sự chuyển biến kinh tế - xã hội huyện tam nông - phú thọ giai đoạn 1986 - 2000 - Pdf 23

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS. Bùi Mạnh Thắng -
người đã tận tình chỉ bảo em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong Khoa Sử - Địa Trường
Đại học Tây Bắc, đã hết sức giúp đỡ, góp ý kiến, chỉ bảo tận tình cho em.
Xin cảm ơn các sở, phòng ban thuộc UBND tỉnh Phú Thọ, UBND huyện
Tam Nông, Thư viện Quốc gia, Thư viện tỉnh Phú Thọ - nơi cung cấp cho tôi các
tài liệu cần thiết để thực hiện cho khóa luận.
Xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè, các bạn sinh viên cùng lớp
đã tạo điều kiện và hết sức giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng chắc chắn khóa luận không thể tránh
khỏi những thiếu sót, mong được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của toàn thể
thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Trần Thị Thu Hương Danh mục các thuật ngữ viết tắt

STT
Nội dung được viết tắt
Quy ước kí hiệu
1
Công nghiệp hoá - hiện đại hóa
CNH - HĐH
2

3. Đối tƣợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của khóa luận 4
4. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tƣ liệu 5
5. Bố cục của khóa luận 5
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH KT - XH HUYỆN
TAM NÔNG - PHÚ THỌ TRƢỚC ĐỔI MỚI 6
1.1. Vị trí điạ lí, địa hình 6
1.1.1. Vị trí địa lí 6
1.1.2. Điều kiện địa hình 7
1.1.3. Điều kiện khí hậu, thủy văn, sông ngòi 8
1.1.4. Đất đai 10
1.2. Đặc điểm dân cƣ, lao động 10
1.2.1. Về dân cư 10
1.2.2. Lao động - việc làm 11
1.3. Tình hình kinh tế - xã hội huyện Tam Nông trƣớc năm 1986 11
1.3.1. Tình hình kinh tế 12
1.3.2. Tình hình xã hội 14
CHƢƠNG 2. CHUYỂN BIẾN TRONG KINH TẾ HUYỆN TAM NÔNG -
PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 1986 - 2000 19
2.1. Chuyển biến trong cơ cấu kinh tế 19
2.2. Chuyển biến trong nông nghiệp - lâm nghiệp 21
2.2.1. Nông nghiệp 21
2.2.2. Lâm nghiệp 26
2.3. Chuyển biến trong công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 27
2.4. Chuyển biến trong thƣơng mại và dịch vụ 29
2.5. Chuyển biến trong xây dựng cơ sở hạ tầng 32
CHƢƠNG 3. CHUYỂN BIẾN XÃ HỘI HUYỆN TAM NÔNG - PHÚ THỌ
GIAI ĐOẠN 1986 - 2000 35
3.1. Chuyển biến về dân số - lao động - việc làm 35
3.2. Chuyển biến trong công tác xóa đói - giảm nghèo 37
3.3. Chuyển biến trong văn hóa, giáo dục, y tế 39

Tam Nông là một huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, có nhiều lợi thế để
phát triển 1 nền kinh tế đa dạng, cách Thành phố Việt Trì 25 km với hệ thống
đường giao thông thuận lợi, Tam Nông có tiềm năng là một thị trường lớn cung
cấp và tiêu thụ.
Trải qua gần 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Tam Nông đã
có nhiều chuyển biến về kinh tế - xã hội. Điều đó đã khẳng định đường lối đúng
đắn của Đảng, cũng như sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện cụ thể của
địa phương, Đảng bộ và nhân dân huyện Tam Nông đã tìm tòi đổi mới phương
thức lãnh đạo, tổ chức thực hiện và đã đạt được những thành tựu nhất định về
kinh tế - xã hội. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu vẫn tồn tại nhiều khó khăn
và hạn chế.
2
Vì vậy việc nghiên cứu tìm hiểu sự chuyển biến về kinh tế - xã hội huyện
Tam Nông trong giai đoạn đổi mới (1986 - 2000), không chỉ có ý nghĩa về nặt
khoa học mà cả về thực tiễn.
Thông qua các nguồn tài liệu, khóa luận dựng lên bức tranh về kinh tế - xã
hội huyện Tam Nông từ 1986 đến 2000, trên cơ sở đó rút ra những bài học thành
công cùng những hạn chế chủ quan và khách quan. Đồng thời mong muốn góp ý
kiến nhỏ bé vào việc gợi mở một số giải pháp, phương hướng phát tiển của
huyện trong tương lai.
Tôi là một người con được sinh ra và lớn lên tại huyện Tam Nông - Phú
Thọ đất tổ hào hùng, nguồn cội của dân tộc. Tôi muốn làm rõ hơn truyền thống
lịch sử, văn hóa của nhân dân Tam Nông trong quá khứ và hiện tại. Từ đó, giáo
dục thế hệ trẻ của huyện thêm trân trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống quý
báu đó.
Ngoài ra đề tài này sẽ là nguồn tài liệu để nghiên cứu lịch sử địa phương,
là cơ sở để nghiên cứu những chặng đường tiếp theo của huyện Tam Nông.
Xuất phát từ những lí do trên tôi đã lựa chọn đề tài: “Sự chuyển biến kinh
tế - xã hội huyện Tam Nông - Phú Thọ giai đoạn 1986 - 2000” làm khóa luận
tốt nghiệp chuyên ngành lịch sử Việt Nam.

thể nhân dân, bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện nghị quyết Đại hội Đại
biểu khóa trước đề ra phương hướng mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp cho
nhiệm kì tới nhằm đưa huyện phát triển toàn diện, vững chắc.
Báo cáo tổng kết hàng năm của UBND huyện Tam Nông nêu lên kết quả
đạt được về công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp, lâm nghiệp, thương
nghiệp, dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng, văn hóa, giáo dục, y tế. Trên cơ sở đó
có những đánh giá chung về tình hình thực hiện nhiệm vụ KT - XH năm trước,
đề ra nhiệm vụ mục tiêu trong năm mới.
Hệ thống niên giám thống kê của cục thống kê tỉnh Phú Thọ và phòng thống
kê huyện Tam Nông cũng phản ánh tình hình KT - XH trong năm của huyện.
Đó là những tài liệu nghiên cứu KT- XH thời kì đổi mới của huyện Tam
Nông. Tuy nhiên, những tài liệu này mới nghiên cứu ở mức độ khái quát chưa đi
sâu vào vấn đề cũng có tài liệu chỉ là những con số chưa có sự so sánh phân tích,
mà mới ở một khía cạnh nhất định nào đó chưa có tài liệu nghiên cứu cụ thể và
trình bày đầy đủ, hệ thống để biết sự thay đổi, phát triển của huyện Tam Nông.
Chính vì vậy khóa luận này xin đi sâu hơn nghiên cứu tìm hiểu sự phát triển KT
- XH của huyện Tam Nông thời kì 1986 - 2000.
4
3. Đối tƣợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu và đóng góp của khóa luận
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài lấy sự phát triển KT- XH huyện Tam Nông - Phú Thọ làm đối
tượng nghiên cứu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thứ nhất: cần khái quát được tình hình chung của huyện Tam Nông;
điều kiện tự nhiên, vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên, tình hình KT - XH của
huyện trước thời kì đổi mới.
- Thứ hai: nghiên cứu hệ thống toàn diện những chuyển biến trong kinh tế -
xã hội huyện Tam Nông trong giai đoạn 1986 - 2000. Qua đó, rút ra mặt mạnh và
những hạn chế của huyện Tam Nông trong phát triển KT - XH từ 1986 - 2000.
3.3. Phạm vi nghiên cứu

- Cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ huyện Tam Nông”.
- Các báo cáo tổng kết của Đảng bộ huyện Tam Nông, đặc biệt là báo
cáo tình hình kinh tế của ủy ban nhân dân huyện Tam Nông từ 1986 - 2000.
- Nguồn bảng biểu thống kê của các ngành: Phòng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn, Phòng Văn hóa thông tin, Phòng Giáo dục đào tạo, Phòng
Thống kê huyện Tam Nông và các bài viết đề cập đến tình hình phát triển kinh
tế của Tỉnh Phú Thọ nói chung và huyện Tam Nông nói riêng.
Tất cả các tài liệu nghiên cứu trên đều là những nguồn tài liệu quý báu cho
việc nghiên cứu các vấn đề đặt ra trong khóa luận của tôi.
5. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và bảng biểu nội dung chính
của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: khái quát chung về tình hình kinh tế - xã hội huyện Tam Nông
- Phú Thọ trước đổi mới.
Chương 2: sự chuyển biến trong kinh tế huyện Tam Nông giai đoạn
1986 - 2000.
Chương 3: sự chuyển biến xã hội huyện Tam Nông - Phú Thọ giai đoạn
1986 - 2000. 6
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH KT - XH
HUYỆN TAM NÔNG - PHÚ THỌ TRƢỚC ĐỔI MỚI

1.1. Vị trí điạ lí, địa hình
1.1.1. Vị trí địa lí

đơn vị hành chính, trong đó có 19 xã và 1 thị trấn: Vực Trường, Hiền Quan,
Thanh Uyên, Tam Cường, Hương Nha, Xuân Quang, Văn Lương, Tứ Mỹ,
Phương Thịnh, Hùng Đô, Quang Húc, Tề Lễ, Cổ Tiết, Hương Nộn, Dị Nậu, Thọ
Văn, Dậu Dương, Thượng Nông, Hồng Đà và thị trấn Hưng Hóa.
7
Với vị trí như vậy, huyện Tam Nông có điều kiện rất thuận lợi để phát
triển kinh tế trang trại, sản xuất hàng hóa cung cấp cho thị trường. Đặc biệt việc
mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội, tiếp thu khoa học kĩ thuật vào sản xuất thâm
canh, mở rộng buôn bán, hợp tác, đầu tư hết sức thuận lợi. Từ đó nâng cao chất
lượng đời sống nhân dân, thay đổi bộ mặt nông thôn.
1.1.2. Điều kiện địa hình
Địa hình huyện Tam Nông tương đối đa dạng, thể hiện những nét đặc
trưng của vùng bán sơn địa. Đất đai có núi, đồi, ruộng đồng, ngòi, hồ, đầm. Dạng
địa hình chính của huyện Tam Nông theo hướng nghiêng dần từ Tây Bắc xuống
Đông Nam. Nhìn chung địa hình , địa mạo của huyện chia làm 2 dạng chính:
Địa hình đồng bằng phù sa: Đây là dải đất tương đối bằng phẳng được bồi
đắp bởi sông Hồng, sông Đà và sông Bứa tạo ra những cánh đồng có chiều
ngang hẹp, tạo thành một vệt dài theo bờ sông từ xã Hồng Đà đến các xã
Thượng Nông, Hương Nộn, Cổ Tiết, Tam Cường, Thanh Uyên, Hiền Quan, Vực
Trường, Hương Nha, Tứ Mỹ và dọc theo sông Bứa gồm các xã Hùng Đô, Quang
Húc, Tề Lễ. Độ dốc thường dưới 3
0
, còn một phần là dải đất phù sa cổ có địa
hình lượn sóng, ruộng dộc có độ dốc từ 3 - 5
0
. Các cánh đồng trên hầu hết là do
phù sa sông Hồng, sông Bứa được bồi tụ nhiều năm trước khi có đê chắn, tạo
thành lớp đất tương đối màu mỡ, thuận lợi cho cây lúa, hoa màu và cây lương
thực phát triển.
Địa hình đồi núi được chia thành 2 khu vực: đồi thấp và đồi núi cao.

trạng khô hạn, úng lụt cục bộ thường xảy ra gây thiệt hại về cả kinh tế và xã hội.
Đây là điểm khó khăn cho phát triển kinh tế trang trại của huyện.
Về chế độ gió: Có 2 loại gió chính là gió mùa Đông Nam từ tháng 5 đến
tháng 10, gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Ngoài ra tháng 6
đến tháng 8 xen kẽ với gió mùa Đông Nam thường xảy ra gió mùa Tây và Tây
Nam, khô và nóng xen kẽ trong các mùa.
- Thủy văn sông ngòi
Chế độ thủy văn của huyện Tam Nông tương đối phong phú, nhờ có 3 con
sông, hàng chục con ngòi và một số đầm hồ lớn.
Sông Hồng chảy qua địa bàn huyện bắt nguồn từ xã Tứ Mỹ (giáp huyện
Cẩm Khê), rồi nhập vào sông Đà ở xã Hồng Đà theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam, tạo thành một vòng cung, dài trên 32 km. Mực nước và tốc độ dòng chảy
thay đổi theo 2 mùa rõ rệt. Chiều sâu của con sông mùa cạn từ 2 đến 3m, mùa lũ
từ 10 đến 15m, do đó thuyền bè có thể đi lại trên sông quanh năm. Địa hình 2
bên bờ sông hạ thấp dần và thường bị nước lũ tràn ngập, tốc độ dòng chảy lúc
cao điểm tới 9800m
3
/giây gây thiệt hại nhiều về người và của nên từ xa xưa
nhân dân đã đắp đê phòng lụt. Sông Hồng là con sông có độ phù sa vào loại lớn
nhất Bắc Bộ, có tới 7600kg/ 1m
3
nước. Hàng năm sau mùa mưa lũ, nước rút đi
9
để lại trên đồng ruộng một lớp phù sa màu mỡ dày từ 10 đến 15cm, rất thích hợp
cho việc trồng cây lương thực và hoa màu. Song do sức tàn phá của mưa lũ rất
lớn nhân dân phải tôn cao mặt đê ngăn chặn lụt lội, vì vậy lượng phù sa bồi đắp
hàng năm cho đồng ruộng Tam Nông bị hạn chế rất nhiều.
Sông Đà phát nguyên từ Trung Quốc ở độ cao 5000m chảy theo hướng
Đông Bắc Tây Nam, đến Hòa Bình gặp núi Ba Vì bị chặn lại, dòng sông chảy
lên phía Bắc và chảy dọc qua huyện Thanh Sơn, Thanh Thủy sau đó đổ vào sông

ngọt, phát triển sản xuất nông - công nghiệp. Ngoài ra nó còn thuận lợi cho việc
trao đổi, giao lưu văn hóa - xã hội trên địa bàn huyện và giữa huyện Tam Nông
với các huyện khác. Bên cạnh đó, do tốc độ dòng chảy luôn thay đổi nhất là vào
10
mùa mưa, việc khai thác chưa có quy hoạch làm đất bị bạc màu ngày càng
nhiều, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn.
Với nguồn nước dồi dào, nếu hạn chế được những khó khăn trên thì
huyện Tam Nông có rất nhiều khả năng để phát triển kinh tế nông nghiệp, đặc
biệt là kinh tế trang trại nuôi trồng thủy sản.
1.1.4. Đất đai
Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt cho phát triển kinh tế - xã hội, và với
sự phát triển kinh tế nông nghiệp thì nó không thể thiếu. Năm 1977, khi huyện
Tam Thanh được hợp nhất có diện tích đất tự nhiên là 276.000 ha, trong đó đất
Nông nghiệp là 125.570 hachieems 20,7%, diện tích đầm hồ là 7.450 ha, diện
tích song ngòi 3.208 ha và một số diện tích đất khác.
Và theo số liệu “Quy hoạch phát triển kinh tế huyện Tam Nông đến năm
2020” thì tổng diện tích tự nhiên của huyện sau khi tái lập là 15596,92 ha.
Do đặc điểm vị trí là nơi tiếp giáp giữa miền núi và đồng bằng nên đất đai
của huyện Tam nông tương đối phong phú và đa dạng bao gồm một số loại đất
chính như: đất phù sa không được bù đắp hàng năm, đất phù sa được bù đắp
hàng năm của sông Hồng, sông Đà và sông Bứa, đất thung lũng dốc tụ, đất đồi
núi bậc thang, đất lầy lụt, đất xám vàng phát triển trên nền phù sa cổ, đất vàng
đỏ phát triển trên nền đá sa thạch và phiến thạch, đất đỏ vàng phát triển trên nền
đá phiến Mica và Gnai.
Đất đai vùng gò đồi của Tam Nông vừa là đất gạch cua, vừa là đất cát tro,
phủ trên mặt một lớp từ 20 - 30 cm, xuống dưới là đất gạch cua pha sỏi có chỗ
đá ong, kém màu mỡ thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày như:
Chè, sơn
Với điều kiện đất đai như vậy, đòi hỏi phải lựa chọn từng loại cây trồng,
vật nuôi phù hợp với chất đất. Do vậy việc nghiên cứu điều tra, tìm hiểu từng

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, Đảng bộ và nhân dân huyện Tam
Nông bước vào giai đoạn cách mạng mới: Xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa trong điều kiện thuận lợi chung là đất nước thống nhất,
nhân dân phấn khởi tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng. Dù vậy nhân
dân cả nước nói chung và nhân dân huyện Tam Nông nói riêng gặp phải không
ít khó khăn như: hàn gắn vết thương chiến tranh, khắc phục và từng bước ổn
định cuộc sống của nhân dân và phát triển kinh tế đất nước. Cũng như các huyện
khác trong tỉnh, Tam Nông cũng gặp phải không ít khó khăn như: sự mất cân đối
lớn trong cơ cấu kinh tế , thị trường tiền tệ không ổn định, cơ sở sản xuất nghèo
12
nàn lạc hậu, trình độ thâm canh , quản lý còn yếu kém. Bên cạnh đó xã hội còn
nhiều bất ổn tệ nạn xã hội nhiều, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn đói
kém, trình độ văn hóa, giáo dục kém phát triển
Để giải quyết những khó khăn trên, tháng 6 năm 1975, Ban Chấp hành
Đảng bộ đã họp và ra Nghị quyết 03 về những nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 1975.
Qua thực hiện 2 kế hoạch Nhà Nước 5 năm (1976 - 1980) và (1981 -
1985), Đảng bộ và nhân dân huyện Tam Nông đã đạt được những thành tựu nhất
định trong lĩnh vực kinh tế - xã hội
1.3.1. Tình hình kinh tế
- Nông nhiệp
Năm 1976, với những cố gắng của Đảng bộ và nhân dân huyện Tam
Nông nên tổng diện tích gieo trồng cả năm vẫn đạt 7.614ha mặc dù chịu ảnh
hưởng xấu của thời tiết, bằng 98,7% kế hoạch, so với năm 1975 vượt 3%. Tổng
sản lượng lương thực quy ra thóc đạt 11.472 tấn, trong đó sản lượng thóc là
9.212 tấn. Tổng sản lượng lương thực quy thóc chỉ đạt 79,3%, lương thực bước
đầu được giải quyết, đời sống nhân dân dần ổn định. Do chưa huy động hết lực
lượng lao động nên diện tích đất hoang hóa vẫn còn nhiều, năng suất lúa thấp,
không ổn định, một số cấp ủy chưa nhận thức rõ vai trò, vị trí của sản xuất vụ
đông nên thiếu chặt chẽ trong sản xuất và thâm canh.
Sang giai đoạn (1981 - 1985) , trước tình hình nông nghiệp cả nước trong

nguyên liệu có sẵn của địa phương là đẩy mạnh sản xuất, tăng cường quản lý,
thực hiện định mức lao động, hạch toán kinh tế. Tổng giá trị sản lượng công
nghiệp đạt 144% kế hoạch, tăng 6% so với cùng kỳ năm 1977. Sản xuất thủ
công nghiệp được tập trung vào đầu tư máy móc, trang thiết bị: máy tiện, điện,
dập khoan, hàn…
Trong 2 năm 1983 - 1984, thực hiện nghị quyết 95 và 201 của Hội đồng
bộ trưởng (nay là Chính phủ), về xây dựng vùng kinh tế mới huyện đã vận động
166 hộ đi xây dựng vùng kinh tế mới ở trong huyện và huyện Thanh sơn. Năm
1985, sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện gặp khó khăn do nguồn
nguyên liệu như: than, gỗ thiếu không đáp ứng đủ. Tổng giá trị về mặt hàng chủ
yếu ở cả 3 loại hình sản xuất; quốc doanh, chuyên nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
đều không đạt kế hoạch đề ra. Phần lớn các cơ sở sản xuất còn trông chờ bao cấp.
Sản xuất, đời sống người lao động còn nhiều bấp bênh không ổn định, đây cũng là
tình trạng chung của ngành sản xuất tiểu, thủ công nghiệp trong tỉnh.

14
- Giao thông vận tải
Năm 1978, toàn huyện làm mới được 76 km và duy tu 46 km đường bộ,
hoàn thành cầu Vĩnh Cửu (Văn Lương) dài 13m. Cuối 1980, tiếp tục củng cố mở
rộng và nâng cấp các tuyến đường giao thông trong huyện với 12 km đường cấp
phối, sửa 34 km đường liên huyện, 68 km đường nông thôn, 46 km đường nội
đồng và 6 cầu mới…
Trong năm 1983, Huyện ủy chỉ đạo mở nhiều chiến dịch làm giao thông
liên thôn, xã nội đồng phục vụ đi lại của người dân và giao lưu văn hóa, kinh tế.
Toàn huyện mở 334 km đường liên xã, 259 km đường ra đồng và đồi, cấp phối
85 km và hoàn chỉnh cơ bản mặt bằng 6 km đường thị trấn Hưng Hóa với tổng
khối lượng đào đắp 226.000 m
3
đất và 126.000 ngày công. Năm 1984, ngành
giao thông duy tu 36,5 km, nâng cấp 16 km đường tuyến huyện, làm mới 20 km

Ở các hợp tác xã tổ chức được 22 đội chuyên sản xuất giống với 516 người, 21
đội chuyên sản xuất và chế biến phân bón với 416 người, 19 đội thủy lợi, 12 đội
vận tải. Ngoài ra còn có các đội chuyên sơn, chăn nuôi lợn, đội chăn nuôi cá, đội
gạch ngói.
Năm 1978, thực hiện chỉ thị 208 của Chính phủ, Huyện ủy đã bước đầu
tổ chức lại sản xuất, điều hành lao động trên địa bàn huyện. Huyện đã tổ chức
được 34 đội chuyên sản xuất giống với 942 lao động, 34 đội chuyên làm phân
với 2.404 lao động, 34 đội thủy lợi với 2.483 lao động, 34 đội xây dựng cơ bản,
31 đội sản xuất, 25 đội chuyên sắn, 14 đội chuyên chè, 15 đội chuyên trồng và
cắt sơn, 17 đội chăn nuôi, 75 đội ngành nghề. Trên cơ sở phân công lao động
hợp lý, huyện đã điều hành lao động, sức kéo, máy móc nông nghiệp.
- Giáo dục, văn hóa, y tế
Giáo dục, văn hóa, y tế bước đầu được đẩy mạnh cả về quy mô và chất lượng.
Giáo dục
Năm học 1978 - 1979, toàn huyện có 698 lớp từ vỡ lòng đến cấp II với
26.992 học sinh, cấp III có 2.695 học sinh (chiếm 30% dân số). Tỉ lệ đỗ tốt
nghiệp cấp II đạt 95%, đỗ tốt nghiệp cấp 3 đạt 94%. Năm 1980, 100% số xã
của huyện đều có trường cấp I, II với 409 phòng học. Toàn huyện có 1.800 giáo
viên và cô nuôi dạy trẻ, trong đó chiếm 60% là giáo viên cấp I, 70% giáo viên
cấp II đạt tiêu chuẩn hóa.
Năm học 1981 - 1982, toàn huyện có 34 trường trung học phổ thông cơ
sở gồm 663 lớp học, 25.240 học sinh, 2 trường trung học có 60 lớp với 2.200
học sinh; 16 trường bổ túc văn hóa, 3 trường vừa học vừa làm ở Cổ Tiết, Đào
16
Xá, Xuân Quang. Huyện có 12 giáo viên đạt chiến sĩ thi đua, 12 giáo viên đạt
giỏi, 246 giáo viên đạt tiên tiến…
Năm học 1984 - 1985, phong trào thi đua dạy tốt học tốt trong ngành giáo
dục của huyện có nhiều chuyển biến. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp cấp II đạt 98,1%,
thi tốt nghiệp cấp III đạt 100%, tốt nghiệp bổ túc văn hóa đạt 98%.
Y tế

trọng trong đời sống văn hóa của nhân dân và phục vụ các nhiệm vụ chính trị
của địa phương. Phòng văn hóa thông tin huyện tiếp tục tuyên truyền đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới toàn thể nhân dân.
Phòng văn hóa - Thông tin huyện tích cực vận động nhân dân hưởng ứng phong
trào thi đua xây dựng nếp sống mới và gia đình văn hóa: củng cố các đội văn
nghệ xã, đội thông tin lưu động.
Năm 1984, huyện tổ chức hội diễn tiếng hát công - nông - binh thành
công và có tác dụng tốt. Công tác phát hành sách báo, thư viện chiếu phim
thường bám sát các nhiệm vụ của địa phương để tuyên truyền cho các hoạt động
sản xuất và đời sống xã hội. Phong trào thể dục thể thao ở một số cơ quan, đơn
vị và khu vực nông thôn được chú ý đầu tư, xây dựng.
Năm 1985, huyện tổ chức Đại hội thể dục thể thao lần thứ nhất, sau đó
tham gia thi đấu ở tỉnh đạt 1 huy chương vàng, 2 huy chương bạc, 1 huy chương
đồng. Phong trào thể dục thể thao ở các trường học với 5 môn thi đấu cũng được
triển khai sâu rộng tới toàn thể học sinh.
Tuy nhiên hoạt động văn hóa, thể dục thể thao của huyện thời gian này
chưa đồng đều ở các địa phương, việc xây dựng mô hình văn hóa ở nông thôn
chuyển biến còn chậm, những tập tục cũ, lạc hậu chưa được ngăn chặn có
hiệu quả.
Tam Nông là một huyện miền núi có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để
phát triển kinh tế Đảng bộ và chính quyền các cấp trong huyện đã có nhiều cố
gắng khắc phục khó khăn tạo ra sự ổn định về kinh tế - xã hội của huyện.
Tuy nhiên do cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, sự chỉ đạo của Đảng bộ và
chính quyền còn có những hạn chế nên kinh tế - xã hội của huyện còn chậm phát
triển, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của huyện. Nền nông nghiệp mang
tính chất manh mún, bao cấp, công cụ sản xuất lạc hậu, năng suất thấp chưa đủ
ăn. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mang tính chất nhỏ lẻ, sản xuất cầm
chừng, chưa có thị trường xuất khẩu lớn. Số người trong độ tuổi lao động không
có việc làm chiếm tỷ lệ cao. Giáo dục, y tế còn nhiều bất cập, trình độ dân trí ở
18

Đảng ta nhận thấy những vấn đề cần sớm điều chỉnh về chủ trương, đường lối
đưa đất nước tiến lên.
Tháng 12 năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp
tại Hà Nội đã đề ra đường lối đổi mới đất nước toàn diện, trọng tâm là đổi mới
tư duy về kinh tế. Nêu ra phương hướng, mục tiêu chủ yếu để phát triển kinh tế -
xã hội trong 5 năm (1986 - 1990). Trong đó nhấn mạnh việc thực hiện 3 chương
trình kinh tế lớn: lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu.
Từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 10 năm 1986, ĐH Đại biểu Đảng bộ huyện Tam
Thanh lần thứ IV được tổ chức trên kinh nghiệm của nhiệm kỳ trước và tinh thần
đổi mới theo quan điểm của trung ương, tỉnh ủy, ĐH đã đề ra phương hướng nhiệm
vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm (1986 - 1990). Tập trung đẩy mạnh sản
xuất nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, lương thực là mục tiêu số
1. Phấn đấu năm 1990, đạt tổng giá trị sản xuất nông - lâm - tiểu thủ công nghiệp
20
đạt từ 291 triệu đồng đến 356 triệu đồng, tổng sản lượng lương thực quy ra thóc đạt
từ 30 nghìn tấn đến 35 nghìn tấn, phục hồi và phát triển tiểu thủ công nghiệp, chăn
nuôi, quản lí và sử dụng đất đồi, rừng tạo một cơ cấu kinh tế sản xuất hợp lí. Tiếp
tục xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, mạnh dạn đầu tư hàng thiết bị trong công
nghiệp, củng cố nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa…
Tháng 6 năm 1991, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng
thông qua cương lĩnh chính trị xây dựng đất nước thời kì quá độ lên công nghiệp
xã hội: khẳng định tiếp tục xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ ngày 3 đến ngày 4 tháng 4 năm 1991, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện
Tam Thanh lần thứ VI được tổ chức đề ra phương hướng, mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội trong 5 năm (1991 - 1995), phấn đấu năm 1995 đạt tổng sản
lượng lương thực quy ra thóc đạt từ 32 đến 33 ngàn tấn, tổng giá trị sản lượng
tiểu thủ công nghiệp và hàng tiêu dùng đạt 5 tỷ đồng trở lên, hạ tỷ lệ tăng dân số
tự nhiên xuống 1,7% trên năm, phấn đấu phổ cập giáo dục cấp I và xóa mù chữ,
thực hiện tiêm chủng mở rộng và tiêm phòng đạt 90% số trẻ em.

23,8
76,2
Chia theo ngành kinh tế
- Nông - lâm nghiệp - thủy sản
- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng
- Dịch vụ

75,5
10,5
14

70,2
13,5
16,3

68
15
17

57,5
20,5
22
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Tam Nông - Tr 25)

21
Cơ cấu kinh tế phân theo loại hình kinh tế có sự chuyển dịch cơ cấu, kinh
tế nhà nước có xu hướng giảm mạnh từ 40% năm 1985 xuống 23,8% năm 1995.
Kinh tế ngoài nhà nước có xu hướng tăng nhanh từ 60% năm 1985 tăng lên
76,2% năm 1995. Cơ cấu kinh tế chia theo ngành kinh tế cũng có sự chuyển
dịch lớn, trong đó kinh tế nông - lâm - thủy sản có xu hướng giảm nhanh từ

47.787
159.445
49.850
57.123
70.045

811
648
645
790
1.028
1.149

207.095
205.102
213.617
242.892
240.883
272.721
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Tam Nông - Tr 29)
2.2.1. Nông nghiệp
- Trồng trọt

Trích đoạn Chuyển biến trong xây dựng cơ sở hạ tầng Chuyển biến về dân số lao động việc làm Chuyển biến trong công tác xóa đói giảm nghèo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status