QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH CÀ MAU TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2007 - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

Ngô Đình Khiêm

QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN
KINH TẾ  XÃ HỘI CỦA TỈNH CÀ MAU
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2007

Chuyên ngành : Lịch Sử Việt Nam
Mã số : 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN CẢNH HUỆ
phương và lịch sử dân tộc.
Ngoài ra, lịch sử địa phương còn có tác dụng to lớn trong việc giáo dục tư tưởng đạo đức,
thẩm mỹ và ý thức lao động cho thế hệ trẻ - chủ nhân của xã hội trong tương lai - để đưa đất
nước sánh vai cùng bè bạn khắp năm ch
âu. Bởi lẽ, nguồn gốc của lòng yêu Tổ quốc bắt nguồn
từ tình yêu quê hương, xứ sở, nơi mình đã sinh ra và trưởng thành. Mặt khác, được học lịch sử
địa phương còn làm cho thế hệ trẻ thấy rõ ý nghĩa lịch sử tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa và
công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, tổ chức và lãnh đạo đang được
thực hiện và đem lại thà
nh tựu ở khắp mọi miền đất nước từ những địa phương cụ thể. Từ đó,
mỗi người càng thêm yêu quý quê hương, đất nước, tin tưởng vào tương lai của dân tộc, quê
hương mình.
Cà Mau, một tỉnh giàu đẹp ở cực nam Tổ quốc, trải qua hơn ba trăm năm
hình thành và
phát triển, với địa thế chiến lược, vai trò kinh tế và đặc thù văn hóa của mình đã làm phong phú
thêm và độc đáo hơn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc như trong quá trình khẩn
hoang về phương Nam của những cư dân người Việt vào thế kỷ XVI  XVII, trong quá trình
đấu tranh giành độc lập dân tộc, trong quá trình cùng cả nước xây dựng chế độ xã hội chủ
nghĩa…
Bước sang thế kỷ XXI, trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
Nam Bộ, trong đó có Cà Mau, đã được định hướng phát triển với những nhiệm vụ, mục ti
êu cụ
thể, phù hợp với thế mạnh và đặc thù của địa phương. Do đó, việc biên soạn lịch sử địa phương
tỉnh Cà Mau một cách khoa học để giáo dục lòng yêu quê hương trong thế hệ trẻ, trong cộng
đồng dân cư để động viên và cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân lao động, sáng tạo trong xây dựng và
bảo vệ đất nước là một công việc cần thiết.
Mười năm tuy ngắn ngủi đối với quá trình lịch sử của một địa phương, tuy nhiên đối với
Cà Mau, đó là thời kỳ có ý nghĩa quan trọng về sự nổ lực phát triển nội tại, về thời kỳ không
còn chế độ “
xin cho” từ Trung ương, về việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế, xã hội

tiềm năng, triển vọng, các chương trì
nh kêu gọi đầu tư và khẳng định những ưu thế về nhiều
lĩnh vực địa lý, kinh tế, văn hóa, lịch sử… của 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long trong đó có
Cà Mau.
Ngoài ra, vào năm 2001, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội có xuất bản cuốn Lịch
sử và địa lý Cà Mau, Tập 1 và Tập 2 do Thái Văn Long chủ biên. Nội dung giới thiệu về con
người, điều kiện tự nhiên, tiềm năng và quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân Cà Mau
trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.
Như vậy, cho đến nay, chưa có một công trì
nh nào đề cập một cách toàn diện, hệ thống
và cụ thể về quá trình chuyển biến kinh tế - xã hội của tỉnh Cà Mau từ năm 1997 đến năm 2007.
3. Các nguồn tài liệu nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi tham khảo và sử dụng những nguồn tài liệu chủ yếu
sau:
- Những Nghị quyết các kỳ Đại hội của Đảng bộ tỉnh Cà M
au.
- Những kế hoạch và báo cáo tổng kết hàng quý, hàng năm của UBND tỉnh Cà Mau.
- Số liệu của Cục Thống kê tỉnh Cà Mau.
- Những công trình nghiên cứu đề cập đến các lĩnh vực của tỉnh Cà Mau.
- Các trang Web có liên quan đến các mặt kinh tế, xã hội của tỉnh Cà Mau.
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: giới hạn trên địa bàn tỉnh Cà Mau.
- Về thời gian: từ năm 1997 đến năm 2007.
Sở dĩ chúng tôi lấy năm
1997 làm mốc mở đầu cho công trình nghiên cứu vì đây là năm
Cà Mau được tách ra thành lập một tỉnh riêng từ tỉnh Minh Hải (gồm Bạc Liêu và Cà Mau) theo
phê chuẩn ngày 6/11/1996 trong kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX, thực hiện từ ngày 1/1/1997.
Năm 2007 là mốc kết thúc của công trình nghiên cứu vì đây là năm kết thúc kế hoạch 10
năm quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau sau khi tái lập.
Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn quá trình chuyển biến kinh tế - xã

- Đồng thời, luận văn còn có t
hể dùng để làm phong phú thêm nguồn tài liệu tuyên truyền
trong quần chúng, động viên nhân dân thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đảng, Nhà nước
và của tỉnh nhà.
- Qua việc rút ra những bài học, những nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế,
luận văn còn có thể dùng làm
tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh nhà trong những giai đoạn cách mạng tiếp theo.
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT CÀ MAU TRƯỚC NĂM
1997

1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội tỉnh Cà Mau
Cà Mau là vùng đất trẻ mới được mở mang, khai khẩn cách đây trên 300 năm.
Trước đây, vùng đất này được hình thành bởi sự bồi đắp của hai dòng hải lưu ở biển
Đông và vịnh Thái Lan đón nhận phù sa sông Cửu Long. Trải qua hàng ngàn năm lắng đọng và
bồi đắp, vùng đất Cà Mau dần hình thành. Đến trước thế kỷ XVII, đây là vùng đất sình lầy, ẩm
thấp, hoang vu với rừng thiêng, nước độc, cá sấu, muỗi m
òng, rắn rết.
Từ đầu thế kỷ XVII, chiến tranh Nam - Bắc triều, Đàng Trong - Đàng Ngoài giữa hai tập
đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn khiến đời sống nhân dân vô cùng cơ cực. Họ vừa phải chịu
cảnh áp bức, bóc lột, vừa nơm nớp lo sợ phu phen, lao dịch và binh lửa, ly loạn. Nhiều người
dân nghèo ở Bắc Bộ và Trung Bộ, trong đó phần lớn là nông dân và thợ thủ công phải rời bỏ
quê cha, đất tổ tiến về phương Nam tìm
đường sinh sống.
Đến cuối thế kỷ XVII, một số người Hoa cũng tìm đến vùng đất này, điển hình là Mạc
Cửu - một di thần của nhà Minh bất phục triều đình Mãn Thanh, lưu trú tại Mang Khảm (Hà
Tiên) đã chiêu tập lưu dân sinh sống ở 7 xã dọc theo bờ biển đến cư trú và làm ăn sinh sống,

dựng thành một xã với tên gọi “xã” Cà Mau. Sau khi Mạc Cửu chết, con là Mạc Thiên Tứ chỉnh
đốn cơ nghiệp của cha và vâng lệnh triều đình nhà Nguyễn ra đèo Long Xuyên (ở vùng đất Cà

, đứng thứ hai so với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long,
sau tỉnh Kiên Giang. Đất đai Cà Mau màu mỡ, thích hợp với các loại cây lương thực, cây ăn
trái và nhiều loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế. Cơ cấu phân bố các loại đất khá hợp lý: đất
nông nghiệp chiếm 64,81%; đất lâm nghiệp: 23,32%; đất ở: 1,12% và đất chuyên dùng chiếm
3,63%. [19, tr.140]
Dân số tỉnh Cà Mau đến năm 2007 có 1.248.241 người. Cơ cấu dân số thành thị chiếm tỉ
trọng 20%
, nông thôn 80% và ít thay đổi. Về thành phần dân tộc, chủ yếu là người Kinh, dân
tộc thiểu số gồm người Hoa, Khmer, Tày, Chăm, Nùng, Mường… và một số dân tộc khác. Mật
độ dân số bình quân của tỉnh năm 2007 là 234 người/km
2
, thấp nhất vùng đồng bằng sông Cửu
Long (430 người/km
2
); bình quân ruộng đất trên 1 nhân khẩu, 1 lao động cao nhất vùng đồng
bằng sông Cửu Long. [19, tr.18,319]
Tổng số lao động năm 2007 có 669.876 người. Cơ cấu lao động trong độ tuổi theo ngành
nghề, chủ yếu vẫn là nông nghiệp và thủy sản. Trình độ học vấn và kỹ thuật nguồn nhân lực của
tỉnh Cà Mau tương đối thấp, chưa đạt mức bình quân cả nước. Theo số liệu điều tra ngày
01/7/2005 cho thấy trình độ lao động của tỉnh còn rất hạn chế; 73,4% mới có trình độ văn hóa
tiểu học, số lao động có trình độ trung học cơ sở ch
iếm 18% và trình độ trung học phổ thông
chiếm 8,6%. [35, tr.167-168].
Tuy vậy, tập quán, kinh nghiệm canh tác và kỹ năng nghề nghiệp của lao động Cà Mau
được tích lũy qua nhiều thế hệ thuộc loại khá cao so với các tỉnh khác, nhất là kỹ năng lao động
nghề trồng lúa, chăn nuôi và đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, hải sản.
Dưới sự áp bức, bóc lột của thực dân và địa chủ, người dân Cà Mau, hầu hết là bần cố
nông, phải sống một cuộc sống tăm tối, dốt nát, lao động đầu tắt mặt tối mà vẫn thiếu ăn, thiếu
mặc, dù sống trên ruộng đất trù phú, màu mỡ. Cho đến trước Cách mạng tháng Tám 1945, xã
hội nông thôn Cà Mau đã hình thành hai giai cấp đối lập chủ yếu là nông dân và địa chủ.

hệ sinh thái, đứng sau rừng Amazon. Biển Cà Mau về hải sản và hứa hẹn nhiều tiềm năng dầu
khí. Trong thời kỳ đổi mới, với sự kế thừa và sáng tạo không ngừng, Đảng bộ và nhân dân Cà
Mau tiếp tục viết nên những trang sử mới bằng chính những thành tích ấn tượng trong phát
triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng.
1.2. Truyền thống cách mạng của nhân dân Cà Mau
+ Phong trào đấu tranh của nhân dân Cà Mau trước khi có Đảng.
Cùng với tiếng súng chống Pháp của nhân dân cả nước, ngay từ năm 1861 nhân dân Cà
Mau đã tự vũ trang đứng lên chống quân xâm lược. Năm 1873, nhân dân vùng đất mũi Cà Mau
đã cùng anh em ông Đỗ Thừa Luông, Đỗ Thừa Tự đứng lên chống Pháp, ủng hộ và tham gia
nghĩa quân Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Hu
ân...
Những cuộc đấu tranh của nhân dân Cà Mau nổ ra từ những ngày đầu Pháp xâm lược và
kéo dài liên tiếp đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã thể hiện tinh thần yêu nước, lòng căm
thù giặc sâu sắc của nhân dân Cà Mau cùng cả nước trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm
và phong kiến.
+ Sự ra đời của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ở Cà Mau.

Tháng 1/1929, Chi hội Việt Nam cách mạng thanh niên thị trấn Cà Mau được thành lập
do ông Đào Hưng Long làm bí thư.
Chi hội mở một cửa hiệu bán sách báo lấy tên là “Hồng Anh thư quán”, một quán bán
cơm và cà phê “Đồng Tâm” vừa làm cơ sở để giáo dục, vận động nhân dân yêu nước, vừa là
nơi trao đổi, hội họp của chi hội. Hoạt động của chi hội ngày càng gây được ảnh hưởng rộng rãi
trong dân nghèo ở thị trấn và nhân dân ở các xã xung quanh.
+
Sự ra đời của Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Cà Mau.
Cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, tháng 1/1930, Chi bộ An Nam Cộng
sản đảng ở Cà Mau được thành lập do ông Lâm Thành Mậu làm bí thư.
Sau đó có nhiều chi bộ Đảng ra đời và hoạt động mạnh mẽ đã lãnh đạo nhân dân đấu
tranh sôi nổi. Để kịp thời lãnh đạo phong trào cách mạng trong tỉnh, ngày 26/10/1938 Tỉnh ủy
lâm thời đư

Bộ và liên tiếp giành được nhiều thắng lợi to lớn trên chiến trường.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, quân và dân Cà Mau đã tiêu diệt hơn 6.996 tên
địch, phá hủy và thu nhiều vũ khí. Những tấm gương hy sinh anh dũng cho công cuộc đấu tranh
cách mạng giải phóng quê hương như Phan Ngọc Hiển, Trần Văn Thời, Châu Văn Đặng,
Lương Thế Trân, Quách Văn Phẩm… đã mãi mãi l
àm rạng danh trang sử Cà Mau anh hùng.
+ Hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Sau năm 1954, Mỹ trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ, tiến hành xâm lược Việt
Nam. Cà Mau vẫn tiếp tục là căn cứ địa kiên cường của cách mạng. Nhiều đồng chí lãnh đạo
Đảng, Nhà nước như Lê Duẩn, Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt đã từng được nhân dân Cà Mau che
chở, nuôi giấu. Trong những ngày đầu chống Mỹ, Cà Mau, với sự kiện 200 ngày
chuẩn bị cho
ngày lên tàu tập kết ra Bắc và sự kiện xây dựng “Làng rừng” để chống lại kế hoạch gom dân,
đàn áp của chính quyền Ngô Đình Diệm đã trở thành những sự kiện điển hình của thời kỳ này.
Sau Đồng khởi năm 1960, quân dân Cà Mau đã vùng lên đánh địch, giành nhiều thắng
lợi quan trọng. Năm 1968 quân giải phóng Cà Mau đánh vào thị xã Cà Mau và giải phóng hoàn
toàn huyện Ngọc Hiển. Năm 1972, lực lượng cách mạng tiến công đồng loạt, bao vây 200 đồn
bốt giặc buộc chúng phải đầu hàng hoặc bị tiêu diệt. Cùng với chiến dịch mùa xuân 1975, 10
giờ ngày 1/5/1975 thị xã Cà Mau hoàn toàn giải phóng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân và dân Cà Mau đã tiến hành đánh
73.500 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 310.907 tên ngụy và nhiều tên Mỹ, bắn rơi và bắn
bị thương 1.029 m
áy bay, bắn chìm và phá hủy 1.365 tàu chiến, phá hủy 821 xe quân sự, thu và
phá hủy 31.000 súng trong đó có 89 khẩu pháo 105 và 155 ly. Với những chiến công đó, tỉnh có
21 cá nhân và 42 tập thể được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 507
bà mẹ Việt Nam anh hùng; trên 11.000 thương binh và 16.000 liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Những tấm gương hy sinh anh dũng như Bông Văn Dĩa,
Nguyễn Việt Khái, Lý Văn Lâm, Dương Thị Cẩm Vân, Hồ Thị Kỷ, Huỳnh Phi
Hùng, Hồ Trung
Thành, Đặng Tấn Triệu, Danh Thị Tươi…đã đi vào lịch sử và mãi mãi là niềm tự hào của nhân

nghiệp bằng chính sách khoán theo chỉ thị 100 của Ban Bí thư trung ương Đảng, các Nghị
quyết về đổi mới cơ chế quản lý trong công nghiệp, thương mại, du lịch, điều chỉnh chính sá
ch
cải tạo xã hội chủ nghĩa theo hướng thông thoáng hơn. Nhờ đó tiềm năng về đất đai, lao động,
vốn liếng, kinh nghiệm sản xuất nông, công nghiệp, thủy sản của người dân Cà Mau được khơi
dậy và bước đầu được phát huy.
Đi đôi với việc khôi phục và phát triển kinh tế, đời sống văn hóa của nhiều vùng nôn
g
thôn, vùng sâu, vùng căn cứ kháng chiến cũng đã được nâng lên một bước. Năm 1985 nhiều xã
có tivi công cộng phục vụ bà con nông dân. Hệ thống loa truyền thanh, phát thanh nhiều huyện
đã về đến xã, ấp góp phần tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước đến người dân. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân cũng được chính quyền các
cấp quan tâm. Hệ thống các cơ sở y tế hầu hết được xây dựng mới và hoạt động có hiệu quả.
Đến năm
1985 có 40% số xã có bác sĩ. Công tác vệ sinh môi trường đã trở thành phong trào của
quần chúng nhiều xã ấp. Nhiều địa phương đã bảo đảm nước sạch sinh hoạt cho nhân dân trong
mùa khô. Một số dịch bệnh như sốt rét, sốt xuất huyết đã được ngăn chặn có hiệu quả.
Giáo dục và đào tạo có nhiều tiến bộ rõ rệt: hệ thống giáo dục phổ thông, dạy nghề và

đào tạo bồi dưỡng cán bộ phát triển cả về số lượng và cơ cấu trường lớp, ngành nghề. Tỉ lệ học
sinh bỏ học, lưu ban giảm dần; tỉ lệ học sinh giỏi, đạt giải khu vực và cấp quốc gia tăng dần.
Công tác xóa nạn mù chữ, phổ cập tiểu học được thực hiện đạt kết q
uả khá. Tình trạng thiếu
giáo viên, thiếu trường lớp đã được khắc phục từng bước.
Đời sống nhân dân được cải thiện. Số hộ giàu và khá tăng nhanh, số hộ nghèo giảm dần.
Một số xã, ấp vùng sâu đã xóa được diện hộ nghèo gay gắt. Những nhu cầu cơ bản của nhân
dân như: ăn, mặc, nhà ở, đi lại, học tập…được cải thiện rõ nét. Việc thực hiện các chính sách
đối với thương binh,
gia đình liệt sĩ và người có công được các cấp, các ngành quan tâm và đầu
tư thỏa đáng.

quảng canh, năng suất thấp. Nuôi cá đồng phát triển chậm và không
đều trong khi tiềm năng mặt nước còn rất lớn. Các công trình thủy lợi mới ít về số lượng lại
chậm đưa vào phục vụ sản xuất. Bên cạnh đó, tình trạng chặt phá rừng bừa bãi diễn ra khá phổ
biến nên diện tích rừng đước ngày một giảm dần. Công tác quản lý, c
hăm sóc khoanh nuôi và
bảo vệ rừng phòng hộ, rừng kinh tế còn nhiều bất cập.
Sản xuất công nghiệp quy mô quá nhỏ, sản phẩm ít về số lượng, đơn điệu về chủng loại,
kém về chất lượng nên chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh. Sản phẩm xuất khẩu
chủ yếu là thủy sản đông lạnh không qua chế biến mà khối lượng lại không nhiều. Sản xuất
hàng tiêu dùng và xuất khẩu chưa tương xứng với khả năng của địa phương, nhất là công
nghiệp chế biến nông, lâm
, thủy sản. Đến năm 1985 toàn tỉnh chỉ có 21 sản phẩm công nghiệp
và tiểu thủ công nghiệp với sản lượng sản xuất rất khiêm tốn: 1.000 tấn tôm đông lạnh, 2 triệu
lít nước mắm, 197.000 tấn gạo xay xát, 6.867 tấn đường mật, 23 triệu viên thuốc các loại,
149.000 mét vải, 709.000 viên gạch nung, 230.000 nông cụ cầm tay, trên 10.000 tàu, thuyền
đóng mới và sửa chữa. [13, tr.34]

Hoạt động giao thông - vận tải là mặt chủ yếu của tỉnh trong đầu tư xây dựng nhưng
chậm khắc phục. Trong quy hoạch và chỉ đạo thiếu sự phân cấp, phân công giữa tỉnh, huyện,
xã, thị trấn nên tiến độ xây dựng và nâng cấp đường bộ chậm và không đều, nhất là đường nông
thôn. Trong quản lý và bảo vệ chưa có sự phối kết hợp giữa giao thông và thủy lợi nên hiệu quả
thấp. Việc khai thác, sử dụng các phương t
iện vận tải hàng hóa chưa hợp lý, coi trọng thành
phần quốc doanh và hợp tác xã mà xem nhẹ các thành phần kinh tế tư nhân nên chưa phát huy
hết mọi tiềm lực to lớn trong nhân dân.
Hoạt động thương mại - dịch vụ của tỉnh thời gian này có nhiều khuyết, nhược điểm.
Thương nghiệp chưa gắn liền với yêu cầu sản xuất v
à đời sống của nhân dân, hàng hóa và dịch
vụ phát triển chậm, tự phát, đơn điệu, chất lượng thấp. Hoạt động của các ngành và đơn vị kinh
doanh thương mại, du lịch, dịch vụ chưa có sự gắn bó liên kết với nhau nên phát triển không


quan liêu và bao cấp nặng nề trong một thời gian dài. Đó cũng là những bài học không thành
công cần tổng kết để rút kinh nghiệm và tìm giải pháp thích hợp cho Cà Mau nói riêng và cho
cả nước nói chung trong những năm tiếp theo.
1.3.2. Thời kỳ 10 năm đổi mới (1986 -1996)
Quán triệt đường lối đổi mới sâu sắc và toàn diện của Đảng, trong 2 kế hoạch 5 năm
1986 -1990 và 1991-1995, Đảng bộ và nhân dân Cà Mau đã tập trung nguồn lực để khai thác
mọi tiềm năng, thế mạnh của địa phương đồng t
hời tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương để phát
triển kinh tế toàn diện với tốc độ tăng trưởng cao, thời kỳ sau cao hơn thời kỳ trước.
Tổng sản phẩm của tỉnh (GDP) từ năm 1986 đến năm
1996 tăng bình quân 5,68%. Nét
đặc biệt trong 10 năm này là cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực, xóa dần tính
thuần nông, tăng tỉ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng trong GDP của tỉnh từ 7,38% năm
1985 lên 10,83% năm 1990 và 16,96% năm 1995; tỉ trọng khu vực thương mại - dịch vụ cũng
tăng dần từ 12,1% lên 13,32% và 15,05% trong thời gian trên. Tỉ trọng khu vực nông - lâm
nghiệp - thủy sản giảm xuống còn 65,9% năm 1995 so với 80,
52% năm 1985 nhưng vẫn đạt tốc
độ tăng trưởng giá trị sản xuất trên 3,74%/năm. [13, tr.40]
Kinh tế tăng trưởng đã góp phần tăng thu ngân sách của tỉnh. Tỉ lệ thu ngân sách trên
GDP tuy còn thấp so với yêu cầu nhưng đã có tiến bộ hơn so với các thời kỳ trước đổi mới và
cơ bản đáp ứng được các yêu cầu chi ngân sách của địa phương. Tổng thu ngân sách Nhà nước
năm 1995 đạt 334,79 tỉ đồng tăng 2,92 lần năm
1990 và bằng gần 2 lần năm 1991. [11, tr.13].
Sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện, tăng trưởng với nhịp độ khá cao.
Sản xuất lúa là thế mạnh của tỉnh tiếp tục phát triển theo hướng ổn định, đồng thời đẩy mạnh
thâm canh tăng năng suất để tăng sản lượng và chất lượng lúa gạo phục vụ xuất khẩu. Bên cạnh
đó một bộ phận không nhỏ diện tích lúa mùa đã được chuyển đổi sang nuôi trồng t
hủy sản, nhất
là nuôi tôm để có lợi hơn.

tấn năm 1991 lên 46,6 ngàn tấn năm
1995. Cơ cấu sản lượng thủy sản nuôi chuyển mạnh từ cá
sang tôm để phù hợp với yêu cầu thị trường xuất khẩu thủy sản đang mở rộng.
Sản xuất công nghiệp có tiến bộ trên một số mặt. Năm 1995 toàn tỉnh có 9.734 cơ sở sản
xuất công nghiệp, thu hút 23.674 lao động trong đó khu vực kinh tế cá thể có 8.289 lao động,
chủ yếu làm việc trong các ngành công nghiệp chế biến. [11, tr.84]
Với tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm 13,62% giai đoạn 1991-1995, công
nghiệp Cà Mau đã có bước tiến bộ về một số mặt hàng sản phẩm công nghiệp chế biến nông
sản, thủy sản và hàng tiêu dùng thiết yếu như nông cụ cầm tay, sửa chữa tàu thuyền. Cơ cấu giá
trị sản xuất công nghiệp bước đầu đã chuyển dịch theo hướng đa thành phần, trong đó kinh tế
Nhà nước chiếm tỉ trọng cao nhất và giữ vai trò chủ đạo.
Các hoạt động đầu tư - xây dựng đã thực hiện chuyển dịch từ đầu tư theo nguồn vốn ngân
sách Nh
à nước sang đầu tư bằng vốn tín dụng, liên doanh liên kết, vốn vay trong nước và nước
ngoài. Cơ cấu đầu tư đã chuyển dần từ kinh tế sang các lĩnh vực khác (văn hóa, giáo dục, y tế,
khoa học, chỉnh trang đô thị…). Một số công trình kinh tế trọng điểm của địa phương được đầu
tư xây dựng mới và nâng cấp, trong đó nổi bật là điện lưới quốc gia về 3 huyện vùng sâu: Trần
Văn Thời, Thới Bình và U Minh, các trọng điểm
kinh tế ven thị xã Cà Mau, ven biển và gần
50% cụm trung tâm xã, thị trấn. Nhiều công trình giao thông, thủy lợi, văn hóa, nhà ở đô thị…
được xây dựng, nâng cấp góp phần tăng năng lực sản xuất và lưu thông hàng hóa các vùng
trong tỉnh, cải thiện bộ mặt thành thị lẫn nông thôn.
Các hoạt động dịch vụ thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân được khôi phục
và phát triển. Đáng chú ý là hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa phát triển với tốc độ
nhanh, đáp ứng mọi yêu cầu đi lại của nhân dân và lưu thông hàng hóa của các th
ành phần kinh
tế. Dịch vụ bưu chính viễn thông có bước phát triển vượt bậc so với các thời kỳ trước. Lần đầu
tiên Cà Mau được lắp đặt tổng đài kỹ th
uật số, hòa mạng thông tin viễn thông quốc tế, rút ngắn
khoảng cách vùng Đất Mũi xa xôi với cả nước và quốc tế. Dịch vụ phát hành báo chí cũng

hình thức và sản phẩm tương đối đa dạng.
Về các vấn đề xã hội, cùng với phát triển kinh tế, trong 10 năm đầu sau đổi mới, Cà Mau
cũng đạt được nhiều tiến bộ về các mặt ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
Đạt được những thành tựu trên trước hết là nhờ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ và

các tầng lớp nhân dân, nhờ sự nỗ lực phấn đấu của các cấp các ngành, nhờ kết quả tổng hợp của
đường lối đổi mới đúng đắn, vận dụng cụ thể hóa phù hợp với điều kiện của tỉnh, được n
hân
dân đồng tình hưởng ứng và thực hiện với tinh thần đầy sáng tạo, bên cạnh đó còn nhờ kế thừa
và phát huy những thành quả, kinh nghiệm của những năm trước, đồng thời nhờ có sự chỉ đạo
và giúp đỡ có hiệu quả của Trung ương.
Bên cạnh những kết quả và tiến bộ về các mặt như đã trình bày ở trên, tình hình kinh tế -
xã hội Cà Mau trong 10 năm 1ừ 1986 đến 1996 cũng còn nhiều tồn tại và bất cập.
+ Về kinh tế.
Thứ nhất, kinh tế của tỉnh vẫn chưa th
oát khỏi tình trạng thuần nông, tăng trưởng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, không đều. Tốc độ tăng GDP của tỉnh bình quân thời kỳ
1986-1990 chỉ đạt 4,48%, thời kỳ 1991-1995 tuy có cao hơn nhưng cũng chỉ đạt 6,88%. Kết
quả này không đạt mục tiêu đề ra v
à thấp hơn tốc độ tăng GDP của cả nước (8,2%).
Thứ hai, sản xuất nông nghiệp của tỉnh vẫn nặng độc canh lúa và sản xuất chưa gắn với
công nghiệp chế biến trong khi tiềm năng về phát triển công nghiệp và dịch vụ của tỉnh là rất
lớn. Cơ cấu cây trồng vật nuôi chuyển dịch chậm, tự phát và không đều. Một số cây công
nghiệp, cây ăn trái như dừa, mía, chuối, khóm…có sản lượng khá lớn nhưng chưa tìm được thị
trường tiêu thụ ổn định nên tăng, giảm t
hất thường và không có cây nào, vùng nào chủ lực, sản
xuất tập trung thâm canh cao. Chăn nuôi tăng chậm và không đều, trong đó từ 1992 đến 1995,
đàn heo, đàn gia cầm giảm liên tục dù tiềm năng còn rất lớn. Vì vậy cơ cấu sản xuất nông
nghiệp vẫn mất cân đối nghiêm trọng, tỉ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp vừa
nhỏ lại giảm dần.

hàng trăm triệu USD/năm. Hệ thống chợ nông thôn yếu và chưa phù hợp với yêu cầu trao đổi
hàng hóa, vật tư của nhân dân. Công tác thu mua, tiêu thụ nông, lâm, thủy sản và cung ứng vật
tư, hàng hóa cả khu vực nông thôn, thành thị đều phụ thuộc vào mạng lưới thương lái, tư nhân,
cá thể, vai trò của Nhà nước còn mờ nhạt.
+ Về văn hóa - xã hội.
Công tác giáo dục, đào tạo: chất lượng dạy và học chưa cao, chương trình bổ túc văn hóa
và phổ cập tiểu học thực hiện chưa đều. Giáo dục phổ thông tuy có tiến bộ nhưng cơ sở trường
lớp vẫn còn nhiều yếu kém
, số lớp học ca 3 vẫn còn, số điểm trường cây lá tạm bợ ở các xã
vùng sâu, vùng xa vẫn chưa x
óa hết. Chất lượng giáo viên chưa đều và trình độ chưa theo kịp
yêu cầu. Nguyên nhân chính là do công tác đào tạo giáo viên của tỉnh chưa đồng bộ với sự tăng
trưởng của học sinh và trường lớp; cơ sở vật chất cho dạy và học còn thiếu và không đồng bộ;
sự phối hợp giữa nhà trường với chính quyền địa phương chưa chặt chẽ. Tỉ lệ trẻ em thất học tại
các vùng nông thôn và từ các địa phương khác đến còn nhiều.
Công tác văn hóa - thông tin: văn nghệ, phát thanh, truyền hình còn đơn điệu về nội dung
và phương pháp nên chưa có sức hấp dẫn đối với mọi đối tượng, mọi lứa tuổi. Ở một số vùng
nông thôn,
vùng kinh tế mới đời sống văn hóa còn thấp nhưng lại chậm được tăng cường. Công
tác giáo dục truyền thống cách mạng, bảo tồn di tích kháng chiến của các vùng căn cứ tro
ng
tỉnh chưa được quan tâm đúng mức. Phong trào xây dựng gia đình văn hóa, ấp, khóm văn hóa,
nếp sống văn minh phát triển chậm và không đều. Công tác quản lý Nhà nước về văn hóa,
thông tin, văn nghệ còn lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, thiếu nội dung và hình thức thích hợp nên chưa
ngăn chặn có hiệu quả mọi tàn dư của các loại văn hóa phẩm độc hại trong t
hanh, thiếu niên,
nhất là vùng đô thị. Tệ nạn xã hội nhất là số đề, hụi, rượu chè, hủ tục chưa giảm, ngược lại có
phần gia tăng, gây không ít khó khăn đối với quá trình bảo vệ trật tự trị an xã hội.
Trong công tác y tế, thể dục, thể thao: việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ban đầu cho
nhân dân có tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Trình độ và phương tiện khám chữa bệnh của

2.1. Nông nghiệp
Đối với Cà Mau, nông nghiệp là ngành kinh tế giữ vị trí quan trọng của tỉnh. Nó vừa làm
nhiệm vụ cung cấp lương thực và thực phẩm cho nhu cầu nội địa, đồng thời còn cung cấp
nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu. Trong cơ cấu tổng sản phẩm
GDP của tỉnh những năm gần đây, nông nghiệp luôn chiếm tỉ trọng đáng kể. Có
thể nói, Cà
Mau có rất nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp, tuy vậy, để khai thác được những tiềm
năng ấy thì ở bất cứ một loại đất nào, người dân Cà Mau cũng đều phải dày công cải tạo.
Như đã nói ở chương 1, Cà Mau có một nguồn nhân lực nông nghiệp dồi dào, lại có
truyền thống về sản xuất nông nghiệp, có nhiều kinh nghiệm trồng lúa, màu, cây công nghiệp
và trong chăn nuôi, t
hủy sản. Cũng như nông dân Nam Bộ, người nông dân Cà Mau sớm tiếp
xúc với nền sản xuất hàng hóa, sáng tạo và năng động trong sản xuất, trong chuyển đổi cơ cấu
vật nuôi và cây trồng. Những kinh nghiệm quý báu ấy kết hợp với công nghệ mới, lại được
khuyến khích phát triển bằng những chính sách phù hợp là nguồn lực thúc đẩy nền nông nghiệp
của tỉnh phát triển.
Ngày 2/11/1997 cơn bão số 5 đổ bộ vào Cà Mau gây thiệt hại nặng nề về người và của,
ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Song Đảng bộ và quân
dân Cà Mau với tinh thần tự lực, tự cường, cùng với sự chỉ đạo, chi viện kịp thời của Đảng,

Chính phủ, các tỉnh thành, với tấm lòng tương thân tương ái của đồng bào trong và ngoài nước,
các tổ chức quốc tế, đã khắc phục cơ bản những thiệt hại của cơn bão, nhanh chóng ổn định đời
sống và phục hồi sản xuất, kinh doanh.
Do ảnh hưởng của bão số 5, năng suất lúa bình quân chỉ đạt 2,92 tấn/
ha giảm 16,33%;
tổng sản lượng lương thực năm 1997 chỉ đạt 640.000 tấn bằng 83% kế hoạch.
Tuy vậy, diện tích canh tác năm 1997 vẫn lên đến 176.000 ha, tăng 3,8% so với năm
1996; việc mở rộng diện tích sản xuất đã bước đầu kết hợp với chuyển đổi cơ cấu m
ùa vụ. Các
trà lúa hè thu, cao sản, lấp vụ đều tăng. Đặc biệt vụ lúa đông - xuân 1996 - 1997 đạt năng suất 4

Sang năm 2000 thời tiết có những diễn biến bất thường đã gây không ít khó khăn cho sản
xuất. Ủy ban nhân dân tỉnh đã có nhiều chủ trương, giải pháp chỉ đạo khắc phục khó khăn tập
trung sức phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện.
Sau khi c
ó chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi sản xuất theo Chỉ thị số
09/CT/TU (ngày 7/7/2000) của Tỉnh ủy Cà Mau khóa XII về việc điều chỉnh sản xuất từ nông -
ngư - lâm sang ngư - nông - lâm, đặc biệt là chủ trương chuyển đổi một số diện tích trồng l
úa
sang nuôi tôm làm cho bức tranh nông nghiệp Cà Mau trở nên đa dạng hơn. Thời gian đầu mới
chuyển đổi, việc nuôi tôm cũng gặp không ít khó khăn như chưa hoàn chỉnh xây dựng hệ thống
thủy lợi, con giống không bảo đảm chất lượng, tổ chức sản xuất không phù hợp, môi trường
nước bị ô nhiễm, nông dân chưa nắm bắt về kỹ thuật…nhưng sau đó đã ngày càng ổn định hơn,
mức thu nhập của các hộ nuôi t
ôm đều cao so với trồng lúa, thậm chí có nhiều hộ đạt rất cao và
điều đáng nói là từ nay, người nông dân Cà Mau đã có sự thay đổi lớn trong nhận thức, nhất là
ý thức phấn đấu vươn lên trong lao động sản xuất, trong tổ chức cuộc sống gia đình. Nhiều hộ
nông dân đã tự bỏ tiền ra đi nhiều nơi trong và ngoài tỉnh, thậm chí cả nước ngoài để học tập
kinh nghiệm, nghiên cứu cách thức làm ăn về vận dụng cho gia đình và địa phương m
ình.
Sau khi điều chỉnh quy hoạch chuyển dịch cơ cấu sản xuất, diện tích canh tác trồng lúa
chỉ còn 156.000 ha. Để vẫn bảo đảm sản lượng lúa trên một diện tích bị thu hẹp, tỉnh đã tích
cực chỉ đạo sản xuất nông nghiệp toàn diện như khẩn trương cho xây dựng một số công trình
thủy lợi có tính bức xúc, chuẩn bị vật tư nông nghiệp, chủ động tìm cung cấp 365 tấn giống l
úa
nhóm A và nhóm B, xây dựng 5 mô hình khuyến nông, khuyến lâm, đồng thời mở 453 lớp tập
huấn chuyển giao kỹ thuật trồng trọt - chăn nuôi ở các huyện đã giúp cho nhiều hộ nông dân tận
dụng khai thác tối đa khả năng canh tác trên đồng ruộng.
Do làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nên diện
tích gieo trồng các trà lúa đều đạt và vượt kế hoạch. Việc sản xuất một vụ lúa luân canh trên đất
nuôi tôm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status