Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRẦN MINH THU
CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI
HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN
TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI
(1986 - 2005) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Hoàng Ngọc La
Thái Nguyên - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.3 Nhiệm vụ đề tài
4. Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
CHUYỂN BIẾN VỀ XÃ HỘI HUYỆN PHÚ LƢƠNG
TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI ( 1986 - 2005 )
3.1 Giáo dục - đào tạo, văn hoá - thông tin - thể thao
3.2 Y tế - môi trường
3.3 Lao động - việc làm
3.4 Thu nhập - đời sống
3.5 Thực hiện các chính sách xã hội
3.6 Công tác an ninh - quốc phòng
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kinh tế được coi là thước đo trình độ phát triển của mọi quốc gia trên
huyện Phú Lương trong giai đoạn đổi mới (1986 - 2005) không chỉ có ý
nghĩa về mặt khoa học mà cả về thực tiễn.
Thông qua các nguồn tài liệu, luận văn dựng lên bức tranh về kinh tế -
xã hội huyện Phú Lương từ 1986 đến 2005, trên cơ sở đó rút ra những bài học
thành công cùng những hạn chế chủ quan và khách quan. Đồng thời, mong
muốn góp ý kiến nhỏ bé vào việc gợi mở một số giải pháp và phương hướng
phát triển của huyện trong tương lai.
Nghiên cứu đề tài này còn để làm rõ hơn truyền thống lịch sử, văn hoá
của nhân dân Phú Lương trong quá khứ và hiện tại. Từ đó, giáo dục thế hệ trẻ
của huyện thêm trân trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống quý báu đó. Một
số nội dung của luận văn có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo trong giảng
dạy lịch sử địa phương.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn vấn đề “Chuyển biến kinh tế
- xã hội huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trong thời kì đổi mới (1986 -
2005)” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của cá nhân, tập thể, các tổ chức
viết về đề tài kinh tế - xã hội.
Liên quan đến đề tài là các văn kiện nghị quyết của Đảng, nhất là văn
kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX. Trong văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX có nêu lên hai nội dung rất quan trọng, mang tính
chất định hướng cho sự phát triển là “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001 - 2010” và “Phương hướng nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội 5 năm 2001 - 2005”; đặc biệt là “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
xã hội đến năm 2000” của Ban chấp hành trung ương Đảng do Nhà xuất bản
Sự thật - Hà Nội xuất bản năm 1991.
thực hiện công cuộc đổi mới ở huyện Phú Lương.
Năm 2001, Uỷ ban nhân dân huyện Phú Lương đã xây dựng và đề nghị
tỉnh phê duyệt đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện
Phú Lương thời kì 2001 - 2010”.
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Phú Lương khoá
14, 15, 16, 17, 18, 20,21 đã đề cập đến các vấn đề kinh tế, văn hoá, xã hội, an
ninh - quốc phòng, công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc,
các đoàn thể nhân dân. Các báo cáo đó đã nêu lên những thành tựu, hạn chế,
chỉ ra được nguyên nhân, bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện nghị quyết
Đại hội đại biểu khoá trước, đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và
những giải pháp cho nhiệm kỳ tiếp theo nhằm đưa huyện phát triển toàn diện,
vững chắc.
Báo cáo tổng kết hàng năm của Uỷ ban nhân dân huyện Phú Lương nêu
lên kết quả đạt được về công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp, lâm
nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, văn hoá, giáo dục, y
tế, môi trường. Trên cơ sở đó, có những đánh giá chung tình hình thực hiện
nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm trước, đề ra nhiệm vụ mục tiêu trong năm tới.
Hệ thống niên giám thống kê của cục thống kê tỉnh Bắc Thái, tỉnh Thái
Nguyên và phòng thống kê huyện Phú Lương cũng phản ánh tình hình kinh tế
- xã hội hàng năm của huyện.
Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu sự
chuyển biến kinh tế - xã hội của huyện Phú Lương từ 1986 đến năm 2005. Vì
vậy, việc đi sâu tìm hiểu về sự chuyển biến kinh tế - xã hội của huyện Phú
Lương từ 1986 đến năm 2005 là một vấn đề mới mẻ và cần thiết.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
tế - xã hội đăng trên báo và tạp chí, đặc biệt là các cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh
Thái Nguyên và Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Lương.
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các tài liệu điều tra thực địa.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu phương lịch sử và
phương pháp lôgic. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác
như: thống kê, so sánh, điều tra, điền dã, phân tích.
5. Đóng góp của luận văn
- Luận văn trình bày hệ thống, sinh động quá trình phát triển, chuyển
biến kinh tế - xã hội của huyện Phú Lương trong giai đoạn đổi mới (1986 -
2005).
- Luận văn đánh giá những thành công của công cuộc đổi mới của
huyện Phú Lương, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế và nêu lên một số
giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện
Phú Lương.
Với những đóng góp đó, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho
Đảng bộ huyện Phú Lương trong việc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của
huyện. Đồng thời, có thể làm tư liệu giảng dạy lịch sử địa phương.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn chia làm 3 chương:
- Chương 1: Tình hình kinh tế - xã hội huyện Phú lương trước đổi mới.
- Chương 2: Chuyển biến về kinh tế huyện Phú Lương trong thời kì đổi
mới (1986 - 2005).
- Chương 3: Chuyển biến về xã hội huyện Phú Lương trong thời kì đổi
mới (1986 - 2005). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
“Dưới thời Hùng Vương huyện Phú Lương thuộc bộ Vũ Định, đến
thời Lý huyện Phú Lương thuộc phủ Phú Lương, thời thuộc Minh là huyện,
thuộc phủ Thái Nguyên. Thời Lê cũng gọi là huyện Phú Lương, thuộc phủ
Phú Bình do phiên thần họ Ma nối đời cai trị. Năm Minh Mạng thứ 16 (1836)
triều Nguyễn cắt Phú Lương về phủ Tòng Hóa, gồm 6 tổng, 20 xã trang,
phường. Đến năm Tự Đức thứ 4 (1851), triều Nguyễn bổ chức tri huyện Phú
Lương. Từ đó vùng đất này thuộc quyền cai quản của tri huyện Đại Từ”
[81,tr.160].
Trong thời kỳ Pháp thuộc, Phú Lương trở thành một châu của tỉnh
Thái Nguyên gồm 7 tổng, 20 xã. Theo các nghị định của Toàn quyền Đông
Dương (20/8/1891, 24/8/1891, 9/9/1891) tỉnh Thái Nguyên bị cắt và chia
thành hai phần: phủ Tòng Hóa gồm 3 huyện Đại Từ, Phú Lương, Văn Lãng
và châu Định Hóa; phủ Phú Bình nhập với một số địa hạt khác thuộc tỉnh Lục
Nam và tỉnh Bắc Ninh, lập thành khu quân sự Thái Nguyên, thuộc đạo quân
sự thứ nhất [5,tr.6].
Theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương, tháng 10/1892 tỉnh
Thái Nguyên được tách khỏi các đạo quân sự và kể từ ngày 01/11/1892 lại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
được lập thành 3 phủ, 8 huyện, 2 châu. Phú Lương là một trong 3 huyện thuộc
phủ Tòng Hóa.
Ngày 25/6/1901, theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương, tổng
Yên Đĩnh được tách khỏi huyện Phú Lương (tỉnh Thái Nguyên) để nhập vào
châu Bạch Thông (tỉnh Bắc Cạn).
Sau Cách mạng tháng Tám, một số xã nhỏ được sáp nhập lại, Phú
Lương chỉ còn 12 xã. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và sau khi hòa
bình lập lại năm 1954, một số xã lớn lại được chia ra, xã Tân Phú được chia
thành xã Tức Tranh và Phú Đô; xã Tam Hợp được chia thành 3 xã: Hợp
tỉnh Bắc Cạn, Cao Bằng, và biên giới Việt - Trung, theo hướng nam về Hà
Nội. Ngoài trục đường chính này, Phú Lương còn có mạng lưới đường liên
xã, liên bản, liên huyện đã và đang được củng cố và mở rộng tạo điều kiện
cho Phú Lương mở rộng quan hệ giao lưu với các huyện trong tỉnh và ngoài
tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội.
Về khí hậu: Phú Lương mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa
nóng, lạnh rõ rệt. Mùa lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) nhiệt độ xuống
thấp, thường xuyên có các các đợt gió mùa đông bắc hanh, khô. Mùa nóng (từ
tháng 4 đến tháng 10 hàng năm) nhiệt độ cao, nhiều khi có mưa lớn và tập
trung. Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 22C, tổng tích nhiệt khoảng
8000C. Lượng mưa trung bình từ 1800 - 2000 mm/ năm, độ ẩm trung bình
80%. Đặc biệt gió mùa đông bắc trung bình mỗi năm có khoảng từ 21 - 22 đợt
tràn qua làm cho nhiệt độ giảm xuống đột ngột, có giông đi kèm, nhất là vào
đầu tháng chín, tháng mười, cuối tháng tư, tháng năm. Điều này đã làm ảnh
hưởng đến sức khỏe con người, cây trồng và vật nuôi.Ngoài ra, Phú Lương
còn chịu ảnh hưởng của thời tiết nồm vào mùa xuân, nóng khô vào mùa hè.
Với khí hậu trên, xưa kia “các châu huyện Vân Lãng, Đại Từ và Phú Lương
có cấy lúa bốn mùa, cứ ba tháng một lần thu hoạch, đấy là một điều hơi khác.
Các huyện Tư Nông, Đồng Hỷ, Phú Lương và Bình Xuyên, khí lam chướng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
hơi nhẹ còn các huyện khác thì nặng mà huyện Đại Từ và Võ Nhai nặng hơn
cả” [81,tr.162 -163]
Phú Lương là một vùng đất giàu tài nguyên thiên nhiên và khoáng
sản, được thiên nhiên ưu đãi. Theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử
quán triều Nguyễn, ở Phú Lương :“ Cỏ tranh, lá cọ, các loại mây, hậu phác sa
nhân, tre nứa, tre gai, tre hoa (tức ban trúc có vân tròn, hình trôn ốc, rất cứng
rắn, người ta dùng làm đòn càng), gỗ lim, gỗ sến, gỗ đinh, gỗ táu, gỗ xoan.
Nông
nghiệp
Lâm
nghiệp
Chƣa sử
dụng và
sông suối
núi đá
Đất ở
(nông
thôn và
thành
thị)
Diện tích
(ha)
36.881,55 11.978,74 16.498,32 3.136,65 5.267,84
Tỉ lệ % 100 32,5 44,7 8,5 14,3
[80]
Phú Lương có sông, suối, con sông lớn nhất là sông Đu, dài khoảng
45km. Sông Đu được tạo bởi hai nhánh chính, một nhánh bắt nguồn từ đông
bắc xã Hợp Thành, một nhánh bắt nguồn từ phía bắc xã Động Đạt. Hai nhánh
này hợp lưu ở phía trên thị trấn Đu, chảy dọc theo địa bàn huyện, qua thị trấn
Giang Tiên và đổ vào sông Cầu tại xã Sơn Cẩm. Sông Đu có vai trò quan
trọng đối với đời sống sinh hoạt và sản xuất của cư dân Phú Lương. Hàng
năm, con sông này cung cấp cho đồng bào Phú Lương nhiều cá, tôm, từ xa
xưa nhân dân đã lưu truyền câu thành ngữ “Cơm làng Giá, cá làng Đu”. Hơn
nữa, nguồn nước của sông Đu có vai trò tưới tiêu cho những cánh đồng nhiều
các xã, Đu là trung tâm thương mại, dịch vụ lớn nhất của huyện.
Đặc điểm xã hội:
Theo số liệu thống kê của huyện Phú Lương đến tháng 8 năm 2004,
Phú Lương có 104.518 người, mật độ 286 người/km [79,tr.2]. Sinh sống trên
địa bàn huyện là 8 thành phần dân tộc chính, trong đó dân tộc Kinh chiếm hơn
một nửa, tiếp đến là các dân tộc Tày, Nùng, Sán Chí, Sán Dìu, Dao, H Mông
và người Hoa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
Bảng 1.2: Thống kê các dân tộc ở huyện Phú Lƣơng - Thái Nguyên Dân tộc Số ngƣời Tỷ lệ % so với
tổng số dân
Ghi
chú
1
Kinh 61.200 58,5
2
Tày 20.100 19,2
3
Sán Chí 10.700 10,2
4
Nùng 4.720 4,5
18
Lương đã có sự giao lưu văn hóa với các dân tộc khác, điều này làm cho Phú
Lương có nền văn hóa đa dạng, phong phú.
Dân tộc Tày: Chiếm tỷ lệ 19,2% dân số trong huyện, sống chủ yếu ở
các xã giáp ranh với huyện Định Hóa và Đại Từ như: Yên Ninh, Yên Trạch,
Yên Đổ, Ôn Lương, Hợp Thành. Họ cư trú ven thung lũng, triền đồi núi thấp
nơi có cánh đồng nhỏ phì nhiêu, thuận lợi nguồn nước, người Tày có nền kinh
tế nông nghiệp khá phát triển, bên cạnh trồng trọt và chăn nuôi người Tày còn
có một số nghề thủ công truyền thống như đan lát, dệt vải…Người Tày có đời
sống tinh thần đặc sắc, trong đó tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, sùng bái tự nhiên
được duy trì khá bền vững. Ngoài ra, họ còn có vốn văn nghệ dân gian, trò
chơi dân gian truyền thống phong phú và đặc sắc.
Dân tộc Sán Chí: Chiếm 10,2% dân số huyện Phú Lương. Họ sống chủ
yếu bằng nghề nông và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Đời sống văn hóa tinh
thần của họ cũng rất phong phú như: thơ ca, hò vè, múa…
Dân tộc Nùng: Chiếm 4,5%, họ cùng hệ ngôn ngữ với người Tày; do
đó, đời sống văn hóa và vật chất của người Nùng có nhiều nét tương đồng với
người Tày.
Dân tộc Sán Dìu: chiếm 4,4% dân số của huyện, họ sống chủ yếu ở các
xã Cổ Lũng và Sơn Cẩm. Người Sán Dìu sống chủ yếu bằng nghề nông và
chăn nuôi, khai thác lâm thổ sản, làm gạch ngói, đan lát. Người Sán Dìu chịu
tác động mạnh mẽ văn hóa của người Kinh, điều này thể hiện khá rõ trong tín
ngưỡng thờ thần Thành Hoàng cùng các lễ hội dân gian diễn ra ở đình làng
trong mỗi dịp lễ tết.
Dân tộc Dao: Chiếm tỷ lệ nhỏ trong dân số huyện 2,4%, họ sống ở các
xã vùng cao như: Phú Đô, Yên Lạc. Văn hóa của người Dao có nhiều nét độc
đáo như tục cấp sắc, thờ cúng Bàn Vương.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ
trường kì của dân tộc ta, giải phóng miền Nam, thống nhất đẩt nước. Cách
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
20
mạng nước ta bước sang giai đoạn mới - giai đoạn đất nước độc lập, thống
nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Phấn khởi và tự hào trước những thắng lợi của dân tộc, thực hiện các
chỉ thị nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh, Đảng bộ và nhân dân các dân
tộc huyện Phú Lương đã hăng hái bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát
triển kinh tế, góp phần cùng nhân dân tỉnh Thái Nguyên thu được nhiều thành
tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1.2.1 Tình hình kinh tế
Thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1977),
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Thái vòng 2 (19 - 24/4/1977) đã quyết
định : Tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm để làm tròn nhiệm vụ hậu
cần tại chỗ cho công nghiệp phát triển và cải tạo đời sống nhân dân.
Xuất phát từ đường lối chung, đuờng lối kinh tế của Đảng, Nghị quyết
23, 24 (1977) của Trung ương, Nghị quyết 40,45,46 (1977) của Tỉnh ủy Bắc
Thái đề ra, Ban chấp hành Đảng bộ huyện Phú Lương đã xác định 4 thế mạnh
để phát triển kinh tế của Phú Lương là: lương thực, trồng rừng, cây công
nghiệp, chăn nuôi.
Trên cơ sở phân tích mặt mạnh, mặt yếu của huyện, Đại hội đại biểu
huyện Phú Lương lần thứ XIV đã khẳng định: “Ra sức phát triển sản xuất
nông - lâm nghiệp, công nghiệp và thủ công nghiệp một cách toàn diện, ổn
định và đảm bảo đời sống nhân dân. Tích cực thâm canh cây trồng và chăn
nuôi, phát triển ngành giao thông, thủy lợi. Củng cố, hoàn thiện quan hệ sản
xuất, ra sức cải tiến quản lí kinh tế, quản lí xã hội, lưu thông phân phối, tăng
cường xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, bảo vệ an ninh, sẵn sàng chiến đấu
ngựa cũng được quan tâm, phát triển. Năm 1980 có 423 con, đến 1982 tăng
lên 567 con [6,tr.207].
Đảng bộ huyện Phú Lương rất coi trọng phát triển hệ thống thủy lợi. Số
vốn đầu tư cho thủy lợi là 2.800.000 đồng, hoàn thành xây dựng 10 công trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
22
thủy nông, trong đó có hai công trình loại vừa, đảm bảo tưới tiêu cho 2.000 ha
lúa trong cả hai vụ.
Trong thời gian từ 1970 - 1982, với sự cố gắng và quyết tâm cao, Đảng
bộ và nhân dân trong huyện đã từng bước khắc phục khó khăn, đạt được
nhiều thắng lợi mà Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIV đề ra. Đời sống của
nhân dân bước đầu được cải thiện, các yêu cầu về ăn, ở, mặc, học hành…
từng bước được đáp ứng, tình hình sản xuất ổn định. Tuy nhiên, bên cạnh đó
còn một số chỉ tiêu huyện chưa thực hiện được như diện tích ao hồ của huyện
là 250 ha nhưng mới tổ chức chăn thả được 200 ha, các cơ sở ươm cá giống
hàng năm mới sản xuất được hơn 2.000.000 con chưa đảm bảo nhu cầu cung
cấp cho địa phương.
Đó còn là sự mất cân đối giữa sản xuất và đời sống, giữa trồng trọt và
chăn nuôi, sự phân công lao động ngành, nghề chưa hợp lý. Việc vận dụng
Chỉ thị số 100 về khoán sản phẩm chưa đồng bộ, thậm chí ở nhiều xã và hợp
tác xã thực hiện không đúng hoặc không thực hiện. Việc vận dụng đường lối,
chính sách của Đảng vào cuộc sống còn máy móc, thiếu linh hoạt, sáng tạo,
còn nặng nhiều về hình thức.
Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Phú Lương lần thứ XV đã nghiêm
khắc nhận ra những sai sót, khuyết điểm và đề ra phương hướng nhiệm vụ ba
năm 1983-1985 là “Ra sức phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủ công
nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch. Đảm bảo sản xuất lương thực, thực phẩm
đủ cân đối trên địa bàn huyện, đồng thời đóng góp cho Tỉnh và Trung ương”
còn yếu, chủ trương giao đất giao rừng cho hợp tác xã chưa được thực hiện.
Bước sang năm 1985, công tác trồng và bảo vệ rừng đã có nhiều tiến bộ
đáng kể. Trồng rừng tập trung đạt 5,8% tăng 2%, trồng cây phân tán vượt
39,1%, khai thác gỗ vượt 11% [37,tr.3], tệ đốt rừng làm nương rẫy và nạn
cháy rừng đã giảm nhiều so với trước. Đảng bộ huyện đã ra nghị quyết thực