Sự chuyển biến kinh tế - xã hội của thị trấn Lang Chánh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1996 – 2008) - Pdf 26

Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu lịch sử địa phương là một việc làm quan trọng để từ đó hiểu
rõ hơn về lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương.Trong đó mảng đề tài về kinh tế
xã hội địa phương đang được nhiều người chú ý, bởi qua kinh tế xã hội địa
phương ta sẽ thấy được sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong một
giai đoạn nhất định.
Năm 1986 Đảng ta đã đưa ra chủ trương đổi mới đất nước.Cũng từ đó
nước ta thu được nhiều thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh tế - xã
hội.Sau mười năm tiến hành sự nghiệp đổi mới Việt Nam không những
thoát khỏi cuộc khủng hoảng sâu sắc vào cuối thập niên 70 đầu thập niên 80
của thế kỷ trước mà còn vươn lên bắt kịp nhịp phát triển sôi động của nền
kinh tế - khu vực và thế giới.Quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp với
cơ chế thị trường xó hụị chủ nghĩa, nền kinh tế nhiều thành phần hình thành
phát triển đồng bộ và đạt kết quả mới, niềm tin của nhân dân vào sự tất
thắng của chủ nghĩa xã hội được củng cố.
Nhằm tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên, tháng 6 – 1996, Đảng
ta tiến hành đại hội lần thứ VIII, đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, giải
pháp đưa sự nghiệp đổi mới đi vào chiều sâu – công nghiệp hoá - hiện đại hoỏ
vỡ mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”.Chớnh sỏch đổi mới của Đảng đã tác động sâu sắc đến sự phát triển
kinh tế - xã hội của nhiều địa phương trong cả nước, Huyện Lang Chánh nói
chung cũng như thị trấn Lang Chánh nói riêng là một trong những địa phương
thực hiện tốt đường lối “Công nghiệp hoá, hiện đại hoỏ” của Đảng.
Thị trấn Lang Chánh là thị trấn miền núi vùng cao nằm ở phía Tây, Tây
Bắc Thanh hoá, được thiên nhiên ban tặng về tài nguyên thiên nhiên phong
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội

thị trấn truyền thống tốt đẹp của quê hương thị trấn Lang Chánh. Đồng thời
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
2
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

góp một phần thiết thực phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu lịch sử
địa phương ở nhà trường phổ thông của bản thân sau này.
Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Sự chuyển
biến kinh tế - xã hội của thị trấn Lang Chánh trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá (1996 – 2008)” để làm đề tài tốt nghiệp đại học, đồng
thời đóng góp một phần công sức của mình vào việc nghiên cứu, đánh giá
những kết quả đạt được trong công cuộc đổi mới của thị trấn Lang Chánh.
2. Lịch sử vấn đề
Đổi mới là một chủ trương hết sức quan trọng đối với đất nước, chủ
trương đú đó tác động sâu rộng đến từng ngành, từng địa phương trong cả
nước.Quỏ trỡnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước tức là tiếp tục
thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước.Chớnh vì vậy đã có nhiều công
trình nghiên cứu về công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước.
Nhưng nghiên cứu về quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thị
trấn Lang Chánh còn là vấn đề tương đối mới mẻ, chưa thu hút được sự
quan tâm nghiên cứu đặc biệt.Cho đến nay, chúng tôi đã tiếp cận được một
số khía cạnh của vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung trong cả
nước và thị trấn Lang chánh nói riêng.
- Trong cuốn “Lịch sử Việt Nam từ năm 1975 đến nay” do PGS.TS Trần
Bá Đệ biên soạn (NXB Đại học quốc gia Hà Nội năm 1998) đã nêu lên nhiều
thành tựu, tiến bộ, hạn chế của đất nước khi tiến hành công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
- Trong cuốn “Đảng bộ và phong trào cách mạng Lang Chánh (1945 –

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài.
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu sự chuyển biến
kinh tế - xã hội của thị trấn Lang Chánh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá từ 1996 đến 2008
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình kinh tế - xã
hội của thị trấn Lang Chánh từ năm 1996 – 2008
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
4
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

Về mặt không gian: Địa bàn mà khoá luận tìm hiểu là thị trấn Lang
Chánh - huyện Lang Chánh - tỉnh Thanh Hoá.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu.
Để hoàn thành khoá luận này chúng tôi đã tiến hành sưu tầm, tích luỹ
nhiều nguồn tư liệu:
- Tài liệu lưu trữ của tỉnh, huyện, thị trấn: Đó là những báo cáo hàng
quý, hàng năm; Các nghị quyết, văn bản, các chỉ thị tỉnh uỷ, của uỷ ban
nhân dân huyện Lang Chánh, uỷ ban nhân dân thị trấn Lang Chỏnh, cỏc
phũng ban trong huyện và thị trấn Lang Chỏnh: phũng thống kê, phòng nông
nghiệp, và tiểu thủ công nghiệp, phòng địa chớnh…
- Các văn kiện Đảng: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VI,VII,VIII,XIX; Các văn kiện Hội nghị trung ương và các tài liệu khác
lien quan đến nội dung khoá luận tìm hiểu.
- Các sách báo của Trung ương tỉnh Thanh Hoỏ: Bỏo Thanh Hoỏ cú đưa
tin về chủ trương, chính sách cũng như tình hình kinh tế huyện Lang Chánh nói

bài học lịch sử.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần ở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. Nội
dung chính của khóa luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát vài nét về mảnh đất và cọn người thị trấn Lang
Chánh
Chương 2: Những chuyển biến kinh tế của thị trấn Lang Chánh trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1996 – 2008)
Chương 3: Những chuyển biến xã hội của thị trấn Lang Chánh trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1996 – 2008)
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
6
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VÀI NÉT VỀ MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI
THỊ TRẤN LANG CHÁNH
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên thị trấn Lang Chánh
1.1.1 Vị trí địa lý
Thị trấn Lang Chánh là trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của một
huyện vùng núi cao - Huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoỏ.Nằm ở phía Tây
– Tây Bắc tỉnh Thanh Hoá, có toạ độ địa lý: từ 20
0
00

13
’’

Con đường chính trong thị trấn là đoạn nối từ quốc lộ 15A thẳng lên
trung tâm thị trấn đến ngã 4 đi xó Tõn Phỳc, xó Quang Hiến, xã Đồng
Lương.Thị trấn không có giao thông đường thuỷ và đường sắt.Toàn bộ hệ
thống đường bộ thị trấn đã rải đường nhựa tạo điều kiện thuận cho việc vận
chuyển hàng hoá và sinh hoạt của người dân thị trấn.
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
7
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

Với vị trí địa lý như vậy ta có thể thấy rằng mặc dù là một thị trấn
miền núi, xa các trung tâm phát triển của đất nước, nhưng thị trấn Lang
Chỏnh cú tiềm năng phát triển kinh tế mạnh mẽ trong tương lai.
1.1.2 Địa hình, đất đai, sông ngòi
Thị trấn Lang Chánh trước kia là vùng rừng núi với những khu rừng
tự nhiên bao quanh.Nhưng với quá trình phát triển, sự thay đổi của môi
trường tự nhiên cùng những tác động của con người, diện tích rừng của thị
trấn giảm mạnh, thay vào đó là những khu nhà mọc lên san sát, những khu
đồi cây ăn quả, cây trồng khác và là địa bàn cư trú của dân cư.
* Địa hình
Thị Trấn Lang Chánh nhìn từ xa như một lòng chảo, có đồi núi bao
quanh. Đặc điểm nổi bật của địa hình thị trấn là thấp và lồi lõm. Độ cao trung
bình từ 400 – 500m, thuộc vùng trung nhất của huyện, so với cỏc xó trong
huyện, thị trấn thuận lợi nhất cho việc sản xuất cũng như phát triển kinh tế.
* Đất đai
Đất đai gieo trồng được hình thành, phát triển trờn cỏc núi đá mẹ khác
nhau (phiến thạch, sét, sa thạch, phiến sa, phi lớch…) do vậy chất đất ở các
khu vực cũng có phần khác nhau.Hiện nay thị trấn Lang Chỏnh cú 226,6 ha
diện tích tự nhiên trong đó được phân loại như sau:

màu và các loại cây trồng lương thực khỏc.Những loại cây trồng phù hợp
với các đất của thị trấn:
- Đất vườn, phù hợp các loại cây như: cây chuối, cây dừa. cây bưởi,
cây cam, cây chanh, cây xoài, cõy mớt…
- Đất ruộng phù hợp với cây lúa, cây ngô, khoai lang.Cõy rau màu vụ
đông bao gồm: cải bắp, xu hào, xúp lơ, xà lách, cải củ, cải bẹ, cải cỳc.Cõy
rau màu vụ hè phù hợp với: đu đủ, rau ngót, rau đay, bầu, mướp, xu xu, bí
Tổng diện tích đất nông nghiệp là 63,4 ha, trong đó:
- Diện tích đất trồng lúa là 25 ha:
- Diện tích đất ruộng trồng màu: 5,4 ha
- Đất trồng cây hàng năm: 7 ha
- Đất vườn tạp : 6 ha
- Đất trồng cây lâu năm : 7 ha
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
9
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

- Đất có mặt nước nuôi thuỷ sản: 13 ha
(số liệu tính đến tháng 6 năm 2007 theo báo cáo tổng kết UBND thị trấn).
Đồng ruộng là những thũng lũng cấy lúa nhỏ hẹp được khai phá từ
ngàn đời nay của đồng bào các dân tộc huyện Lang Chánh. Thị trấn có diện
tích nương rẫy khá lớn nằm rãi rỏc trờn cỏc đồi núi thấp.Việc đốt phá nương
rẫy là một trong những nguyên nhân khiến rừng thị trấn bị thu hẹp.
1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn
Thị trấn Lang Chánh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do
điều kiện tự nhiên chi phối nên hình thành hai mùa khí hậu rừ rệt.Mựa mưa
từ tháng 4 đến tháng 9, còn lại là mựa khụ.Nhiều năm khô hạn, thuỷ văn ở
một số khu vực biến đổi thất thường.Nhiệt độ cao nhất là 38

1.2. Khái quát về lịch sử, văn hoá – xã hội.
1.2.1 Lịch sử hình thành.
Trải qua biến cố của lịch sử, địa giới hành chính Châu Lang Chánh
luôn luôn thay đổi.Thời thuộc Hán là phần đất thuộc huyện Đô Lung (Cát
Lung) sau này ghép vào huyện Vụ Biờn.Thời Tam Quốc cho đến nhà Tuỳ
(Trung Quốc) thuộc huyện Do Phong.Thời nhà Đường thuộc huyện Trường
Lõm.Thời Trần - Hồ gọi vùng này là “Mường Một” thuộc huyện Nga Lạc,
Châu Ái.Thời Lê Quang Thuận năm thứ 10 (1469) đặt tên là châu Lang
Chánh, gồm 14 động và thôn. Đến thời Tây Sơn đổi thành châu Lương
chính. Đến thời Minh Mệnh ghép huyện Thọ Xuân với châu Lang Chánh và
lấy lại tên cũ là châu Lang Chánh thuộc phủ Thanh Đô.
Năm 1829 nhà Nguyễn quyết định lập châu Quan Hoá bao gồm châu
Quan Gia, châu Tằm (thuộc vùng đất các huyện Quan Hoá, Quan Sơn,
Mường Lát) cắt một phần đất Lang Chánh và một phần đất Nông Cống lập
châu Thường Xuõn, tỏch chõu Lang Chánh ra khỏi phủ Thanh Đô lập châu
lỵ tại Ninh Lương (nay thuộc xã Quang Hiến).
Năm 1834, vua Minh Mệnh đổi động và thôn thành xã và đặt thêm
tổng, đồng thời xuống dụ, đặt các thổ ty, lang đạo dưới quyền kiểm soát của
Chánh Tổng.Thực chất của chính sách này là do triều đình phong kiến nhà
Nguyễn muốn hợp pháp hoá vai trò cai trị của thổ ty, lang đạo để phục vụ
chính quyền phong kiến cỏc cấp.Chõu Lang Chánh được chia thành 4 tổng,
8 mường, hai xã.
Sau cách mạng tháng 8 thành công (1945) châu Lang Chánh đổi
thành huyện Lang Chánh, bỏ Tổng, Mường lập xó, thụn bản và vẫn lấy Ninh
Lương thuộc xã Quang Hiến làm huyện lỵ. Đến năm 1954, huyện Lang
Chỏnh cú 6 xó: Yờn Khương, Quyết Thắng, Lê Lai, Giao An, Tõn Phỳc,
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
11
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị

Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
12
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

con Kỳ Tín đặt tên là Làng Lưỡi.Trước năm 1991 khi thị trấn chưa thành lập
là một làng của xã Đồng Lương.Thỏng 4- 1991, thị trấn thành lập được đặt
lại là Bản Lưỡi bao gồm 66 hộ và 332 nhân khẩu.Trong đó dân tộc Thái là 5
người; dân tộc Kinh: 14 người; dân tộc Mường: 314 người.Người Mường
sống ở đõy lõu nhất.
Phố I được chia thành: Tổ 1, tổ 2, tổ 3 được hình thành từ tháng
4/1991.Nguồn gốc là một số hộ thuộc phố Vinh Quang trước đây tách ra và
một bộ phận dân cư thuộc xã Quang Hiến quản lý.Bao gồm 1517 nhân khẩu,
trong đó dân tộc Mường: 261 người; dân tộc kinh:1181 người; dân tộc Thái:
75.Người kinh ở đây lâu nhất.
Sự phát triển của thị trấn cũng như yêu cầu về một trung tâm kinh tế -
xã hội của một huyện, năm 2006 thị trấn xáp nhập thêm Bản Trải được tách
ra từ làng Chiềng Trại thuộc địa phận quản lý của xã Quang Hiến.Thỏng 11
năm 2006 chính thức trở thành địa phận của thị trấn Lang Chánh với 229 hộ
và 1232 nhân khẩu.Trong đó kinh:252 người; Mường: 894 người ; Thái: 86
người.Người Mường chiếm số đông ở đây và là dân sống ở đõy lõu nhất.
Như vậy, thị trấn Lang Chánh là một thị trấn vừa được thành lập từ
nhu cầu thiết lập một trung tõm hành chớnh của khu vực.Sau khi thành lập,
thị trấn có những nhiều biến đổi về tất cả các mặt kinh tế - xã hội, từ đó thị
trấn Lang Chánh không chỉ là trung tõm hành chớnh mà trở thành trung tõm
kinh tế - xã hội- văn hoá, là trung tõm huyện lỵ Lang Chánh.
1.2.2 Văn hoá – xã hội
* Dân cư và nguồn lao động
Hiện nay thị trấn Lang Chánh gồm 9 phố bản với 1235 hộ và 4329

năm gần đõy.Từ năm 1997 đến năm 2008 dân số tăng 1430 người trong
vòng 11 năm, tăng gần 1,5 lần.Tức là bình quân hàng năm tăng 130 người.
Điều đó cho thấy sự thu hút dân cư về thị trấn Lang Chánh đang diễn ra
mạnh mẽ.
Thị trấn là mái nhà chung của 3 dân tộc: Thái, Mường, Kinh từ ngàn
đời nay đã chung lưng đấu cật, đoàn kết gắn bó lao động sản xuất và chiến
đấu, xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước.Trong đó:
- Dân tộc Mường chiếm 30,2%
- Dân tộc Thái chiếm 7,05%
- Dân tộc kinh chiếm 62,43%
(số liệu này được tính đến tháng 6 năm 2008)
Người Kinh chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân số thị trấn (62,43%) là một
thuận lợi cho sự phát triển của thị trấn Lang Chỏnh.Việc đưa khoa học kỹ
thuật vào đời sống và sản xuất của địa phương được nhanh chóng hơn.Mặt
khác dân số thị trấn trẻ, với lực lượng lao động hùng hậu như vậy là một điều
kiện tốt cho sự phát triển của thị trấn hơn cỏc xó khỏc.Tuy nhiờn chính điều
này dẫn đến sự chênh lệch về kinh tế cũng như trình độ văn hóa giữa người
Kinh và dân tộc khác, cũng như của thị trấn với cỏc xó trong huyện.
Dân tộc mường với sử thi “đẻ đất đẻ nước” được lưu truyền qua nhiều
thế hệ, với cỏc khỳc dân ca Xướng, với lễ tục Pũụn Pụụng – hỏt mỳa quây
quanh cây hoa, ước mong cuộc sống yên lành với tiếng trống, tiếng kèn và sỏo
ụi âm vang sâu thẳm.Hội “Xéc bựa” với dàn cồng chiêng do các cô gái mường
biểu diễn…
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
15
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

Dân tộc thái với tiếng nói, chữ viết, trang phục và những khúc dân ca

Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

hoạch.Trồng trọt giai đoạn này chủ yếu là độc canh.Tổng thu nhập cõy công
nghiệp khoảng 120 triệu.
Về Chăn nuôi, tổng đàn Trâu hiện có là 157 con=103% kế hoạch;
Tổng đàn Bò hiện có: 78 con = 100% kế hoạch; Tổng đàn lợn là 1450
con.Tổng sản lượng thịt lợn hơi là 115 tấn đạt 104 %. Giai đoạn này tình
trạng chăn nuôi gia súc ở dưới gầm nhà Sàn của người dõn cũn phổ biến
nhiều. Điều này không chỉ gõy ô nhiễm môi trường sinh hoạt mà cũn làm
giảm năng suất chăn nuôi của người dõn địa phương.
Thời kỳ này về ngư nghiệp chủ yếu là thả cá ở sông, suối.Ao hồ ở thị
trấn rất ít vì vậy nghề nuôi cá lồng chưa phát triển.
* Về Lâm Nghiệp
Thị trấn Lang Chánh là một thị trấn miền núi nên lâm nghiệp là một
thế mạnh để phát triển kinh tế thị trấn.Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huỵện
cũng như UBND thị trấn, cùng với sự phối hợp chặt chẽ của hai Lâm trường
đúng trờn địa bàn thị trấn là Lâm trường quốc doanh Bù Rinh và Lâm
trường Luồng, cùng với sự tham gia tích cực của nhân dân thị trấn đã tập
trung vốn, nguồn lực, khoa học kỹ thuật vào việc khôi phục và phát triển
rừng theo nghị quyết của trung ương, của tỉnh. Tổng diện tích đất Lâm
nghiệp năm 1995 là 61,4ha. UBND thị trấn đã lập chính sách giao đất cho
41 hộ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp lâu dài theo quyết
định 02 của chớnh phủ.Cả năm khai thác được 20 triệu đồng.Nhưng khuyết
điểm lớn của giai đoạn này là nạn phá rừng đang còn nhiều tại thị trấn, cùng
với đó là chưa nhận thức đúng đắn đến kinh tế nông – lâm nghiệp của thị
trấn là một tổng thể, lại xem nhẹ việc sản xuất kinh doanh nghề rừng và
chăn nuôi, chưa thực hiện nông – lâm kết hợp chặt chẽ…Vỡ vậy kết quả lâm
nghiệp đạt được còn thấp so với tiềm năng vốn có của thị trấn.
* Tiểu thủ công nghiệp.

thuận lợi cho phát triển thương nghiệp của thị trấn. Nhưng hàng hoá ở giai
đoạn này còn khan hiếm mới chỉ cung cấp những mặt hàng thiết yếu nhất
cho đời sống của nhõn dõn địa phương.
Chợ Lang Chánh nằm trên địa bàn thị trấn nhưng chưa đươc quy hoạch.
Đến năm 1995 chợ vẫn là hai dãy nhà tranh, mặt hàng bán trong chợ không
phong phú và đa dạng. Sự giao lưu buụn bán của thị trấn với các xã lân cận là
chủ yếu.Giai đoạn này chủ yếu là trao đổi lương thưc- thực phẩm.
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
18
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

Tóm lại, hoạt động phát triển kinh tế của thị trấn trong giai đoạn này đạt
được những kết quả đáng phấn khởi.Ngành nghề phát triển thu hút được phần
lớn lao động có công ăn việc làm ổn định.Năng suất cõy trồng, chăn nuôi tăng.
Một số hộ nhõn dõn đã từng bước đi vào chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, từ đó
dẫn đến sự thay đổi trong lĩnh vực văn hoá – giáo dục.
1.3.2 Văn hoá – giáo dục
Tháng 4 năm 1996 Thị trấn Lang Chánh được thành lập và trở thành
trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội của huyện Lang Chánh. Là nơi đặt trụ
sở của các cơ quan đầu ngành trong huyện như: UBND Huyện, Nhà văn
hoá, Kho bạc Nhà Nước, Công an huyện, Trung tâm y tế huyện,…Chớnh vì
vậy tình hình văn hoá – giáo dục của thị trấn phát triển nhất so với cỏc xó
trong huyện.
Về giáo dục, trên địa bàn thị trấn là nơi đặt nền móng đầu tiên cho sự
nghiệp giáo dục của toàn huyện. Trong giai đoạn này trên địa bàn thị trấn có 5
trường: trường mầm non thị trấn, trường tiểu học thị trấn, trường THCS thị
trấn, trường phổ thông cấp 2-3, trường bổ túc văn hoá.
Trường mầm non đầu tiên của huyện được ra đời tại phố I thị trấn Lang

thiết bị chưa đầy đủ cho nên việc thu nhận bệnh nhân tại trạm chưa làm được,
chưa thu hút được nhân dân thị trấn đến khám bệnh.Trạm xá lúc này chỉ là hai
gian nhà cấp 4 với 3 cán bộ y tế.Tổng số lượt khám - chữa bệnh năm 1995 là
766 lượt người trong đú có 131 lượt người chữa bệnh sốt rột.Khỏm bứu cổ:
370 người, cấp phát thuốc điều trị bệnh 122 người. Khám phụ khoa 54 người,
đặt vòng 8 người, khám thai 7 người, cấp bao cao su 8 người.
Công tác dõn số kế hoạch hóa thị trấn giai đoạn này chưa phát
triển.Tỷ lệ sinh thô: 22,4%, tỷ lệ sinh tự nhiên 2%,sinh con thứ ba trở lên
chiếm 12,5%.
Về đời sống nhân dân mặc dù cao hơn cỏc xó trong huyện nhưng chỉ
mới dừng lại ở nhu cầu đủ ăn, đủ mặc. Nhà văn hoá huyện được xõy dựng
nhưng chưa thực hiện rừ vai trò của mình trong đời sống văn hoá của người
dõn thị trấn.51% gia đình trong thị trấn đã có tivi và 69% có điện thắp sáng.
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
20
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

Về cơ sở hạ tầng: Cho đến năm 1995 thị trấn Lang Chánh cơ sở hạ
tầng cũn kém, chưa có cơ sở hạ tầng đô thị. Chỉ có 2/3 hệ thống đường thị
trấn được rải nhựa.
* Tiểu kết chương 1
Điều kiện tự nhiên của thị trấn Lang Chánh như: vị trí địa lý, khí hậu,
thuỷ văn, địa hình, đất đai thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội. Trong
đó phát triển nông – lâm nghiệp kết hợp là thế mạnh của địa phương. Thương
nghiệp dịch vụ và thủ công nghiệp là những ngành có điều kiện phát triển
thuận lợi nhất.Thị trấn Lang Chánh là địa bàn thuận lợi nhất trong huyện đối
với việc giao lưu kinh tế với các vùng lân cận. Nhưng điều kiện, thế mạnh
không chỉ tạo tiền đề vững chắc cho nền kinh tế phát triển mà nếu được phát

Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

Chương 2
NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ KINH TẾ CỦA THỊ TRẤN LANG
CHÁNH TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ (1996 – 2008)
2.1 Chủ trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xá hội của
Đảng, nhà nước trong thời kỳ 1996 – 2008:
2.1.1. Quan điểm chung
Trong giai đoạn này tình hình quốc tế có nhiều biến động đã ảnh
hưởng đến công cuộc đổi mới của nước ta.
Cuộc cách mạng khoa học kỷ thuật công nghệ đã thúc đẩy nền kinh tế
thế giới phát triển nhanh chúng.Quốc tế hoá, đa phương hoá đang trở thành
xu thế mạnh mẽ tác động đến các mặt của xã hội loài người. Sự hợp tác
quốc tế ngày càng tăng.Việc Việt Nam gia nhập “Hiệp Hội Các Nước Đông
Nam Á” (ASEAN), bình thường hoá quan hệ với Mỹ là điều kiện tốt để
chúng ta phát triển kinh tế - xã hội, nhưng cũng đặt nước ta trước những
thách thức, khó khăn mới.
Nhằm tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên, tháng 6 năm 1996
Đảng ta tiến hành Đại hội lần thứ VIII đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục
tiêu, giải pháp đưa sự nghiệp đổi mới của nước ta đi vào chiều sâu – Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với những tiến bộ khoa học và công nghệ
tiờn tiến.Vỡ vậy khoa học công nghệ trở thành nền tảng của công nghiệp
hoá, hiện đại hoỏ.Mục tiờu của công nghiệp hoá, hiện đại hóa là xây dựng
nước ta trở thành một nước công nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại,
cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, quốc phòng an ninh vững
chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng
thành công chủ nghĩa xó hụị.
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

trờn toàn tỉnh. Đại hội khẳng định việc tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới,
tăng tốc độ phát triển, phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu trên tất cả các lĩnh vực,
phát huy nội lực, khai thác các nguồn lực, đặc biệt là nhân lực, ưu tiên phát
Líp: K55A - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
24
Khóa luận tốt nghiệp Lê Thị
Huyền

triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế có tiềm năng lợi thế đáp ứng nhu cầu thị
trường.Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và bền vững.Nõng cao hiệu quả và
sức cạnh tranh, tích cực hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.Tăng trưởng
kinh tế phải gắn liền với phát triển và giải quyết tốt các vấn đề xã hội chủ
nghió, nâng cao đời sống của nhân dân, từng bước thực hiện công bằng xó
hụị.Kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng- an ninh, giữ vững ổn định
chớnh trị.Xõy dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh. Đảng
và nhà nước ta đã kịp thời phân tích những biến đổi của tình hình trong nước
và quốc tế để đề ra những đường lối đúng đắn cho quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Đưa nền kinh tế nước ta phát triển đi lên, làm động lực
thúc đẩy xã hội ta tiến lên văn minh hiện đại
2.1.2 Chủ trương và biện pháp của thị trấn Lang Chánh trong việc vận
dựng đường lối của Đảng.
Quán triệt đường lối đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và nghị
quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Đảng bộ Lang chánh tiến hành tổ
chức đại hội Đảng bộ lần thứ XVIII (3/1996) đề ra phương hướng, mục tiêu
cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện.Công cuộc công nghiệp hoá, hiện
đại hoỏ trờn địa bàn Lang Chánh thực chất là công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp nụng thụn.Trong nông nghiệp bao gồm nông nghiệp và lâm
nghiệp, trong nông thôn bao gồm cả kinh tế, văn hoá, xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status