Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU TRANG
CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN
SƠN DƢƠNG (TỈNH TUYÊN QUANG) TRONG
THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986 - 2010) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thái Nguyên- Năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Thái Nguyên, Năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa có ai công bố
trong một công trình nào khác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục i
Danh mục các chữ viết tắt iii
Danh mục các bảng iv
MỞ ĐẦU 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI 3
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
3.3. Nhiệm vụ của đề tài 3
4. NGUỒN TƢ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
4.1. Nguồn tƣ liệu 3
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 4
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 4
3.3.2. Giáo dục 85
3.4. Y tế – Môi trƣờng 92
3.4.1. Về y tế 92
3.4.2. Về môi trƣờng 96
3.5. An ninh – Quốc phòng 99
3.5.1. Về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội 100
3.5.2. Về quốc phòng 101
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Đọc là
BCH
Ban chấp hành
CNH – HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
Nxb
Nhà xuất bản
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
3.4. Bảng cán bộ ngành y, dƣợc huyện Sơn Dƣơng (1991 – 2005) 93
3.5. Bảng tổng số lƣợt ngƣời khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế huyện
Sơn Dƣơng (2001 - 2010) 94
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nƣớc ta bƣớc vào một kỷ
nguyên độc lập, thống nhất, đi lên CNXH. Trong những năm đầu xây dựng
CNXH trên phạm vi cả nƣớc, bên cạnh những thành tựu đạt đƣợc chúng ta
cũng gặp không ít những khó khăn, yếu kém, sai lầm dẫn đến tình trạng
khủng hoảng kinh tế xã hội. Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu quốc lần thứ
VI (tháng 12/1986) diễn ra nhƣ một mốc son lịch sử, đánh dấu sự chuyển
hƣớng có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành mô hình kinh tế mới. Đặc
trƣng cơ bản của mô hình kinh tế mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đề
ra là phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chuyển nền kinh tế quan
liêu bao cấp sang kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng XHCN có sự quản lý và
điều tiết của Nhà nƣớc. Đƣờng lối đổi mới này tiếp tục đƣợc khẳng định và
hoàn thiện tại Đại hội toàn quốc lần thứ VII (6/1991), lần IX (4/2001).
Trải qua hơn 20 năm từ khi đƣờng lối đổi mới đƣợc triển khai với các
kế hoạch dài hạn nối tiếp nhau đã tạo ra những bƣớc chuyển biến căn bản làm
thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Đến năm 1996, Việt Nam đã
thoát ra khỏi khủng hoảng - đó là thành tựu vƣợt bậc của đất nƣớc sau hơn 10
năm thực hiện đổi mới. Thành tựu đó đã tạo ra động lực mạnh mẽ để toàn
Đảng, toàn dân tin tƣởng vào sự đúng đắn của đƣờng lối đổi mới và tiếp tục
bƣớc vào thời kỳ phát triển mới thực hiện mục tiêu CNH - HĐH đất nƣớc,
thực hiện dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
dục truyền thống lịch sử cho thế hệ trẻ.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn vấn đề “Chuyển biến về
kinh tế - xã hội huyện Sơn Dương(tỉnh Tuyên Quang) trong thời kỳ đổi
mới (1986 - 2010)” làm đề tài luận văn thạc sĩ. 3
3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của Luận văn là những chuyển biến về kinh tế và
xã hội ở huyện Sơn Dƣơng trong thời kỳ đổi mới từ 1986 – 2010
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian:
Luận văn giới hạn huyện Sơn Dƣơng thuộc tỉnh Tuyên Quang. Địa giới
hành chính huyện gồm: 32 xã và 1 thị trấn (thị trấn Sơn Dƣơng)
- Về thời gian:
Luận văn nghiên cứu từ 1986 đến năm 2010. Tuy nhiên, để làm sáng tỏ
sự chuyển biến kinh tế của huyện, luận văn còn đề cập khái quát tình hình
kinh tế - xã hội của huyện trƣớc 1986.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
Thứ nhất, Luận văn đề cập khái quát huyện Sơn Dƣơng về điều kiện tự
nhiên, đặc điểm và tình hình kinh tế - xã hội trƣớc năm 1986
Thứ hai, Luận văn nghiên cứu hệ thống, toàn diện những chuyển
biến về kinh tế - xã hội của huyện từ 1986 đến 2010. Qua đó, rút ra đặc
điểm, mặt mạnh và những hạn chế của huyện Sơn Dƣơng trong phát triển
kinh tế - xã hội từ năm 1986 đến năm 2010
4. NGUỒN TƢ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Nguồn tư liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng:
- Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nƣớc, của các cấp
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn chia làm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Tình hình kinh tế - xã hội huyện Sơn Dƣơng trƣớc năm 1986.
Chƣơng 2: Chuyển biến kinh tế huyện Sơn Dƣơng (1986 - 2010).
Chƣơng 3: Chuyển biến xã hội huyện Sơn Dƣơng (1986 - 2010). 5
Chƣơng 1
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN SƠN DƢƠNG
TRƢỚC NĂM 1986
1.1. Khái quát huyện Sơn Dƣơng
1.1.1. Điều kiện tự nhiên – Quá trình hình thành
Sơn Dƣơng là huyện miền núi trung du nằm ở phía Nam tỉnh Tuyên
Quang, có vị trí địa lí từ 21º30' đến 21º50' độ vĩ Bắc, từ 105º15' đến
105º35' độ kinh Đông. Phía Bắc giáp huyện Yên Sơn. Phía Nam và phía
Tây Nam giáp ba huyện Đoan Hùng, Phong Châu (Phú Thọ), Lập Thạch
(Vĩnh Phúc). Phía Đông giáp hai huyện Đại Từ, Định Hóa(Thái Nguyên),
đƣợc coi là điểm huyết mạch nối liền các tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái, Lào
Cai với các tỉnh ở khu vực miền núi Đông Bắc nhƣ Thái Nguyên, Cao
Bằng, Bắc Kạn [24,tr.5]. Chiều dài của huyện từ xã Trung Yên đến xã
Lâm Xuyên kéo dài 80 km, chiều rộng từ xã Hợp Hòa đến xã Hồng Lạc
dài 30km. Tổng diện tích tự nhiên có 789,26 km
2
bằng 13,4% diện tích
của toàn tỉnh Tuyên Quang. Trên địa bàn huyện có Quốc lộ số 2C đi qua
theo hƣớng Bắc Nam, Quốc lộ 37 đi qua theo hƣớng Đông Tây là những
trục giao thông quan trọng thúc đẩy giao lƣu kinh tế huyện với các huyện
sông Lô chảy qua địa bàn huyện. Đây là loại đất có diện tích tƣơng đối lớn,
thích hợp cho trồng lúa và cây nông nghiệp ngắn ngày.
- Đất dốc tụ trồng lúa nƣớc (Ld) phân bố xen kẽ các khu đồi đất thấp.
Đây là loại đất đƣợc hình thành do sự tích tụ các sản phẩm phong hoá trên cao
đƣa xuống, có độ phì khá, thích hợp cho trồng lúa
- Đất feralit biến đổi do trồng lúa (Lf) đƣợc hình thành do quá trình cải tạo
trồng lúa nƣớc, loại đất này phân bố chủ yếu ở vùng tiếp giáp với đồi núi và thung
lũng sông, suối thích hợp cho việc trồng lúa và các cây nông nghiệp ngắn ngày.
- Đất nâu vàng phát triển trên nền phù sa cổ (Fp), loại đất phân bố ở
các khu vực canh tác, thích hợp cho việc trồng màu và các cây công
nghiệp ngắn ngày. 7
- Đất vàng nâu phát triển trên phiến sa thạch (Fq) tập trung ở các khu
vực đồi núi, địa hình đồi bát úp thấp thoải, tầng đất dày, đây là loại đất có
diện tích lớn. Loại đất này thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt là cây
chè, và cây lâm nghiệp.
Nhìn chung, khí hậu và thổ nhƣỡng Sơn Dƣơng thích hợp để phát triển
các vùng chuyên canh phát triển cây nông nghiệp cũng nhƣ cây lâm nghiệp và
các loại công nghiệp lâu năm, đặc biệt trên địa bàn huyện có khả năng phát
triển mở rộng diện tích cây chè, cây mía, đỗ tƣơng.
Sơn Dƣơng có nhiều sông, suối, ngòi. Lớn nhất là sông Lô, sông Lô bắt
nguồn từ Trung Quốc chảy qua Hà Giang xuống Tuyên Quang, chảy dài theo
trục Bắc Nam của huyện qua địa phận 8 xã (từ xã Vĩnh Lợi đến xã Lâm
Xuyên) với chiều dài 33 km, phân cách với ba huyện Yên Sơn (Tuyên
Quang), Đoan Hùng, Phong Châu (Phú Thọ). Sông Phó Đáy chảy trong nội
địa theo hƣớng Bắc - Nam qua địa phận 12 xã (từ xã Trung yên đến xã Ninh
Lai) với chiều dài 50 km. Ngoài ra, do có địa hình đồi núi và dãy núi Tam
Đảo nên hệ thống suối, khe, lạch phong phú: suối Lê, ngòi Thia, ngòi Khổng,
59,86% diện tích tự nhiên, độ che phủ của rừng năm 2005 đạt trên 52%. Diện
tích rừng trồng trên 21.000 ha, là nguồn cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho
công nghiệp chế biến gỗ, giấy và bột giấy [28,tr.10].
Trữ lƣợng rừng gỗ 1.770.273 m
3
, gồm:
+ Trữ lƣợng rừng gỗ là tự nhiên 829.632 m
3
.
+ Trữ lƣợng rừng gỗ là rừng trồng 940.641 m
3
.
Trữ lƣợng rừng tre, nứa 33.152.000 cây, gồm:
+ Trữ lƣợng rừng tre, nứa là rừng tự nhiên 32.406.000 cây.
+ Trữ lƣợng rừng tre, nứa là rừng trồng 746.000 cây. 9
Khu vực Vƣờn quốc gia Tam Đảo (thuộc địa bàn 5 xã của huyện Sơn
Dƣơng gồm: Kháng Nhật, Hợp Thành, Hợp Hoà, Ninh Lai, Thiện Kế) với
tổng diện tích 6.078,4 ha, chiếm 12,9% tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn
huyện, trong đó: đất có rừng 5.105,4 ha, đất chƣa có rừng 973 ha. Đây là
nguồn tài nguyên quý giá cần đƣợc bảo vệ và tăng cƣờng công tác trồng rừng
tái sinh [24,tr.79]. Trong vƣờn quốc gia có hệ thực vật đa dạng (nhiều loại cây
nhƣ thông, tuế, thông đất, khuyết lá thông, cỏ tháp bát, dƣơng xỉ), trong đó có
nhiều loài thực vật quý hiếm (trầm hƣơng, nghiễn, lát hoa, tuế đá vôi, hoàng
đàn, mun, pơ mu), đặc biệt trên địa bàn huyện có khu rừng nguyên sinh có giá
trị nghiên cứu khoa học và phục vụ du lịch sinh thái trong tƣơng lai. Động vật
rừng của huyện khá phong phú với những loài thú tại rừng nguyên sinh
thƣờng sống ở rừng sâu, xa dân cƣ.
những thành tựu mới của ngành Khảo cổ học, hiện nay trên vùng đất Sơn
Dƣơng đã phát hiện nhiều di vật của cƣ dân từ thời đồ đá, đồ đồng, đồ sắt.
Năm 2003, tại thôn Văn Sòng xã Thiện Kế, nhân dân địa phƣơng đã đào đƣợc
chiếc trống đồng Đông Sơn, có niên đại cách đây khoảng 4.000 năm [1,tr.10],
cũng vào thời gian đó, nhân dân thôn Bắc Hoàng thuộc thị trấn Sơn Dƣơng đã
đào đƣợc chiếc trống đồng có đại cách ngày nay khoảng 2.000 năm. Trải qua
các thời kỳ lịch sử, Sơn Dƣơng có nhiều thay đổi về địa giới hành chính. Khi
Nhà nƣớc Văn Lang ra đời, Sơn Dƣơng thuộc bộ Văn Lang. Thời Nhà Minh
(thế kỷ XV) gọi là châu Để Giang: Để là Đáy, Giang là Sông, tức là châu
Sông Đáy – vùng đất chạy dọc theo Sông Đáy. Đến thế kỷ XVI, châu Để
Giang đƣợc đổi tên thành châu Sơn Dƣơng: Sơn là núi, Dƣơng là ánh sáng
lúc mặt trời mọc trên đỉnh núi. Châu Sơn Dƣơng thuộc phủ Đoan Hùng, trấn
Sơn Tây bao gồm 42 xã và 4 trang [20,tr.320]. Năm 1888, Nhà Nguyễn tách
Sơn Dƣơng nhập vào thừa tuyên Tuyên Quang. Đầu thế kỷ XX, thực dân
Pháp chia Tuyên Quang thành hai tỉnh là Tuyên Quang và Hà Giang, Sơn
Dƣơng dƣới quyền quản lý trực tiếp của tỉnh Tuyên Quang. Năm 1976, Tuyên 11
Quang và Hà Giang đƣợc sáp nhập gọi tên là tỉnh Hà Tuyên và Sơn Dƣơng là
một trong những trọng điểm kinh tế của tỉnh Hà Tuyên. Năm 1991, Hà Tuyên
lại chia thành hai tỉnh là Tuyên Quang và Hà Giang, Sơn Dƣơng là đơn vị
hành chính trực thuộc tỉnh Tuyên Quang.
Tính đến năm 1999, Sơn Dƣơng có 165.188 ngƣời gồm 10 dân tộc anh
em (Kinh, Tày, Sán Chay, Sán Dìu, Nùng, Mông, Hoa, Mƣờng) sống gắn bó
đoàn kết trong 33 xã (Trung Yên, Minh Thanh, Tân Trào, Bình Yên, Lƣơng
Thiện, Tú Thịnh, Hợp Thành, Kháng Nhật, Hợp Hòa, Thiện Kế, Ninh Lai,
Tuân Lộ, Thanh Phát, Thƣợng Ấm, Vĩnh Lợi, Cấp Tiến, Phúc Ứng, Sơn Nam,
Đại Phú, Phú Lƣơng, Tam Đa, Hào Phú, Hồng Lạc, Sầm Dƣơng, Lâm Xuyên,
Văn Phú, Vân Sơn, Đông Lợi, Chi Thiết, Đồng Quý, Quyết Thắng, Đông
phƣơng và xuất khẩu. Cùng với cây lƣơng thực và cây thực phẩm, nhân dân
Sơn Dƣơng còn trồng các loại cây công nghiệp và cây ăn quả có sản lƣợng và
giá trị kinh tế cao mà ngày nay vẫn đang dƣợc phát triển: cây chè, nhãn, vải,
mía. Bên cạnh trồng trọt, Sơn Dƣơng với một địa hình đa dạng và một thảm
thực vật phong phú nên có điều kiện để đẩy mạnh chăn nuôi các đàn gia súc
lớn và chăn nuôi trang trại.
Nhờ có một nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú (đất sét, cao lanh,
đá vôi, các loại quặng…) nên Sơn Dƣơng có điều kiện để phát triển các ngành
công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng qui
mô lớn. Các ngành tiểu thủ công nghiệp nhƣ: đan lát, mây tre đan, đồ mộc,
chế biến gỗ, cơ khí… đã đáp ứng đƣợc nhu cầu của nhân dân địa phƣơng và
đem bán ra nhiều nơi trên cả nƣớc.
Sơn Dƣơng có khu di tích lịch sử cách mạng Tân Trào - ATK gắn liền với
lịch sử dân tộc Việt Nam, là thủ đô của khu giải phóng Việt Bắc, gồm các địa
danh lịch sử nổi tiếng nhƣ: Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào, lán Nà Lừa, 13
đình Tân Trào, hang Bòng, nhà làm việc và hầm an toàn của Bác Tôn… đã trở
thành một địa danh lịch sử nổi tiếng . Hiện nay, trên địa bàn huyện có hơn 100
điểm di tích chủ yếu nằm trên địa bàn các xã: Tân Trào, Trung Yên, Minh
Thanh, Bình Yên.
Với tiềm năng du lịch nhƣ vậy Sơn Dƣơng có thể xây dựng các tuyến
du lịch với sự liên kết với các huyện trong tỉnh và các tỉnh khác thành các
tuyến du lịch sinh động và hấp dẫn khách du lịch thập phƣơng. Năm 2010,
huyện đã thu hút trên 400.000 lƣợt khách du lịch. Nghành công nghiệp
không khói này đang hứa hẹn mở ra một tiềm năng cho sự phát triển kinh
tế của huyện.
* Đặc điểm xã hội
Sơn Dƣơng là một vùng đất có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sinh
174118
176726
178763
1.25
- Nam
84133
85274
86710
88009
89058
1.42
- Nữ
85956
86856
87408
88717
89705
1.08
- Thành thị
12875
13147
13432
13466
13817
1.66
- Nông thôn
157214
158983
160686
163260
Dƣơng là nơi nuôi chí bền gan của cả dân tộc trở thành trung tâm Căn cứ địa cách
mạng của cả nƣớc, Thủ đô khu giải phóng nơi bắt nguồn khởi đầu cho Cách mạng
tháng Tám năm 1945 giành chính quyền về tay nhân dân khai sinh ra nƣớc Việt
Nam Dân chủ cộng hòa (2/9/1945); An toàn khu trong những năm kháng chiến
chống Pháp đầy gian khổ mà hào hùng. Các di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng
Cây đa Tân Trào, Lán Nà Lừa, Đình Tân Trào, Đình Hồng Thái, Đình Thanh La,
Hang Bòng, Bến Bình Ca …là những minh chứng hùng hồn cho một thời kỳ đấu
tranh cách mạng quyết liệt và sôi nổi của nhân dân các dân tộc huyện Sơn Dƣơng. 15
Sơn Dƣơng có 3 tôn giáo chính là Công giáo, Phật giáo, Tin Lành.
Hiện nay, trên địa bàn huyện có 5/33 xã có đồng bào theo đạo (đạo Thiên
Chúa Giáo, đạo Tin Lành) một số xã theo đạo Phật, còn lại đa phần là
theo tín ngƣỡng dân gian, tự thờ cúng tổ tiên tại nhà. Tính đến 2012, trên
địa bàn huyện có 19 chùa với 2.213 tín đồ. Nhìn chung, các tín đồ ở
huyện đều sống với mục đích tốt đời đẹp đạo. Trong những năm qua cấp
ủy, chính quyền đã có những chủ trƣơng, biện pháp chỉ đạo thực hiện
chính sách tôn giáo trên địa bàn huyện đảm bảo đúng qui định, các tổ
chức chính trị xã hội đã làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ
trƣơng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc về công tác tôn giáo
đến nhân dân. Huyện đã quan tâm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở
vùng đồng bào có đạo, hệ thống chính trị vùng đồng bào có đạo đƣợc
củng cố, kiện toàn.
Nhân dân các dân tộc huyện Sơn Dƣơng có một đời sống văn hóa
tinh thần khá phong phú, đa dạng mang những nét đặc trƣng của văn hóa
vùng miền. Hàng năm, huyện duy trì tổ chức lễ hội Tân Trào kỉ niệm
thành công của Cách mạng tháng Tám nhằm ôn lại những năm tháng lịch
sử hào hùng ngay trên mảnh đất quê hƣơng căn cứ địa với những điệu
múa, lời ca và hoạt động thể dục thể thao mang đậm nét dân tộc, có ý
nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tuyên lần thứ I ( 25/4 đến 2/5/ 1977) vào
hoàn cảnh cụ thể của địa phƣơng, Đảng bộ huyện Sơn Dƣơng xác định: Sơn
Dƣơng là một huyện miền núi trung du có đầy đủ các điều kiện để phát triển
kinh tế nông, lâm và tiểu thủ công nghiệp. Trên cơ sở phân tích những đặc
điểm thuận lợi và khó khăn của huyện. Báo cáo của Huyện ủy Sơn Dƣơng tại 17
Đại hội Đảng bộ Huyện lần thứ X (tháng 2/1977) đã đề ra những phƣơng
hƣớng lâu dài là: Phải giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, thực phẩm;
phát triển vượt bậc tất cả các ngành kinh tế theo hướng tổ chức lại sản xuất,
đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; nâng cao mức tăng trưởng của sản xuất
nông, lâm nghiệp bằng cách tích cực thâm canh tăng vụ, mở rộng diện tích,
đẩy mạnh chăn nuôi, cây công nghiệp và nghề rừng, ngành thủ công nghiệp
chú ý chế biến nông, lâm sản và sản xuất các mặt hàng địa phương có sẵn
nguyên, vật liệu, lao động chuyên môn [10,tr.22].
Về nông nghiệp
Qua hai năm vừa cải tạo vừa xây dựng, tình hình kinh tế - xã hội huyện
tuy đã đạt đƣợc nhiều thành tích đáng kể song nhìn chung vẫn dựa trên nền
sản xuất tiểu nông mang đậm nét lao động thủ công [1,tr.40]; Do tác động của
chiến tranh nên nền kinh tế tăng trƣởng chậm, nhiều mặt sản xuất còn trì trệ
phân tán, chế độ quản lý hạch toán bị buông lỏng thiếu đồng bộ… Khắc phục
tình trạng trên, huyện đã áp dụng nhiều biện pháp cải tạo toàn diện nền kinh
tế, đặc biệt là sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, trong đó quan trọng nhất là thực
hiện thắng lợi cuộc vận động tổ chức lại sản xuất và chủ trƣơng phân cấp
quản lý, tăng cƣờng xây dựng cấp huyện do TW đề ra.
Trong kinh tế hợp tác xã, việc hợp nhất các hợp tác xã nông nghiệp
để mở rộng qui mô và tăng cƣờng lao động trong các hợp tác xã đƣợc
thực hiện nhanh chóng tính từ 1975 đến 1980 từ 141 hợp tác xã đã hợp
nhất đƣợc 54 hợp tác xã, trong đó có 29 hợp tác xã toàn xã. Riêng năm
19,1%, đàn lợn tăng 25,3%. Do có nhiều thành tích thâm canh lúa, hai hợp tác