56
Xã hội học số 1 (89), 2005
Biến đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô Hà Nội
trong quá trình đô thị hóa
Nguyễn Hữu Minh và đồng nghiệp
Mở đầu
Các nhà nghiên cứu phát triển đô thị đã đa ra một số định nghĩa khác nhau
về vùng ven đô, song có thể tóm tắt các điểm chung nhất nh sau: về mặt địa lý vùng
ven đô đợc hiểu là khu vực cận kề với thành phố. Vùng ven đô là nơi vừa có các hoạt
động đặc trng cho nông thôn vừa có các hoạt động mang tính chất đô thị. Vùng ven
đô không tồn tại độc lập mà nằm trong một miền liên thông nông thôn - ven đô - đô
thị. Các mối quan hệ tơng tác lẫn nhau của các bộ phận hợp thành hệ thống nông
thôn - ven đô - đô thị đợc thể hiện ở chỗ nông thôn và ven đô là nơi cung cấp thờng
xuyên, lâu dài lơng thực thực phẩm, nguồn nguyên liệu và nguồn lao động cho đô
thị, ngợc lại đô thị tạo ra thị trờng để tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, tạo cơ
hội việc làm và nơi ở cho các dòng di dân từ nông thôn đến đô thị, và cung cấp các
sản phẩm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp (Iaquinta và Drescher 2002). Thông
thờng, ngời ta xác định ranh giới của vùng ven đô dựa vào các chính sách quy
hoạch đô thị và các biện pháp quản lý hành chính. Trong bài viết này chúng tôi coi
tất cả các xã, thị trấn có phần lãnh thổ tiếp giáp khu vực nội thành Hà Nội là vùng
ven đô.
Qúa trình đô thị hóa tạo ra những biến đổi mạnh mẽ trong cuộc sống c dân ở
các vùng nông thôn, trớc hết là các vùng ven đô. Có thể coi khu vực ven đô là vùng
đệm cho bớc chuyển từ nông thôn sang thành thị, nơi phản ánh rõ nét nhất những
ảnh hởng của quá trình đô thị hóa đối với nông thôn. Những biến đổi có thể khác
nhau đối với các nhóm xã hội, và diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống:
nghiệp cũng phát triển khá nhanh. Xu hớng chuyển đổi nghề nghiệp tại Cổ Nhuế,
Thạch Bàn và Gia Thụy đang hớng đến các hoạt động hởng lơng và trợ cấp (từ
khu vực quốc doanh cũng nh ngoài quốc doanh), sản xuất thủ công nghiệp, và buôn
bán/dịch vụ. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp tại các địa phơng vẫn còn giữ một vị
trí đáng kể trong các hoạt động kinh tế. Các yếu tố tác động chủ yếu đến sự thay đổi
cơ cấu nghề nghiệp của các địa phơng trong quá trình đô thị hóa là: sự thay đổi
chính sách vĩ mô của nhà nớc; sự hình thành các khu công nghiệp; mạng lới giao
thông phát triển; sự thay đổi quyền sử dụng đất của dân c; sự tồn tại các ngành
nghề truyền thống tại địa phơng; thị trờng tiêu thụ; sự phát triển của khoa học kỹ
thuật, công nghệ.
Cơ cấu nguồn thu nhập và mức sống cũng thay đổi cùng chiều với sự thay đổi
của cơ cấu nghề nghiệp. Ngoài nguồn thu nhập từ nông nghiệp truyền thống, các
nguồn thu khác nh từ lơng, thủ công nghiệp, và buôn bán dịch vụ ngày càng có vai
trò quan trọng. Mức sống dân c tại các địa bàn khảo sát cũng đã đợc nâng lên. Số
hộ nghèo giảm dần. Tỉ lệ hộ nghèo tại các địa bàn khảo sát thấp hơn rõ rệt so với tỉ lệ
nghèo chung của quốc gia. Sự phát triển các khu công nghiệp quanh Hà Nội rõ ràng
có ảnh hởng đến vấn đề này.
Thu nhập của các hộ gia đình có quan hệ với nghề nghiệp. Nhóm thu nhập
thấp thờng là các hộ thuần nông hoặc làm thuê; nhóm thu nhập trung bình là các
hộ buôn bán và dịch vụ; nhóm có thu nhập khá là những ngời hởng lơng từ nhà
nớc hoặc chủ các doanh nghiệp nhỏ; và nhóm có thu nhập cao là các chủ doanh
nghiệp lớn. Thu nhập trung bình từ trồng lúa là 1,3 triệu đồng/hộ/năm, trong khi
đó thu nhập trung bình từ buôn bán, dịch vụ là 12triệu đồng/hộ/năm, từ tiểu thủ 1
Xin xem chi tiết về phơng pháp nghiên cứu ở Báo cáo đề tài Biến đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô Hà
Nội trong quá trình đô thị hóa do Phòng Xã hội học Đô thị thực hiện, lu tại Viện Xã hội học.
Bn quyn thuc Vin Xó hi hc. www.ios.org.vn
Biến đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
2. Nguồn nớc ăn
Nguồn nớc ăn của các gia đình tùy thuộc nhiều vào dịch vụ cung cấp của nhà
nớc. Cho đến nay, đa số gia đình ở thị trấn Sài Đồng dùng nớc máy có vòi riêng,
còn dân c các xã Gia Thụy, Thạch Bàn, và Cổ Nhuế thì dùng nớc giếng khoan là
chủ yếu vì, hoặc cha có hệ thống nớc máy, hoặc mới đợc cấp nhng việc cung cấp
nớc ch
a thuận lợi.
Có sự tăng lên đáng kể về chất lợng nguồn nớc ăn của dân c ở địa bàn
khảo sát theo thời gian. Nếu nh vào năm 1995, chỉ có 19,4% hộ gia đình ở khu vực
Sài Đồng đợc dùng nớc máy (vòi riêng hoặc chung), thì vào năm 2000 đã có 37% hộ
gia đình đợc dùng nớc máy. Năm 1995 vẫn còn 24% sử dụng nớc giếng đào để ăn,
nhng đến năm 2000 chỉ còn 1,7% hộ gia đình dùng. Tình hình cũng diễn ra tơng tự
ở Cổ Nhuế. Năm 1995 chỉ có 15% hộ gia đình dùng nớc máy để ăn. Đến năm 2000,
Bn quyn thuc Vin Xó hi hc. www.ios.org.vn
Nguyễn Hữu Minh và đồng nghiệp
59
tỉ lệ hộ gia đình dùng nớc máy là: 38%.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều ngời dùng nguồn nớc giếng đào, thậm
chí nớc ao hồ để tắm giặt, rửa ráy, do thói quen muốn dùng nớc thoải mái và tiết
kiệm tiền nớc máy. Có nhiều gia đình ở Gia Thụy hoặc thị trấn Sài Đồng không
đợc dùng nớc máy, vì ở sâu trong ngõ ngách nên không có đủ tiền mắc ống nớc
vào nhà.
3. Nhà tắm và nhà vệ sinh
Sự thay đổi nhà tắm và nhà vệ sinh có lẽ là thớc đo quan trọng nhất về thay
đổi lối sống dân c theo định hớng đô thị hóa. Phần lớn các gia đình vẫn còn dùng
nhà tắm ngoài phòng ở (không có vòi hoa sen, bình nóng lạnh). Một bộ phận gia đình
thậm chí còn dùng nhà tắm tạm (tính chung cho khu vực Sài Đồng là 15,3%). Điều
đó chứng tỏ mức sống và trình độ đô thị hóa ở khu vực khảo sát cha cao.
Tuy nhiên, đã có sự thay đổi đáng kể về mức độ nâng cấp nhà tắm của các
hộ gia đình. Nếu vào năm 1995, chỉ có 6% hộ gia đình ở khu vực Sài Đồng và 7% hộ
nhỏ các gia đình đổ rác ra vờn, ao.
Việc đổ rác ra vờn, ao phụ thuộc rất nhiều vào kiểu loại nhà và đất ở. Những
gia đình có nhà kiểu nông thôn truyền thống có xu hớng đổ rác ra vờn, xuống ao
nhiều hơn. Số gia đình có nhà kiểu nông thôn truyền thống cũng chiếm tỷ lệ cao đổ
rác ra bãi rác chung (hơn 1/3). Nhà kiểu hỗn hợp và kiểu mới chủ yếu là đổ rác ra xe
của Công ty Môi trờng đô thị (khoảng 2/3), còn nhà tập thể thì gần nh 100% đổ rác
ra xe của Công ty Môi trờng đô thị. Những gia đình có diện tích sân, vờn, ao rộng
thờng đổ rác ra vờn, ao nhiều hơn.
Hình thức xử lý rác đã thay đổi cơ bản theo xu hớng tiến bộ. Cho đến năm
1995, tại khu vực Sài Đồng vẫn còn 54,4% hộ gia đình đổ rác ra vờn, ao, và chỉ có
19,8% đổ ra bãi rác chung, 12,8% đổ ra xe của công ty môi trờng. Đến thời điểm
2000 chỉ còn 18,7% hộ gia đình đổ rác ra vờn, ao. Trong khi đó, tỉ lệ hộ gia đình đổ
rác ra bãi rác chung là 24,3% và đổ ra xe của công ty môi trờng là 46%. Đối với Cổ
Nhuế, năm 1995 có 33% hộ gia đình còn đổ rác ra vờn, ao và chỉ có 21% hộ gia đình
đổ rác ra bãi chung hoặc xe của công ty. Vào thời điểm 2000 chỉ còn 7% gia đình đổ
rác ra vờn, ao và 55% hộ gia đình đã đổ rác ra bãi chung hoặc xe của công ty môi
trờng. Đến năm 2003 thì có 99% các hộ gia đình ở Cổ Nhuế đã đổ rác ra xe của công
ty môi trờng.
Việc phân tích một số khía cạnh chủ yếu về cơ sở hạ tầng, nhà ở, và môi
trờng chỉ ra rằng, khu vực ven đô có kiểu kiến trúc, quần c nhà ở và trang thiết bị
cơ sở hạ tầng nhà ở mang cả dáng dấp đô thị và nông thôn. Ngoài ra, có sự khác biệt
rõ ràng giữa các địa điểm nghiên cứu về mức độ đô thị hóa. Hai xã Cổ Nhuế và Gia
Thụy gần trung tâm Hà Nội hơn cả nên lối sống đô thị có ảnh hởng nhiều đến kiểu
kiến trúc nhà ở. Đây cũng là xã chịu nhiều ảnh hởng của cơn sốt đất đầu những
năm 1990 và gần đây (hoạt động mua bán đất nhiều nhất). Thị trấn Sài Đồng có đặc
điểm là xen kẽ nhiều kiểu loại nhà ở (kiểu mới, truyền thống, các căn hộ tập thể ),
mức độ đô thị hóa cao hơn: diện tích ở thấp, mức độ sử dụng các trang thiết bị hiện
đại cao nh nhà tắm, nhà xí, và cách xử lý rác thải theo hớng đô thị. Thạch Bàn là
vùng mang đậm tính nông thôn hơn: tổng diện tích ở của các hộ cao, mức độ hiện đại
hóa về tiện nghi là thấp.
Việc hiếu hỉ cũng đi vào nề nếp, tránh các hủ tục tốn kém và lãng phí. Các gia đình
đã dần bớt đi việc ăn uống linh đình phô trơng mà tổ chức tang ma, cới xin trang
trọng, đơn giản, thực hiện tốt việc cới, tang theo nếp sống mới lịch sự, tiết kiệm.
Song song với cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa,
các xã cũng rất chú trọng đầu t vào những hoạt động văn hóa tinh thần khác nh
hoạt động của các câu lạc bộ, nhà văn hóa, th viện, sân chơi ở Sài Đồng, chất
lợng hoạt động của các câu lạc bộ đợc nâng cao, thu hút nhiều ngời, nhiều đối
tợng tham gia bằng nhiều hình thức phong phú. Hệ thống th viện đợc hình thành
ở các thôn xóm với hàng nghìn đầu sách báo. Công tác thông tin tuyên truyền còn
đ
ợc thực hiện rất tốt qua hệ thống loa truyền thanh, một phơng tiện truyền thông
rất phổ biến và hiệu quả tại cộng đồng. Trong một xã hội năng động, biến đổi hàng
ngày với biết bao sự kiện, việc cập nhật thông tin là hết sức cần thiết. Vì vậy, các địa
phơng đều quan tâm đến lĩnh vực truyền thông, đầu t kịp thời để đa thông tin
đến từng ngõ xóm dân c.
Thu nhập cao giúp cho ngời dân có điều kiện hởng thụ một cuộc sống vật
chất dồi dào và cuộc sống tinh thần phong phú. So với năm 1995, tỉ lệ gia đình có
các phơng tiện nghe nhìn tăng lên rõ rệt. Việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của
ngời dân vùng ven đô Hà Nội trở nên đa dạng và phong phú hơn. Không chỉ sang
hàng xóm trò chuyện, uống nớc, đánh cờ, chơi với cháu con họ còn có thể tham
gia nhiều hoạt động văn hóa tinh thần trong và ngoài gia đình. Tuy nhiên, các hoạt
động giải trí ngoài gia đình chiếm tỉ lệ không cao. Hoạt động đợc mọi ngời tham
gia nhiều nhất là sang hàng xóm chơi. Việc đi xem phim, kịch, ca nhạc là thấp nhất
vì đây là hoạt động đòi hỏi phải có tiền, có sự chuẩn bị. Việc sang hàng xóm chơi có
số ngời lựa chọn nhiều hơn cho thấy tính chất cộng đồng làng xã vẫn còn đợc duy
trì trong xã hội đang trong quá trình đô thị hóa. Sự giao lu cởi mở gần gũi là một
Bn quyn thuc Vin Xó hi hc. www.ios.org.vn
Biến đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
62
kể. Con ngời không còn bị bó hẹp trong phạm vi làng xã mà quan hệ rộng mở hơn,
có điều kiện giao lu tiếp xúc với những tầng lớp và nhóm ngời trong xã hội, tham
gia nhiều hoạt động phong phú, mở rộng tầm mắt và nâng cao hiểu biết.
Kết luận
Những phân tích bớc đầu về sự biến đổi kinh tế - xã hội ở khu vực ven đô Hà
Nội trong quá trình đô thị hóa cho thấy rằng, sự thay đổi các chính sách kinh tế vĩ
mô, sự xuất hiện các khu công nghiệp, sự chuyển hóa quyền sử dụng đất, v.v. đã dần
dần biến những vùng quê yên ả thanh bình thành những khu công nghiệp mang
dáng dấp của đô thị hiện đại. Những biến đổi diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, từ cơ
cấu nghề nghiệp, nguồn thu nhập, mức sống, đến nhà ở, cơ sở hạ tầng; từ đời sống
vật chất đến đời sống văn hóa tinh thần.
Bn quyn thuc Vin Xó hi hc. www.ios.org.vn
Nguyễn Hữu Minh và đồng nghiệp
63
Cơ cấu nghề nghiệp của vùng ven đô Hà Nội đã có nhiều biến đổi trong quá
trình đô thị hóa. Các ngành nghề phi nông nghiệp phát triển, nguồn thu nhập từ các
ngành nghề phi nông nghiệp tăng dần tỉ trọng trong cơ cấu nguồn thu của hộ gia
đình. Các gia đình làm ngành nghề phi nông nghiệp thờng có thu nhập cao hơn so
với các gia đình thuần túy làm nông nghiệp. Tuy nhiên, mức độ thay đổi về cơ cấu
ngành nghề ở các địa phơng là khác nhau tùy thuộc vào điều kịên từng địa phơng.
Các yếu tố có vai trò quan trọng tác động đến những thay đổi đó là: khoảng cách đến
các khu công nghiệp, sự hiện diện của các ngành nghề truyền thống, thị trờng tiêu
thụ, v.v
Ngành nghề nông nghiệp tuy có vai trò giảm sút trong cơ cấu nghề nghiệp và
thu nhập của c dân vùng ven đô, nhng vẫn có ý nghĩa quan trọng không thể thiếu
đợc trong sự phát triển của khu vực ven đô. Một vấn đề đặt ra trong những năm tới
chính là làm sao vẫn đảm bảo đợc vai trò địa bàn cung cấp lơng thực, thực phẩm
cho dân số đô thị ngày càng tăng, trong điều kiện sút giảm về diện tích canh tác.
Có sự pha trộn giữa những đặc trng đô thị và đặc trng nông thôn về khuôn
mẫu nhà ở và cơ sở hạ tầng tại các địa bàn ven đô. Đồng thời, có mối quan hệ nhất
vực thay đổi khá nhanh chóng trong quá trình đô thị hóa nh tiện nghi nhà ở, hành
vi ứng xử đối với môi trờng, các phơng tiện văn hóa tinh thần. Tuy nhiên, một số
lĩnh vực thì sự thay đổi có chậm hơn. Những hành vi văn hóa là một ví dụ. Sự tăng
lên đời sống vật chất cha đủ xung lực để làm biến đổi mạnh mẽ đời sống văn hóa
của dân c. Đồng thời sự biến đổi các hoạt động kinh tế - xã hội của c dân còn tùy
thuộc vào môi trờng văn hóa của địa phơng và điều kiện sống của gia đình. Các gia
đình có thu nhập cao, các gia đình có nghề nghiệp phi nông nghiệp thờng thích ứng
nhanh hơn với đời sống đô thị và đóng vai trò tiên phong trong việc chuyển đổi lối
sống theo định hớng đô thị.
Tài liệu tham khảo
1. Báo cáo của ủy ban nhân dân các xã Thạch Bàn, Gia Thụy, Cổ Nhuế, và thị trấn Sài
Đồng trong một số năm gần đây.
2. Iaquinta D.L. and Drescher A.W., 2002. Defining the peri-urban: rural - urban linkages
and institutional connections. Nebraska Wesleyan University.
3. Phòng Xã hội học Đô thị 2003. Báo cáo đề tài Biến đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô Hà
Nội trong quá trình đô thị hóa. Tài liệu lu ở Th viện Viện Xã hội học.
Bn quyn thuc Vin Xó hi hc. www.ios.org.vn
Nguyễn Hữu Minh và đồng nghiệp
65
Tóm tắt
biến đổi kinh tế - xã hội ở vùng ven đô hà nội trong
quá trình đô thị hóa
Nguyễn Hữu Minh và Đồng nghiệp
Bài viết phân tích một số chuyển biến kinh tế-xã hội ở vùng ven đô Hà Nội trong
quá trình đô thị hóa thời gian gần đây. Kết quả phân tích bớc đầu cho thấy đã có
những biến đổi đáng kể diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, từ cơ cấu nghề nghiệp,
nguồn thu nhập, mức sống, đến nhà ở, cơ sở hạ tầng; từ đời sống vật chất đến đời
sống văn hóa tinh thần. Các ngành nghề phi nông nghiệp phát triển, nguồn thu