẩm đầu ra và kết quả
đầu tư,
• Theo dõi dự án trong quá trình thực hiện.

24
Có thể xây dựng khung lôgíc cho dự án hoặc điều chỉnh khung lôgíc
sẵn có trong Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Văn kiện thiết kế dự án.
Bƣớc 2: Xác định các câu hỏi hoạt động, nhu cầu thông tin và các
chỉ số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status