Sự chuyển biến kinh tế xã hội thành phố vinh trong thời kỳ đổi mối (1986 2005) - Pdf 32

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học Vinh

Phạm thuý hiền

Sự chuyển biến kinh tế - xã hội thành phố
Vinh trong thời kỳ đổi mới (1986- 2005)
Chuyên ngành: lịch sử việt nam
Mã số: 60. 22. 54

Luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử

Ngời hớng dẫn : PGS. TS Nguyễn Trọng Văn

vinh - 2006
mục lục
Mở đầu............................................................................................................1
Nội dung.........................................................................................................6
Chơng 1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội Thành phố Vinh thời kỳ trớc
đổi mới..................................................................................................6
1.1. Khái quát về Thành phố Vinh...................................................................6
1.1.1. Điều kiện tự nhiên.......................................................................8
1.1.2. Một vài nét về Lịch sử...............................................................12
1.2. Tình hình kinh tế - xã hội Thành phố Vinh trớc năm 1986..................12

1


1.2.1. Về kinh tế..................................................................................25
1.2.2. Về xã hội...................................................................................25
Chơng 2. Sự chuyển biến về kinh tế của Thành phố Vinh trong thời kỳ đổi

khoa sau đại học trờng Đại học Vinh, các cán bộ ở các th viện trờng Đại
học Vinh, th viện tỉnh Nghệ An, phòng lu trữ của Thành uỷ, Uỷ ban
nhân dân thành phố Vinh, các phòng ban, gia đình, bạn bè đã tạo điều

2


kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
Tác giả
Phạm Thuý Hiền
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
1.1. Năm 1986, Đảng ta đề ra chủ trơng đổi mới đất nớc. Cũng từ đó, nớc
ta đã thu đợc nhiều thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, Việt Nam
không những thoát khỏi cuộc khủng hoảng sâu sắc vào cuối thập niên 70 đầu
thập niên 80 mà còn vơn lên bắt kịp với nhịp phát triển sôi động của nền kinh tế
khu vực và thế giới. Chính sách đổi mới của Đảng đã tác động sâu sắc tới sự phát
triển kinh tế - xã hội của nhiều địa phơng trong cả nớc, Thành phố Vinh cũng là
một trong những địa phơng thực hiện tốt đờng lối đổi mới đó.
1.2. Thành phố Vinh là một trong những thành phố quan trọng, là trung
tâm kinh tế lớn của khu vực Bắc Trung Bộ. Trải qua 20 năm đổi mới, Thành phố
Vinh đã có những chuyển biến lớn về mặt kinh tế - xã hội. Sự chuyển biến đó đã
mang lại diện mạo mới cho thành phố, cảnh quan đô thị đẹp hơn, đời sống của
nhân dân đợc cải thiện một bớc quan trọng.
Tìm hiểu công cuộc đổi mới ở Thành phố Vinh là tìm hiểu quá trình vận
dụng đờng lối đổi mới của Trung ơng Đảng vào một thành phố đã bị chiến tranh
tàn phá hoàn toàn trong chiến tranh và làm rõ những thành tựu mà công cuộc đổi
mới đã mang lại cho quê hơng mình.
1.3. Triển khai đề tài "Sự chuyển biến kinh tế - xã hội Thành phố Vinh

đại lộ Xô Viết Nghệ Tĩnh điểm nhấn của Thành phố Vinh (Hải Yến - Báo Nghệ
An ngày 19/05/2005), Để ngành công nghiệp có bớc tiến vững chắc (Báo Nghệ
An ngày 26/05/2005)...
- Các báo cáo hàng năm của các phòng ban báo cáo lên Thành uỷ Vinh,
Tỉnh uỷ Nghệ An; Các bản phơng hớng, nhiệm vụ của các kỳ đại hội Đảng bộ
thành phố...
Các công trình nghiên cứu, bài viết trên đây đã làm sáng tỏ đợc một số vấn
đề về tỉnh Nghệ An nói chung và Thành phố Vinh nói riêng. Tuy nhiên, cho đến
nay vẫn cha có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể về sự chuyển biến
kinh tế - xã hội của Thành phố Vinh từ 1986 - 2005. Chính vì thế, luận văn tập
trung tìm hiểu một cách có hệ thống những chuyển biến kinh tế - xã hội của
Thành phố Vinh trong giai đoạn từ 1986 - 2005.
3. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
3.1. Đối tợng nghiên cứu.
Đối tợng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu sự chuyển biến về
kinh tế - xã hội của Thành phố Vinh trong thời kỳ đổi mới từ 1986 đến 2005.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:

5


Toàn bộ công cuộc đổi mới trong đó có sự chuyển biến kinh tế - xã hội của
Thành phố Vinh từ năm 1986 đến năm 2005
4. Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu.
4.1. Nguồn t liệu.
Để có đợc nguồn t liệu phong phú phục vụ việc làm luận văn, chúng tôi đã
tiến hành su tầm, tích luỹ, sao chép tại các th viện, phòng t liệu của Thành uỷ
Vinh, phòng thống kê của Uỷ ban nhân dân thành phố, phòng kinh tế thành phố...
và đến các cơ sở kinh tế và văn hoá của thành phố.
Để làm cơ sở lý luận trong quá trình giải quyết đề tài, chúng tôi còn đọc


Nội dung
Chơng 1
khái quát tình hình kinh tế - xã hội thành
phố Vinh trớc thời kỳ đổi mới.
1.1. Khái quát về Thành phố Vinh.
1.1.1. Điều kiện tự nhiên.
* Vị trí địa lý:
Thành phố Vinh nằm ở phía Đông Nam tỉnh Nghệ An, là trung tâm kinh
tế, chính trị, văn hoá của tỉnh. Nằm ở tọa độ từ 18 038'50" đến 18038' 36" vĩ độ
Bắc và 105056'30" đến 105049'50" kinh độ Đông. Diện tích tự nhiên là 63,99 km2,
xếp thứ 18 trong 19 huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh. (Về diện tích tự nhiên,
hiện nay theo số liệu mới là 66,9 km2, có sự khác nhau đó không phải là do sự
mở rộng diện tích mà là do sai số trong việc sử dụng dụng cụ đo, 63,99 km 2 là
con số do đo bằng thớc, còn 66,9 km2 là con số đo bằng máy).
Thành phố Vinh cách Hà Nội 291 km về phía Bắc, cách thành phố Huế 363
km về phía Nam (theo quốc lộ 1A).Thành phố Vinh nằm ở hạ lu sông Lam, đây là
con sông lớn thứ ba cả nớc. Sông Lam có chiều dài 532 km, bắt nguồn từ thợng Lào,
chảy về biển Đông theo hớng Tây Bắc - Đông Nam, phần chảy trên địa bàn Nghệ
An có chiều dài tới 375 km, tạo điều kiện thuận lợi cho c dân xứ Nghệ đi lại buôn
bán dễ dàng. Bên cạnh đó, hàng năm sông Lam cũng đã bồi đắp một lợng phù sa lớn
cho nhân dân hai bên bờ sông trồng trọt, sản xuất. Sông Lam cũng là ranh giới tự
nhiên ngăn cách Thành phố Vinh với tỉnh Hà Tĩnh về phía Nam.
Phía Đông, Thành phố Vinh tiếp giáp với biển Đông, một biển phụ của
Thái Bình Dơng, tạo cơ hội thuận lợi để Vinh hớng ra thế giới bằng tuyến đờng
biển quốc tế.

7



8


vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, hàng năm có hai mùa rõ rệt, mùa nóng
từ tháng 5 đến tháng 9, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 2.
Nhiệt độ trung bình cả năm của Thành phố Vinh là 23,9 0 C, lợng ma trung
bình năm là 484,0 mm. ở đây vào mùa nóng có loại gió nóng Phơn Tây Nam mà
ngời ta quen gọi là gió Lào, loại gió này mang lại cho Thành phố Vinh nói riêng
và tỉnh Nghệ An nói chung nền khí hậu nóng rát điển hình của miền trung nắng
cháy. Vào những tháng gió Lào xuất hiện, khí hậu ở đây hết sức khó chịu nóng
rát, oi bức, gây ảnh hởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của con ngời.
* Về hành chính:
Hiện nay, Thành phố Vinh có 15 phờng nh: phờng Đội Cung, Trung Đô,
Quang Trung, Trờng Thi, Bến Thuỷ, Hồng Sơn, Lê Mao, Cửa Nam, Lê Lợi, Hng
Bình, Hà Huy Tập, Hng Dũng, Đông Vĩnh, Quán Bàu, Hng Phúc; và 5 xã : Hng
Đông, Hng Lộc, Vinh Tân, Hng Hoà, Nghi Phú.
Toàn thành phố có 285 khối xóm.
1.1.2. Một vài nét về lịch sử:
Thành phố Vinh ngày nay nằm trên phần đất Vĩnh Yên và Yên Trờng, tổng
Ngô Trờng, sau đổi thành tổng Yên Trờng huyện Chân Lộc, trấn Nghệ An thời
Gia Long.
Năm 1788, trong cuộc hành quân thần tốc ra Bắc để tiêu diệt 29 vạn quân
Thanh, Quang Trung - Nguyễn Huệ đã chọn vùng đất dới chân núi Dũng Quyết
làm nơi định đô mới của mình gọi là Phợng Hoàng Trung Đô. Bởi theo Ông, nếu
đóng đô ở đây thì "độ đờng vừa cân" vừa có thể khống chế giặc từ Nam ra lại vừa
có thể khống chế giặc từ Bắc vào. Đáng tiếc Quang Trung - Nguyễn Huệ đột ngột
từ trần vào năm 1792 nên công việc xây thành bị bỏ giữa chừng.
Tháng 5/1804, trấn lỵ Nghệ An đợc chuyển dời từ Lam Thành - Phù Thạch
về Vĩnh Yên và Yên Trờng. Từ tháng 5/1804 cho đến trớc Cách mạng tháng Tám
năm 1945, Vinh đã trải qua bốn lần đổi tên gọi, song việc thay đổi tên ấy không

trên đất Vinh đã dành đợc thắng lợi hoàn toàn, lịch sử Vinh bớc sang một trang
mới.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi đã đa lịch sử dân tộc ta bớc sang
một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập - tự do. Nhng với dã tâm chiếm nớc ta
một lần nữa, thực dân Pháp đã mang quân xâm lợc trở lại nớc ta, cuộc kháng chiến
toàn quốc bùng nổ. Hoà chung với tinh thần của cả nớc "thà hi sinh tất cả chứ
không chịu mất nớc không chịu làm nô lệ", nhân dân thị xã Vinh sục sôi kháng
chiến, mu trí, kiên cờng. Theo chủ trơng của Trung ơng và chủ tịch Hồ Chí Minh,
nhân dân Vinh đã tiến hành tiêu thổ kháng chiến. "Qua 5 tháng thực hiện, công

10


nhân Vinh - Bến Thuỷ đã đóng góp 45.700 ngày công, phá dỡ đợc 1335 ngôi nhà,
trong đó có 301 nhà cao tầng, 300 toa xe lửa và 12 đầu máy, đã có 9 cán bộ và ngời dân bị thơng, 2 chiến sỹ vệ quốc quân hy sinh" [2.51].
Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc sạch bóng quân thù đi lên
xây dựng chủ nghĩa xã hội làm hậu phơng lớn cho tiền tuyến miền Nam. Trong
không khí tng bừng đó, nhân dân thị xã Vinh trở về bắt tay xây dựng lại quê hơng. Mời năm sống trong hoà bình (1954 - 1964), Đảng bộ và nhân dân thị xã
không ngừng nỗ lực khôi phục, cải thiện kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa, bớc
đầu xây dựng cơ sở vật chất xã hội chủ nghĩa và đã đạt đợc những thành tựu đáng
mừng. Từ một đô thị đổ nát sau chiến tranh, Vinh đã vơn dậy trở thành một đô thị
công nghiệp lớn của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Với những thành tựu đã đạt đợc
trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, Bộ chính trị đã có nghị quyết nâng cấp
thị xã Vinh lên Thành phố. Ngày 10/10/1963, Hội đồng Chính phủ đã ra quyết
định số 148 - CP thành lập Thành phố Vinh. Và, Vinh trở thành một trong năm
thành phố công nghiệp lớn nhất miền Bắc lúc bấy giờ.
Vinh cha kịp hân hoan, vui mừng thì tháng 8/1964 Mỹ - Ngụy tiến hành
chiến tranh phá hoại lần thứ nhất bằng không quân, hải quân đối với miền Bắc,
Thành phố Vinh trở thành một trong những trọng điểm bắn phá ác liệt, dữ dội của
Mỹ - Ngụy. Từ năm 1964 đến cuối năm 1972 không biết bao nhiêu tấn bom đạn

hiện kế hoạch 5 năm (1976 - 1980) thì Vinh đã có những khởi sắc.
* Sản xuất nông nghiệp:
Thực hiện kế hoạch 5 năm (1976 - 1980), nền kinh tế nông nghiệp nớc ta
có bớc tăng trởng, khắc phục đợc phần nào hậu quả mà chiến tranh và thiên tai
gây ra. Tuy nhiên, do những sai lầm về đờng lối kinh tế nói chung và đờng lối
phát triển nông nghiệp nói riêng ở nớc ta trong giai đoạn 1976 - 1980, vai trò của
nông nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân không đợc đánh giá đúng mức.
Việc tập trung hoá cao độ ruộng đất và t liệu sản xuất, nóng vội xoá bỏ các thành
phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, quản lý theo mệnh lệnh từ trên xuống, phân
phối theo kiểu bình quân không kích thích đợc tinh thần lao động của xã viên,
cha xây dựng đợc một quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực
lợng sản xuất. Do đó đề ra bớc đi, tốc độ phát triển quá cao, tiến nhanh, tiến
mạnh lên chủ nghĩa xã hội trong khi điều kiện thực tế đất nớc cha cho phép. Biểu
hiện rõ trong nông nghiệp là việc đa ồ ạt quy mô hợp tác xã lên cấp xã trong khi
cấp thôn cha quản lý đợc. Cơ chế quản lý trong hợp tác xã nông nghiệp là tập
trung quan liêu bao cấp, hợp tác xã nắm trong tay mọi mặt từ ruộng đất, phân
bón, dụng cụ sản xuất, trâu bò... còn ngời nông dân không đợc làm chủ t liệu sản
xuất. Ngời lao động đợc giao nghĩa vụ ngày công, đi làm đợc tính bằng công điểm,

12


phân phối theo kết quả lao động, trong khi đó ý thức làm chủ tập thể kém. Những
điều trên đã dẫn tới hiện tợng "cha chung không ai khóc", "ăn thật làm giả", thiếu
trách nhiệm đối với công việc bảo quản t liệu sản xuất, rất nhiều tài sản của hợp
tác xã bị h hỏng, mất mát, bớt xén. Tình trạng làm dối làm ẩu, "rong công phóng
điểm" diễn ra tràn lan, lao động đi làm chỉ nhằm mục đích lấy công điểm không
quan tâm đến chất lợng công việc... Tình trạng ấy đã làm cho nền kinh tế nớc ta
đặc biệt là nông nghiệp giảm sút nghiêm trọng.
Thành phố Vinh cũng không năm ngoài tình trạng ấy, năm 1980, sản lợng

thâm canh vợt khoán. Đây chính là điểm khởi sắc về kinh tế của Thành phố Vinh
trong thời kỳ trớc đổi mới.
Bên cạnh cây Lúa, các loại cây lơng thực, cây công nghiệp khác cũng có bớc tăng trởng đáng kể, trong đó phải nói đến cây Lạc. Từ năm 1981 trở đi diện
tích cây Lạc phát triển nhanh chóng, từ 30 ha năm 1981 đã tăng lên 256 ha năm
1985. Với sự phát triển nhanh chóng của diện tích, năng suất cây Lạc cũng không
ngừng tăng lên từ 6,6 tạ/ha năm 1981 lên 13,0 tạ/ha năm 1984. Bên cạnh đó sản
lợng cây Lạc cũng có bớc phát triển từ 16 tấn năm 1981 lên 201 tấn năm 1985.
Ngoài ra các loại cây khác nh cây Khoai Lang, cây Ngô, các loại Rau cũng có
những bớc tiến bộ nhng cũng không đáng kể.
Trồng trọt ổn định đã thúc đẩy chăn nuôi phát triển. Ngành chăn nuôi
trong thời gian này cũng thực hiện theo cơ chế khoán nên đàn gia súc phát triển
theo hớng gia đình, đồng thời cũng tập trung vào chăn nuôi Lợn là chủ yếu. Chăn
nuôi theo hớng tập thể giảm sút nghiêm trọng, không mang lại hiệu quả kinh tế
nên từng bớc bị phá sản. Trong khi đó chăn nuôi ở hộ gia đình ngày càng có triển
vọng, mang lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao. Cụ thể là:
Bảng 2: Tình hình chăn nuôi của Thành phố Vinh trớc năm 1986.
Đơn vị tính: Con
Năm Tổng đàn Trâu Tổng đàn Bò Tổng đàn Lợn
Gia cầm
1.932
786
15.715
50.100
1981
1.800
824
17.155
53.600
1982
1.843

Lợn, từ 15.715 con năm 1981 tăng lên 18.635 con năm 1985 tăng 18%. Đàn
Trâu, Bò cũng có bớc phát triển do chính sách khoán tới hộ gia đình, do đợc sự
quan tâm của các hộ nuôi để sinh sản nhằm tận dụng sức kéo.
Những kết quả trên cho thấy, trên lĩnh vực nông nghiệp, Thành phố Vinh
đã thu đợc một số kết quả khả quan. Sự phát triển đó là những nỗ lực cố gắng của
bà con xã viên cũng nh Đảng bộ thành phố trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm
1981 - 1985. Tuy nhiên, trên địa bàn thành phố đời sống của ngời dân vẫn khổ
cực, có nhiều hộ dân ở Hng Lộc, Vinh Tân, Hng Hoà cha đủ ăn, nhiều hộ nông
dân phải thả ruộng đi chạy chợ, buôn bán, làm thuê khắp nơi....
* Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:
Sau chiến tranh cùng với không khí sôi động xây dựng lại thành phố, ngành
công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp sau những năm sơ tán để sản xuất và bảo đảm
lực lợng cũng bắt đầu trở về xây dựng lại cơ sở vật chất kỷ thuật để tiến hành sản
xuất. Từ năm 1976 cho đến trớc Đại hội đổi mới, cùng với sự khôi phục, phát triển
kinh tế - xã hội của thành phố, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cũng
từng bớc đợc khôi phục và phát triển. Trong 10 năm 1976 - 1985, ngành công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có thể đợc chia thành 3 giai đoạn phát triển.
Giai đoạn 1: từ năm 1976 - 1979. Trong giai đoạn này, ngành công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp phát triển sản xuất trong điều kiện đợc nhà nớc bao cấp.
Do đất nớc vừa thoát khỏi chiến tranh, t tởng con ngời hoàn toàn đợc giải phóng,
sản xuất xây dựng trong độc lập tự do đã kích thích ngời dân hăng say lao động.
Chính vì vậy giá trị tổng sản lợng của công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng
nhanh. Cụ thể: về công nghiệp:

16


Bảng 3: Giá trị tổng sản lợng công nghiệp của thành phố Vinh từ năm
1976 - 1979:
Đơn vị tính: 1000 đồng

tăng nhanh từ 11.936 năm 1976 đã tăng lên 25.593 năm 1979 (theo giá cố định năm
1972). Tỷ lệ tổng sản lợng hàng năm tăng từ 15% tới 30% trong đó tỷ trọng nhóm B
so với nhóm A tăng từ 55,5% (năm 1976) lên 68,4% năm 1979 [70, 66]. Điều này
phản ánh nhu cầu phát triển hàng tiêu dùng của thành phố ngày càng cao.
Về tỷ trọng tổng sản lợng các ngành thì có 4 ngành hàng phát triển nhanh
có giá trị tổng sản lợng lớn là cơ kim khí, vật liệu xây dựng, dệt da may và chế
biến lâm sản.
Tuy có bớc tăng trởng nh vậy, nhng ngành công nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp cũng còn một số vớng mắc. Do đợc nhà nớc bao cấp nên sản xuất ồ ạt bất
kể giá cả, các hợp tác xã cha tự mình hạch toán kinh doanh, cán bộ quản lý công
tác nghiệp vụ còn yếu, ngời lao động cha ý thức cao vai trò của mình, cha có quy
hoạch phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cho hợp lý... do vậy khi nhà
nớc xoá bỏ bao cấp có nhiều hợp tác xã đã tan rã.
Giai đoạn 2: từ năm 1980 - 1982, đây là giai đoạn công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp Thành phố Vinh phát triển sản xuất trong điều kiện bớc đầu xoá bỏ
một phần bao cấp. Trong giai đoạn này hoà chung với những khó khăn của cả nớc
nh sự biến động về giá cả, khó khăn gay gắt về năng lợng, vật t, nguyên liệu...
hơn nữa nhiều hợp tác xã không tự hạch toán kinh tế độc lập đợc khi nhà nớc xoá
bỏ bao cấp cho nên phong trào sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có
bớc thụt lùi đáng kể. Trong ba năm từ 1980 - 1982, giá trị tổng sản lợng từ
25.593 triệu đồng (1979) tụt xuống còn 17,5 triệu đồng năm 1982 tức giảm gần
30% so với năm cao nhất. Nhiều ngành hàng giảm sút nh kim khí, sứ, thuỷ tinh,
da, nhựa... Lao động trong hợp tác xã giảm xuống rất nhanh, nhiều cơ sở chỉ còn

17


từ 1/2 đến 1/3 lao động tiếp tục sản xuất, hầu hết bỏ hợp tác xã đi buôn bán, làm
ngoài nhất là trong các nghề nặng nhọc và độc hại. Sản xuất kinh doanh giảm sút
một đồng vốn cố định bỏ ra chỉ làm ra 1,5 đồng giá trị.

4.430
18.880
80,9
1984
26.600
5.500
21.100
78,9
1985
34.000
8.600
25.600
75,2
Nguồn: [125,74]
Nhìn vào bảng tên ta thấy, so với giai đoạn đợc nhà nớc bao cấp (1976 1979), thì giai đoạn này giá trị tổng sản lợng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
tăng đều và tăng nhanh hơn.
Về năng suất lao động, chất lợng và giá thành sản phẩm cũng có tiến bộ rõ
rệt. Các mặt hàng nh da, nhựa, sứ, thuỷ tinh, phụ tùng xe đạp có chất lợng tốt
hơn, năng suất đợc nâng lên rõ rệt. Bởi từ bao cấp bớc sang hạch toán kinh doanh
xã hội chủ nghĩa thì năng suất và giá thành là hai yếu tố sống còn của sản xuất,

18


đây cũng là những yếu tố mà Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân yêu cầu các hợp tác xã
đặt ra trong khoán sản phẩm. Bên cạnh những mặt hàng cũ, đã xuất hiện các mặt
hàng mới đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nh: bột nhẹ, chai nớc ngọt, potilen, vải giả
da, suốt giấy, khung dệt, máy xe cói, máy tuốt lúa, máy dập đinh, gạch ngói, phụ
tùng xe đạp, mộc dân dụng...
Do đạt đợc nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc khôi phục và phát triển

phố năm 1984 đạt 88.700.000 đồng bằng 172% so với kế hoạch và bằng 160% so
với năm 1983 [74, 48].
Quán triệt tinh thần các nghị quyết của Trung ơng, của tỉnh, của thành,
ngành thơng nghiệp - dịch vụ đã tập trung sản xuất phục vụ nông nghiệp. Các
loại dụng cụ nh cuốc xẻng, lỡi cày, quang gánh, các loại dao, bột thức ăn gia
súc... đợc sản xuất ngày một nhiều. Ngoài ra, các hợp tác xã mua bán còn phục
vụ các loại nguyên liệu, phụ liệu cho kinh tế gia đình, kinh tế đờng phố phát triển
nh: bột sản xuất miến dong, bột làm kem, cát sỏi, phế liệu phế phẩm...
Song song với nhiệm vụ sản xuất phục vụ nông nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, các cơ sở mua bán ở các phờng xã cũng tổ chức sản xuất cà muối, làm tơng, nấu nớc mắm, làm đá lạnh, nung vôi, nuôi cá, làm xà phòng... để phục vụ
cho nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của ngời dân thành phố.
Bên cạnh những mặt hàng trên, ngành thơng nghiệp và dịch vụ của Thành
phố Vinh còn kinh doanh các mặt hàng tơi sống, thực phẩm phục vụ cho nhu cầu
đời sống của nhân dân thành phố nh: hoa quả củ, hành củ, miến dong, rợu chai,
mỳ chính, bát đĩa sứ, thịt trâu, thịt bò, thịt lợn, dầu hoả, vải, quần áo may sẵn, ni
lông...
Hoạt động của ngành ngân hàng ngày càng đợc củng cố. Huy động tiết
kiệm, mua công trái xây dựng Tổ Quốc đợc tiến hành thờng xuyên. Năm 1985,
thực hiện Nghị quyết VIII của Trung ơng và Nghị quyết 28 của Bộ chính Trị,
Tỉnh uỷ, Thành uỷ đã có chủ trơng, biện pháp khẩn trơng thực hiện ba việc lớn đó
là đổi tiền, thực hiện hệ thống giá mới và hệ thống lơng mới một cách chặt chẽ và
nghiêm túc.
* Giao thông vận tải và xây dựng cơ bản.
Giao thông vận tải và xây dựng cơ bản đợc Tỉnh uỷ, Thành uỷ hết sức quan
tâm. Trong xây dựng cơ bản, tổng số vốn đầu t không ngừng tăng lên từ 35,4
triệu năm 1980 lên 66,7 triệu năm 1983 và 105 triệu năm 1985. Thành phố đã
đầu t vốn, hàng ngàn ngày công để xây dựng các công trình thuỷ lợi, các công
trình phúc lợi nh nhà trẻ, bệnh viện... Cụ thể trong 5 năm từ 1981 - 1985 thành
phố đã huy động 1,3 triệu ngày công trong đó làm thuỷ lợi là 431.000 ngày,
nhiều trục đờng cầu cống đợc tu sửa và làm mới.

xí nghiệp, công ty và t nhân đều đầu cơ và hởng chênh lệch giá, ngời tiêu dùng
phải chịu nhiều phiền hà tiêu cực. Cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp, bao giá qua
xuất khẩu và phân phối tem phiếu làm cho chế độ hạch toán không chính xác. Vốn
cho vay của ngân hàng luôn luôn không đáp ứng đợc yêu cầu vay vốn của ngời
dân để mở mang sản xuất, tiền mặt cha đợc quản lý chặt chẽ.

21


Hệ thống dịch vụ vật t phục vụ nông nghiệp còn yếu kém, không đủ các
chủng loại thiết yếu. Trong khi chính sách khoán mới phần nào khuyến khích đợc
sản xuất thì hệ thống dịch vụ lại không có sự thay đổi kịp cho phù hợp nên đã
ảnh hởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất.
Công tác giao thông vận tải và xây dựng cơ bản của một số công trình thi
công kéo dài, chậm phát huy tác dụng và còn lãng phí. Công trình cần kíp thì cha
đợc thực hiện, các công trình cha thực sự cần thiết lại đợc chú trọng. Năng lực
vận tải còn thấp hơn nhiều so với yêu cầu vận chuyển của hàng hoá vật t, chất lợng các trục đờng, cầu cống phục vụ cho giao thông còn kém.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là: thời tiết diễn biến phức tạp, cơ cấu
kinh tế của Thành phố Vinh còn cha hợp lý. Việc ứng dụng khoa học kỷ thuật vào
sản xuất còn hạn chế. Việc ứng dụng máy móc vào sản xuất nông nghiệp cha đợc
chú trọng. Ngành công nghiệp chủ yếu là gia công, phụ thuộc vào nguyên liệu và
năng lợng bên ngoài, nguyên liệu địa phơng cha có gì đáng kể.
Do các cấp uỷ quán triệt đờng lối chủ trơng chính sách của Đảng cha thực
sự sâu sát, phong cách lãnh đạo các cấp uỷ còn chung chung, thiếu sâu sát, cha
tập trung sức khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Việc tổ chức thực
hiện của các cấp chính quyền cha kịp thời, nhiều việc giải quyết cha triệt để,
thiếu kiên quyết. Việc động viên quần chúng phát huy quyền làm chủ tập thể, tổ
chức đời sống, sản xuất cho nhân dân còn nhiều hạn chế...
Do Chỉ thị 100 CT/TW đến đây đã bộc lộ những hạn chế, lỗi thời, những
nguyên tắc nêu trong Chỉ thị 100 còn cứng nhắc, cơ chế quản lý về cơ bản là cơ

....
....
25.300
21.300
4.000
1981
18
500
907
28.505
24.574
3.431
1982
19
713
959
28.511
25.140
3.371
1983
19
723
1.076
30.841
27.350
3.491
1984
21
741
1.205

23


* Văn hoá - Thể dục thể thao.
Công tác văn hoá văn nghệ quần chúng, thông tin đại chúng, thể dục thể
thao cũng đợc tăng cờng. Các đội thông tin tuyên truyền, đội văn nghệ nghiệp d,
rạp chiếu bóng, bãi chiếu bóng đợc chú ý phát triển để phục vụ đời sống tinh thần
cho nhân dân. Nhờ vậy, trong thành phố có nhiều gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá.
Công tác an ninh chính trị đợc giữ vững, quốc phòng đợc củng cố và tăng
cờng. Các lực lợng vũ trang nhân dân, dân quân tự vệ, lực lợng chính trị động
viên thờng xuyên đợc cũng cố và phát triển. Luật nghĩa vụ quân sự đợc thực hiện
tốt, số lợng và chất lợng tuyển quân hằng năm đều đợc đảm bảo. Tuy nhiên, đây
cũng là thời kỳ trên địa bàn thành phố diễn ra nhiều tệ nạn nh cớp giật, lừa đảo,
móc túi... nhất là ở các ga tàu, bến xe, "tam giá quỷ"... Cho nên để ổn định tình
hình, đem lại đời sống an toàn hơn cho ngời dân, yêu cầu phải có một cơ chế
chính sách mới.
Tuy đạt đợc thành tựu nh vậy nhng trong xã hội vẫn còn tồn tại nhiều hạn
chế, vớng mắc:
Nhìn chung tình hình xã hội vẫn còn tồn tại nhiều mặt yếu kém, đời sống
vật chất còn thấp, số hộ nghèo vần chiếm tỷ lệ khá cao. Nhiều hộ dân trong các
phờng xã cha đợc dùng điện, số nhà tranh tre nứa lá vẫn còn nhiều.
Do điều kiện khó khăn nên tình trạng bỏ lớp, bỏ trờng vẫn còn phổ biến.
Số học sinh học trung học cơ sở nhiều nhng số lợng đó lên học ở trung học phổ
thông rất thấp. Nhiều giáo viên do cuộc sống khó khăn nên không chú trọng đến
chất lợng đào tạo... vì thế chất lợng giáo dục trong thời kỳ này còn có những mặt
yếu kém.
Do trang thiết bị lạc hậu, cũ kĩ cho nên ngành y tế cũng còn nhiều bất cập.
Thuốc không đủ phục vụ cho nhân dân, trình độ cán bộ của các cơ sở y tế còn
nhiều hạn chế, phong cách phục vụ quan liêu gây nhiều khó khăn cho ngời bệnh..
Bệnh viện, các cơ sở y tế chỉ điều trị đợc các bệnh thông thờng, các ca bệnh nặng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status