BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------o0o----------
Từ Minh Lan
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN PHONG ĐIỀN
( THÀNH PHỐ CẦN THƠ) TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
GIAI ĐOẠN 1986 – 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh, 3/2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------o0o----------
Từ Minh Lan
CHUYỂN BIẾN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN PHONG ĐIỀN
( THÀNH PHỐ CẦN THƠ) TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
GIAI ĐOẠN 1986 – 2010
CHUYÊN NGÀNH : LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ
: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
thập và phân tích trong đề tài này là trung thực, không trùng với bất kỳ công trình
nghiên cứu khoa học nào. Các số liệu và tài liệu tham khảo hoặc trích dẫn trong
luận văn tôi đều chú thích nguồn rõ ràng, chính xác.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 3 năm 2012
Học viên thực hiện
Từ Minh Lan
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾXÃ HỘI HUYỆN PHONG ĐIỀN TRƯỚC NĂM 1986 ....................................................... 6
1.1 Khái quát về vùng đất, con người huyện Phong Điền ................................................. 6
1.1.1 Điều kiện tự nhiên................................................................................................. 6
1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ..................................................................................... 8
1.1.3 Truyền thống đấu tranh bất khuất của nhân dân huyện Phong Điền qua các thời
kỳ lịch sử ...................................................................................................................... 16
1.2. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh huyện Phong Điền sau ngày giải phóng đến trước đổi
mới (1975-1985) .............................................................................................................. 23
1.2.1. Tình hình kinh tế ................................................................................................ 23
1.2.2. Tình hình văn hóa- xã hội ................................................................................. 27
Tiểu kết chương 1 ................................................................................................................ 30
CHƯƠNG 2: CHUYỂN BIẾN KINH TẾ HUYỆN PHONG ĐIỀN TỪ NĂM 1986 ĐẾN
NĂM 2010 ........................................................................................................................... 32
2.1. Huyện Phong Điền trong thời kỳ đất nước đổi mới.................................................. 32
3.2.1.5. Y tế, thể dục thể thao .................................................................................. 76
3.2.1.6. Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa ......................................... 78
3.2.2. Thời kỳ 2004- 2010 ........................................................................................... 79
3.2.2.1. Thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình .................................. 79
3.2.2.2. Giải quyết việc làm, thu nhập đời sống ...................................................... 79
3.2.2.3 . Thực hiện chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo ..................................... 80
3.2.2.4. Giáo dục – đào tạo, Văn hóa – thông tin .................................................... 81
3.2.2.5. Y tế, thể dục thể thao .................................................................................. 86
3.2.2.6. Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa ......................................... 88
Tiểu kết chương 3 ................................................................................................................ 90
KẾT LUẬN.......................................................................................................................... 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 97
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Thống kê đất canh tác ở huyện Phong Điền năm 1991-1995: ............................ 38
Bảng 2.2. Thống kê diện tích đất canh tác năm 1996-1997: .............................................. 39
Bảng 2.3. Thống kê diện tích trồng cây lương thực và màu năm 2001-2003: .................... 39
Bảng 2.6. Thống kê đàn heo của một số xã huyện Phong Điền năm 1991-1995: .............. 42
Bảng 2.4. Thống kê diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản của huyện năm 2001-2003:
............................................................................................................................................. 40
Bảng 2.5. Thống kê diện tích và sản lượng trồng cây ăn quả năm 2001-2003: .................. 41
Bảng 2.7. Thống kê đàn gia súc ở huyện năm 2001-2003:.................................................. 43
Bảng 2.8. thống kê khai thác lâm sản năm 2001-2003: ....................................................... 43
Bảng 2.9. Thống kê giá trị sản xuất công nghiệp năm 2001-2003: ..................................... 45
Bảng 2.10. Thống kê doanh thu giao thông năm 2001-2003:.............................................. 48
Bảng 2.11. Thống kê tình hình trồng lúa và màu ở huyện năm 2004-2010: ....................... 50
Bảng 2.13.Diện tích trồng rau đậu các loại năm 2005-2010: .............................................. 51
Bảng 2.12. Thống kê diện tích trồng bắp và các loại cây có chất bột củ năm 2005-2010 : 51
Bảng 2.14.Diện tích trồng cây công nghiệp hàng năm 2005-2010: .................................... 52
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Chuyển biến kinh tế và xã hội” là một đề tài không mới, trước đây đã từng có
nhiều đề tài nghiên cứu sự chuyển biến kinh tế và xã hội của một triều đại, một
quốc gia hay một tỉnh ở giai đoạn lịch sử nào đó. Việc nghiên cứu này nhằm có cái
nhìn tổng quát, đánh giá những thay đổi về đời sống kinh tế cũng như những thay
đổi xã hội, thấy được những mặt tích cực và hạn chế qua đó sẽ đánh giá được các
chính sách, đường lối phát triển kinh tế của nhà nước ở từng giai đoạn lịch sử cụ
thể.
Việc nghiên cứu đề tài “Chuyển biến kinh tế và xã hội” sẽ giúp cho chúng ta
hiểu thêm về vai trò, năng lực quản lý kinh tế của nhà nước ở tại một thời điểm mà
chúng ta nghiên cứu. Chính các kết quả nghiên cứu, đánh giá sự thay đổi tình hình
kinh tế- xã hội ở một thời điểm cụ thể, của một địa phương, sẽ có tác dụng đối với
nhà nước, giúp cho nhà nước nhìn lại thành quả đạt được trong suốt quá trình thi
hành những chính sách, đường lối phát triển kinh tế - xã hội vừa qua. Trên cơ sở đó,
nhà nước sẽ đánh giá, rút ra bài học kinh nghiệm để có những điều chỉnh , bổ xung
cho đường lối phát triển kinh tế - xã hội kế tiếp.
Chính vì tầm quan trọng đó nên việc nghiên cứu đề tài “Chuyển biến kinh tế xã hội” không bao giờ là đề tài cũ.Trái lại, đề tài này ngày càng được quan tâm nhất
là từ năm 1986 cho tới nay, khi mà Đảng và nhà nước ta đang triển khai công cuộc
đổi mới đất nước, các bài báo cáo tổng kết thành tựu đạt được trên các lĩnh vực
kinh tế, chính trị, xã hội , văn hóa, giáo dục …không đơn giản chỉ là những con số
tổng kết hay thống kê mà chính những con số đó sẽ phục vụ cho công tác hoạch
định đường lối phát triển kinh tế - xã hội ở tương lai.
Cần thơ là vùng đất được xem là thủ phủ của Miền Tây. Trước đổi mới, Cần
Thơ là vùng đất chủ yếu phát triển về nông nghiệp. Mặc dù vùng đất này có những
điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp (có cảng cần thơ, sân bay Trà Nóc,
Trường Đại Học Cần Thơ nơi đào tạo nguồn nhân lực,… ) nhưng do chưa có chính
2
3
những năm 1986 -2010 thì còn rất hiếm. Vấn Đề đánh giá sự thay đổi kinh tế- xã
hội vùng đất Phong Điền chỉ được phản ánh, khái quát và kết thúc ở thời kỳ huyện
mới bắt đầu thành lập như tác phẩm “Biên khảo lịch sử Phong Điền - Cần Thơ” của
BHC Đảng bộ huyện Phong Điền xuất bản năm 2005, một số báo cáo của Ủy ban
nhân dân các xã huyện Phong Điền, Niên giám thống kê lưu trữ tại Cục thống kê
huyện, Cục thống kê Thành Phố Cần Thơ, các bài báo cáo về tình hình kinh tế - xã
hội hàng năm của Ủy ban nhân dân các xã. Một công trình nghiên cứu viết về quá
trình thay đổi kinh tế- xã hội huyện Phong Điền trong giai đoạn 1986-2010 chưa có,
những công trình trên chỉ phản ánh được tình hình diễn biến kinh tế -xã hội hàng
quí, hàng năm của huyện nhưng chưa phản ánh sự những thay đổi về kinh tế- xã hội
của huyện qua thời kỳ đổi mới .
Vì thế với những số liệu phản ánh về tình hình kinh tế- xã hội của huyện như
đã kể trên sẽ giúp cho chúng ta tiếp cận vấn đề để hoàn thành đề tài này.
3.ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài luận văn tập trung tìm hiểu và làm rõ tình hình kinh tế- xã hội huyện
Phong Điền từ năm 1986 đến 2010
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: tìm hiểu tình hình kinh tế xã hội ở huyện Phong Điền thuộc
Thành phố Cần Thơ. Tuy nhiên trong chừng mực nhất định đề tài cũng đề cập đến
các vùng thuộc địa bàn cũ của huyện Châu Thành thuộc tỉnh Hậu Giang và tỉnh Cần
Thơ trước khi tách tỉnh.
Lý do của phạm vi trên là từ năm 1975 huyện Phong Điền là một phần của huyện
Châu Thành thuộc tỉnh Hậu Giang và tỉnh Cần Thơ sau này. Vì thế tất cả các chính
sách chủ trưởng của Đảng và nhà nước, của Đảng bộ tỉnh , Huyện bộ về phát triển kinh
tế và xã hội nhất định cũng sẽ tác động trực tiếp huyện Phong Điền ngày nay.
5
5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Tái hiện lại quá trình chuyển biến kinh tế- xã hội của huyện Phong Điền trong
25 năm đổi mới (1986-2010)
Làm nổi bật những thành tựu và rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá
trình xây dựng và phát triển kinh tế của huyện
Có thể dùng luận văn để làm tư liệu giảng dạy lịch sử địa phương
6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn
được chia thành 3 chương.
CHƯƠNG 1: Khái quát về vùng đất, con người, tình hình kinh tế - xã hội
huyện Phong Điền trước năm 1986
CHƯƠNG 2: Chuyển biến Kinh tế huyện Phong Điền từ năm 1986 đến năm 2010
CHƯƠNG 3: Chuyển biến xã hội huyện Phong Điền trong những năm 1986
đến 2010
6
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ
HỘI HUYỆN PHONG ĐIỀN TRƯỚC NĂM 1986
1.1 Khái quát về vùng đất, con người huyện Phong Điền
1.1.1 Điều kiện tự nhiên.
Vị trí địa lý: Phong Điền nằm ở phía Nam trung tâm thành phố Cần Thơ, phía
Bắc giáp với quận Ô Môn, Bình Thủy, phía Đông giáp quận Cái Răng và quận Ninh
kiều, phía Tây giáp với huyện Cờ Đỏ, phía Nam giáp với tỉnh Hậu Giang. Diện tích
toàn huyện là 12.359,56 ha, trong đó có 10.678,57 ha đất nông nghiệp, 1.311,76 ha
đất chuyên dùng, 353,83 ha đất thổ cư và 15,40 ha đất chưa sử dụng
màu mỡ nên thuận lợi cho trồng lúa, hoa màu và cây ăn quả, sông ngòi chằng chịt
thuận lợi đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Vì thế, sau khi chia tách thành lập huyện
Phong Điền, Đảng bộ và chính quyền địa phương đã quy hoạch huyện thành 2
vùng sản xuất nông nghiệp nhằm phát huy hết thế mạnh của huyện. Theo đó thì các
xã Mỹ Khánh, Nhơn Ái, Tân Thới, Giai Xuân chuyên canh cây ăn trái, sinh vật
cảnh và các mặt hàng nông sản, phục vụ khách du lịch, các xã Nhơn Nghĩa, Trường
Long thì chuyên sản xuất lúa chất lượng cao, rau an toàn, chăn nuôi gia súc, gia
cầm, nuôi trồng thủy sản tạo ra hàng hóa có chất lượng cao cung cấp cho thị trường.
Khoáng sản hầu như là không có.
Về giao thông: hệ thống giao thông đường bộ, huyện có tỉnh lộ 923 chạy qua
trung tâm huyện, nối liền huyện Phong Điền với các huyện, quận khác của thành
phố. Do nằm cập bờ sông Cần Thơ và có kinh xáng Xà No cùng với hệ thống kinh
rạch chằng chịt nên giao thông đường thủy cũng góp phần làm cầu nối giữa huyện
với các vùng lân cận. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nông sản ở vùng sâu mang
ra chợ để trao đổi buôn bán, việc hình thành chợ nông sản trên sông (chợ nổi Trà
Niền) tạo nên một nét độc đáo của một huyện thuộc vùng “sông nước miền Tây”.
Hiện nay, nhờ sự quan tâm của chính quyền địa phương và ngành giao thông, huyện
có hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh ở các xã, ấp, tạo điều kiện thông thoáng cho
8
việc đi lại, học hành và vận chuyển hàng hóa của nhân dân ở các xã, ấp, góp phần
thúc đẩy kinh tế- văn hóa huyện phát triển.
1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Vùng đất Thành phố Cần Thơ Nói chung và huyện Phong Điền nói riêng có
lịch sử hình thành gắn liền với quá trình mở cõi của các chúa Nguyễn, được hình
trong suốt một thời gian lâu dài với các biến cố lịch sử.
Vào thế kỷ XVII-XVIII, do hoàn cảnh lịch sử kinh tế và chính trị của Đại
Việt, một số lưu dân người Việt đã bỏ quê tìm đường về vùng đất phương nam với
Sơn truy kích về đánh Trấn Giang, Nguyễn Ánh rút ra đảo Thổ Chu.
Sau khi đánh bại quân Xiêm, Nguyễn Huệ rút quân về miền Trung chuẩn bị
đối phó với quân Thanh và triều Lê ở Bắc Hà. Lợi dụng thời cơ đó, Nguyễn Ánh
củng cố lại binh lực, tháng 10-1787 Nguyễn Ánh đánh chiếm Trấn Giang, cuộc
chiến giữa quân Nguyễn Ánh và Tây Sơn tiếp diễn cho đến năm 1802 vương triều
Tây Sơn sụp đỗ, nhà Nguyễn được thành lập
Qua các biến cố lịch sử kể trên, thì vùng đất Cần Thơ xưa là vùng đất ít nhiều
có vị trí chiến lược quan trọng về mặt quân sự nên từng là vùng đất “chiếm đi, giành
lại” của quân Chúa Nguyễn và quân Tây Sơn
Sau khi thành lập vương triều Nguyễn, vấn đề khai hoang mở rộng diện tích
canh tác, khắc phục hậu quả chiến tranh là vấn đề được các vua nhà Nguyễn đặc
biệt quan tâm. Vùng đất Trấn Giang mặc dù được khai hoang từ thời Mặc Cửu
nhưng nhìn chung vẫn là vùng đất còn hoang hóa, đất rộng người thưa. Năm 1803
vua Gia Long cho định lại dư đồ Tây sông Hậu đổi tên Long Hồ thành dinh Hoằng
Trấn sau đó đổi thành Vĩnh Trấn, năm 1808 đổi thành Trấn Vĩnh Thanh một trong
những trấn của Gia Định, lúc bấy giờ ở Nam Bộ có Biên Hòa, Trấn Phiên An, Trấn
Vĩnh Thanh, Trấn Vĩnh Tường, Trấn Hà Tiên (Trấn Giang bây giờ là huyện Vĩnh
Định, phủ Định Viễn, Trấn Vĩnh Thanh). Năm 1832, Vua Minh Mạng thực hiện
cuộc cải cách hành chính lớn trong đó cho đổi các Trấn thành Tỉnh, Nam Kỳ Lục
Tỉnh hình thành gồm :
+ Biên Hòa, Gia Định, Định Tường là 3 tỉnh Miền Đông
10
+ Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên là 3 tỉnh Miền Tây
Huyện Vĩnh Định tách ra khỏi Phủ Định Viễn sáp nhập vào phủ Tân Thành
thuộc An Giang, năm 1839 Vua Minh Mạng đổi tên huyện Vĩnh Định thành huyện
Phong Phú thuộc phủ Tuy Biên tỉnh An Giang, lấy làng Tân An làm huyện trị của
huyện phong phú
nước ngọt và phù sa từ sông Hậu về bồi đắp.
Công trình này là sáng kiến của Guêry, được viên toàn quyền Paul Doumer
phê duyệt. Sau khi công trình hoàn thành, chính quyền Pháp đã ưu đãi cấp đất cho
Guêry 25000 héc ta để thành lập đồn điền. Đối với dân phu thì cấp mỗi người 4 héc
ta để khai hoang, sau 5 năm thì được quyền sở hữu. Ngoài ra, Pháp còn tổ chức bán
đấu giá một số diện tích đất đai. Một số người có tiền hoặc vay vốn ngân hàng để
mua đất, sau đó, họ cho nông dân không có ruộng thuê để canh tác và thu tô, 3 năm
đầu thì không phải nộp gì cả, nông dân được vay vốn để mua sắm nông cụ hoặc để
ăn khi có hoa lợi, đến năm thứ 4 thì bắt đầu nộp 3 giạ trên 1 héc ta sau đó tăng dần
lên từ 30 đến 40 giạ trên một héc ta, tức khoảng 40% hoa lợi. Với hình thức đó,
nhiều đồn điền lớn nhỏ ở vùng kinh xáng Xà No thuộc huyện Phong Điền ra đời.
Gắn với công cuộc khai hoang vấn đề cơ sở hạ tầng cũng được Pháp chú ý và cho
tiến hành xây dựng như đường xá, chợ, trường học …
Năm 1931, pháp cho xây dựng hương lộ 4 ( lộ Vòng Cung, ngày nay là lộ
923) từ Cái Răng vào Phong Điền dài 15 km, từ Phong Điền đến Cầu Nhiếm Ba Se
dài 13km, bên phía Nhơn Nghĩa làng cho dân đắp đất làm lộ cặp mé sông chạy từ
Vàm Sáng đến Ba Láng. Tuy lộ nhỏ nhưng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho
việc đi lại của người dân, hình thành cầu nối giữa thành thị và nông thôn.
*Chú thích: có giả thuyết cho rằng địa danh phong Điền là do vua Tự Đức đặt cho. Bên cạnh đó
có giả thuyết cho rằng là những người khẩn hoang vùng đất này là di dân miền Trung, họ mang
theo tên quê hương mình mà đặt cho vùng đất này.
Các mặt hàng nông sản và các loại sản phẩm thiết yếu phục vụ nhu cầu đời
sống hàng ngày được trao đổi, điều này lại góp phần hình thành nên chợ ở Phong
Điền. Nhà lồng chợ được xây để làm nơi tụ họp mua bán, các dãy nhà phố, nhà nền
đúc hoặc nhà cao cẳng được xây dựng, các cửa tiệm tạp hóa phần lớn là do người
Hoa làm chủ. Là địa bàn nông nghiệp nên huyện có nông sản khá dồi dào, lại có cơ
sở hạ tầng giao thông, thuận lợi nên nông sản ở vùng sâu được nông dân dùng ghe
Theo Nghị định 64/2000/NĐ-CP ngày 6 tháng 11-2000 của Chính phủ, huyện
Châu Thành A tỉnh Cần Thơ cũ được tái lập, huyện Châu Thành A gồm 8 đơn vị
hành chính trực thuộc là các xã Tân Thuận, Thạnh Xuân, Tân Hoà, Trường Long,
Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Trường Long Tây và Tân Phú Thạnh. Còn huyện Châu
Thành gồm 6 đơn vị hành chính trực thuộc là các xã Đông Thạnh, Đông Phú, Đông
Phước, Phú An, Phú Hữu và Thị trấn Cái Răng.
Theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2004 của chính
phủ về thành lập các quận của Thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương, huyện
Châu Thành A tách 531,52 ha diện tích tự nhiên và 6.339 nhân khẩu của xã Tân Phú
Thạnh vào thành lập quận Cái Răng, riêng các xã Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Trường
Long được sáp nhập với ba xã khác là Mỹ Khánh, Giai Xuân, Tân Thới để thành
lập huyện Phong Điền.
Như vậy hiện nay huyện Phong Điền bao gồm các xã : Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa,
Mỹ Khánh, Giai Xuân, Tân Thới và Trường Long với tổng diện tích là 12.359,56 ha
trong đó đất nông nghiệp chiếm 10.678,57ha, với 102.853 người (năm 2005)
Như thế, suốt thời gian dài hình thành, từ lúc người Việt đến khai hoang lập
nghiệp trên vùng đất này dưới thời chúa Nguyễn, triều Nguyễn, rồi trải qua 2 cuộc
kháng chiến chống Pháp, Chống Mỹ cứu nước, cho đến ngày khi miền Nam hoàn
toàn giải phóng và đến khi huyện Phong Điền được thành lập; vùng đất này đã
không ngừng biến đổi theo thời gian. Khó có thể hình dung được bộ mặt nông thôn
của huyện ngày xưa và diện mạo mới của huyện ngày nay. Với đường giao thông
trải nhựa, cầu bê tông suốt con đường tỉnh lộ 923. Các tuyến giao thông xã liền xã,
xã liền huyện, với khu hành chính mới của huyện được xây dựng, khu đô thị mới,
các trạm cấp nước sạch, hệ thống giáo dục bao gồm đầy đủ các bậc học, với hệ
thống y tế từ huyện đến các xã, với hệ thống cung cấp điện đến các xã…Những thay
đổi trên có thể nói là nhờ vào công cuộc đổi mới mà Đảng và Nhà nước ta khởi
xướng năm 1986.
Vốn là vùng đất được phù sa sông Hậu bồi đắp nên nông nghiệp được xem là
Cái Răng, chợ nổi Trà Niền.
Cũng như các vùng khác, tín ngưỡng tôn giáo không thể thiếu trong đời sống
tâm linh của con người. Ngoài tín ngưỡng truyền thống là thờ cúng tổ tiên, Phong
Điền hiện nay có nhiều tôn giáo và tín ngưỡng như đạo Phật huyện có 4 chùa ở xã
Nhơn Ái, Mỹ Khánh,Tân thới với số tăng ni phật tử 185 người, đạo Tin Lành có
nhà thờ ở xã Nhơn Ái trên 1600 tín đồ, đạo Thiên Chúa có nhà thờ ở rạch Ông Hào
với trên 1700 tín đồ, đạo Cao Đài phát triển mạnh từ cách mạng tháng 8- 1945 với
nhiều hệ phái có các thánh thất ở Giai Xuân và Tân Thới với số tín đồ 987 người,
đạo Hòa Hảo ra đời năm 1939 và phát triển mạnh lúc cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất
bại số tín đồ hiện nay của huyện là 226 người ( năm 2005). Với sự đa dạng về tôn
giáo như thế nên trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, kẻ thù đã lợi
dụng tôn giáo (đạo Cao Đài, đạo Hào Hảo) khích động sự thù giữa các tôn giáo để
phá hoại cách mạng. Hiện nay với chính sách đoàn kết dân tộc và tôn giáo nhà nước
ta vẫn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo cho nhân dân theo đúng luật pháp
qui định, vì thế mà đời sống tín ngưỡng của nhân dân huyện trở nên phong phú và
đa dạng.
Tuy là vùng đất thuần nông, từ khi hình thành và phát triển, ngoài đời sống
kinh tế, vùng đất còn phát triển cả về văn học dân gian, đờn ca tài tử một loại hình
nghệ thuật khá phát triển ở Nam Bộ.
+ Văn học dân gian : như truyền thuyết ( về các địa danh ở huyện), các giai
thoại ( về các nhân vật lịch sử ở huyện), truyện cười phản ánh về sinh hoạt đời
thường của người dân địa phương trong lao động, trong chiến đấu
+ Văn vần : ca dao, tục ngữ, câu đố, câu hò phản ánh cuộc sống lao động sản
xuất, kinh nghiệm lao động, ca ngợi quê hương
Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền.
Anh có thương em thì cho bạc cho tiền
Đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê
Hay là
1868, Đinh Sâm hy sinh, Nghĩa quân tiếp tục hoạt động, tháng 3-1870 nghĩa quân
tấn công Tòa Tham Biện nhưng không thành công, nhiều nghĩa quân bị bắt, bị đày
côn đảo, cuộc đấu tranh của nhân dân Ba Láng, Trà Niền thất bại.
Đầu thế kỷ XX, với sự thắng lợi của cách mạng Tân Hợi và cách mạng tháng
Mười Nga, ít nhiều tác động đến tình hình nước ta. Nhiều sĩ phu, thanh niên trí thức
bôn ba ra nước ngoài tìm kiếm con đường cứu nước. Nhiều luồng tư tưởng cách mạng
mới du nhập vào Việt Nam, thông qua thực tiễn đấu tranh, khuynh hướng vô sản ngày
càng thắng thế ở Việt Nam. Đến năm 1930, Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời.
Tại Cần Thơ, tháng 8-1928, Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên thành lập
do Trần Ngọc Quế làm bí thư. Còn tại Phong Điền, chi bộ của Hội được thành lập
tại làng Nhơn Ái, dưới sự lãnh đạo của chi bộ hội Việt Nam Cách Mạng Thanh
Niên. Các cuộc đấu tranh đòi công điền, công thổ, đòi giảm sưu thuế diễn ra ở các
xã Mỹ Khánh, Giai Xuân, Nhơn Ái.
Năm 1929 -1933, khủng hoảng kinh tế thế giới bùng nổ, Đảng Cộng Sản Việt
Nam ra đời trong bối cảnh đó đã kịp thời lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh. Vai trò
lãnh đạo của Đảng được thể hiện qua cao trào 1930-1931 ở Nghệ An và Hà Tỉnh.
Tại huyện Phong Điền, các cuộc đấu tranh của nông dân ở các xã Mỹ Khánh,
Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Trường Long cũng diễn ra, nhằm cổ vũ cho cuộc đấu tranh
của nhân dân ở Nghệ An và Hà Tỉnh, phản đối chính sách khủng bố trắng của thực
dân Pháp. Phong trào đấu tranh của nhân dân huyện Phong Điền bị đàn áp, vì thế
phong trào cách mạng ở huyện tạm lắng xuống.
Từ năm 1932-1935, các cở sở Đảng, các tổ chức Đảng dần dần phục hồi trong
cả nước. Tại huyện Phong Điền, các cở sở của Đảng được hồi phục và bắt đầu ra
hoạt động công khai dưới hình thức các tổ chức như: Hội Tương Tế, Hội Ái Hữu,
Hội Đá Banh; tổ chức mít tinh chống bắt lính, chống bắt xâu, chống tăng tô
tức…Như vậy, bằng sự linh động sáng tạo, các cở sở Đảng ở huyện dần dần hồi
phục để chuẩn bị cho cao trào đấu tranh mới.
Từ năm 1936- 1939, hưởng ứng cao trào đấu tranh đòi dân chủ, tự do, cơm áo