VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ MỸ HẠNH
QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN KINH TẾ, XÃ HỘI
TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử
Mã số: 62.22.54.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
LỊCH SỬ VIỆT NAM CẬN ĐẠI VÀ HIỆN ĐẠI
HÀ NỘI - 2013
Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. NGUYỄN NGỌC MÃO
2. TS. NGUYỄN XUÂN MINH
Phản biện 1: PGS. TS Võ Kim Cương
Phản biện 2: PGS. TS Phùng Đức Thắng
Phản biện 3: PGS. TS Hồ Khang
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Học viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam
vào hồi giờ phút, ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Học viện KHXH - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
- Trung tâm học liệu - Đại học Thái Nguyên
- Thư viện trường Đại học Sư phạm thuộc ĐH Thái Nguyên
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Kinh tế, xã hội là yếu tố đặc biệt quan trọng, có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi
quốc gia. Trong thực tế, quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội đang diễn ra với mức độ khác nhau ở các
tỉnh/thành trên phạm vi cả nước. Thái Nguyên cũng không nằm ngoài xu thế chung đó. Từ năm 1997 đến
năm 2010, đây là một giai đoạn mới trong quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên từ sau
người. Đơn vị hành chính của tỉnh gồm 1 thành phố là Thái Nguyên, 1 thị xã Sông Công, 7 huyện: Định
2
Hóa, Phú Lương, Võ Nhai, Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên. Khi nghiên cứu quá trình chuyển biến
kinh tế, xã hội tỉnh Thái Nguyên, đề tài có tính tới mối quan hệ với các tỉnh lân cận và toàn vùng Đông Bắc.
- Về thời gian, đề tài nghiên cứu vấn đề kinh tế, xã hội trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2010
(Năm 1997: năm tái lập tỉnh; Năm 2010: Mốc đánh dấu sau 25 năm tiến hành đổi mới đất nước). Tuy nhiên,
để làm sáng tỏ quá trình biến đổi kinh tế, xã hội của tỉnh, Luận án còn đề cập khái quát tình hình kinh tế, xã
hội của tỉnh Thái Nguyên trước ngày tái lập (1/1/1997).
4. Nguồn tài liệu
- Nhóm tài liệu thứ nhất đề cập đến lí luận, thực trạng phát triển kinh tế, xã hội ở Việt Nam thời kì đổi mới.
- Nhóm tài liệu thứ hai đề cập đến đường lối và chính sách đổi mới phát triển kinh tế, xã hội, những kết quả
bước đầu của công cuộc đổi mới nói chung và Thái Nguyên nói riêng; về truyền thống lịch sử địa phương.
- Nhóm tài liệu thứ ba, gồm những báo cáo tổng kết, kế hoạch, đề án, những số liệu về kinh tế, xã hội Thái
Nguyên từ 1997 đến 2010.
- Nguồn tài liệu khảo sát điền dã.
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
- Về cơ sở lí luận, chúng tôi xuất phát từ quan điểm phát triển kinh tế, xã hội của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong thời kì đổi mới, thời kì hội nhập.
- Về phương pháp nghiên cứu, Luận án chủ yếu dựa vào phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp với
phương pháp logic.
3
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp và điền dã.
6. Những đóng góp mới của Luận án
- Luận án tái hiện một cách hệ thống, chân thật quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tỉnh Thái
Nguyên từ năm 1997 đến năm 2010.
- Từ kết quả nghiên cứu, Luận án đánh giá về lợi thế, tiềm năng nguồn lực phát triển kinh tế, xã hội
của tỉnh Thái Nguyên; Nêu bật đặc điểm, thành tựu, ưu điểm cũng như hạn chế, bất cập trong quá trình
chuyển biến kinh tế, xã hội của tỉnh; Làm rõ nguyên nhân dẫn đến những thành tựu và hạn chế. Từ đó, Luận
án đưa ra một số kinh nghiệm chủ yếu, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên
trong xu thế hội nhập.
trong công cuộc đổi mới đã thu hút được sự quan tâm sâu sắc của các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học trong
và ngoài tỉnh. Đây là một trong những mảng đề tài đã được nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián
tiếp ở những khía cạnh khác nhau và đã được công bố.
1.1.3. Các nghiên cứu và trang mục diễn đàn liên quan trực tiếp đến kinh tế, xã hội tỉnh Thái Nguyên
Nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục, một số công trình nghiên cứu có nội dung tổng hợp gồm
nhiều thể loại khác nhau của nhiều tác giả đã phản ánh một cách khái quát về lịch sử hình thành và phát triển
của tỉnh Thái Nguyên. Các cuốn sách như “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên”, “Tình hình và nhiệm vụ của
tỉnh Thái Nguyên”, “Thái Nguyên – Thế và lực mới trong thế kỉ XXI”, “Địa chí Thái Nguyên” ; ngoài ra,
còn có một số bài báo đề cập đến vấn đề kinh tế, xã hội của tỉnh trên các trang mục diễn đàn của báo chí
Trung ương và địa phương.
1.2. Những vấn đề tiếp tục nghiên cứu
Để làm rõ quá trình chuyển biến kinh tế của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2010, tác giả đi
sâu phân tích sự chuyển biến theo khu vực và từng ngành kinh tế, vùng kinh tế, thành phần kinh tế.
6
Còn đối với các tiêu chí để đánh giá chuyển biến xã hội, ngoài các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, y tế -
môi trường, các hoạt động văn hoá nghệ thuật – thể dục – thể thao, vấn đề củng cố an ninh quốc phòng và cải
cách hành chính, Luận án còn đề cập đến những nội dung nổi bật thuộc phạm trù xã hội, đó là: Cơ cấu dân
cư, dân tộc, tôn giáo; Cơ cấu lao động và việc làm; Vấn đề bình đẳng giới; Công tác xoá đói giảm nghèo và
an sinh xã hội.
Qua đó, tác giả sẽ đánh giá về những thành công và hạn chế, nguyên nhân và rút ra những bài học kinh
nghiệm, góp phần vào việc định hướng cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Thái Nguyên trong những
giai đoạn tiếp theo.
CHƯƠNG 2
QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN KINH TẾ
CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
Đây là một trong hai phần trọng tâm của đề tài, với độ dài 58 trang, đề tài giới thiệu khái quát về
điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử và đời sống văn hoá của tỉnh Thái Nguyên. Đồng thời, tác giả cũng
khái quát về tình hình kinh tế, xã hội trước năm tái lập tỉnh (từ năm 1954 đến năm 1996) để làm sáng tỏ quá
trình biến đổi kinh tế, xã hội của tỉnh từ năm 1997 đến năm 2010 ở những chương sau. Tác giả nêu lên bối
cảnh lịch sử và những yếu tố tác động đến quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên. Quan
lớn. Tỉnh Thái Nguyên, sau hơn 30 năm hợp nhất vời tỉnh Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái, đã được tái lập (năm
1997). Tỉnh Thái Nguyên nằm sát vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có nhiều cơ sở công nghiệp; có hệ thống
đường giao thông thuận lợi; là một trong những trung tâm giáo dục – đào tạo của cả nước; có nguồn tài
nguyên, khoáng sản phong phú
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, nền kinh tế của tỉnh phát triển chưa đều và chưa vững chắc, thiếu vốn
đầu tư cho phát triển. Cơ sở hạ tầng tuy đã được đầu tư ban đầu nhưng chất lượng còn thấp, chưa đáp ứng được
yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong thời kì mới.
9
Trong bối cảnh lịch sử đó, theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ
quyết định tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XV, tỉnh Thái Nguyên tiến vào thời kì
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2.2.2. Những yếu tố tác động đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Thái Nguyên
Các yếu tố khách quan: Các yếu tố tự nhiên (Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên
nhiên); Các yếu tố kinh tế, xã hội bên trong của đất nước (Nhu cầu thị trường, dân số và nguồn lao động,
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ quản lí, hoàn cảnh lịch sử); Các yếu tố bên ngoài (Quan
hệ kinh tế đối ngoại và hợp tác phân công lao động quốc tế).
Các yếu tố chủ quan: Nhóm các yếu tố chủ quan bao gồm đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà
nước trong từng thời kì. Tính hoàn thiện của bộ máy Nhà nước, luật pháp và thể chế kinh tế sẽ là điều kiện
có tính quyết định đến sự hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế có hiệu quả.
2.3. Quá trình chuyển biến kinh tế của tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2010
2.3.1. Chuyển biến cơ cấu ngành kinh tế
Từ năm 1997 đến năm 2010, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng công nghiệp,
dịch vụ, giảm dần tỉ trọng nông nghiệp trong GDP Thái Nguyên.
So với các tỉnh trong vùng Đông Bắc và một số tỉnh thuộc vùng Tây Bắc và trung du Bắc Bộ, đến năm
2010, cơ cấu GDP khu vực I của tỉnh Thái Nguyên chiếm tỉ lệ 21,73%. Khu vực II có tỉ lệ 41,54%, vượt các
tỉnh Hà Giang (26,3%); Cao Bằng (23,5%); Bắc Kạn (19,6%), Tuyên Quang (24,0%), Lào Cai (35,3%), Yên
10
Bái (33,1%), Lạng Sơn (20,5%), Bắc Giang (32,3%), Phú Thọ (37,7%). Khu vực III với tỉ lệ 36,73%, ngành
Dịch vụ cũng có sự chuyển biến tác động đến sự phát triển kinh tế của tỉnh.
Trong cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh, tỉ trọng ngành Nông nghiệp giảm dần nhưng còn chậm; tỉ trọng
Ngành Nông nghiệp
Trong nông nghiệp, giá trị sản xuất ngành Trồng trọt, Chăn nuôi và Dịch vụ đều có mức tăng trưởng
cao. Ngành Trồng trọt năm 1997 giá trị sản xuất đạt 647,84 tỉ đồng, tăng lên 4429,62 tỉ đồng năm 2010 và
12
luôn chiếm trên 60% giá trị sản xuất ngành Nông nghiệp. Ngành chăn nuôi tăng khá cao về giá trị sản xuất
(năm 2010 đạt 2320,86 tỉ đồng tăng gấp 7,64 lần năm 1997). Các dịch vụ nông nghiệp lại có bước chuyển
biến tích cực. Năm 1997 chiếm 2,41%, đến năm 2010 tăng lên 8,39%.
Ngành Lâm nghiệp
Nhìn chung, giá trị sản xuất Lâm nghiệp và giá trị phân theo lĩnh vực sản xuất Lâm nghiệp của tỉnh
Thái Nguyên tăng liên tục qua các năm, đặc biệt là giai đoạn từ 2005 đến 2010. Năm 1997, diện tích trồng
rừng là 2.175 ha, tăng 3,1% so với cùng kì năm trước; đến năm 2010, đã tăng lên 7.184 ha. Thái Nguyên đẩy
mạnh công tác phát triển trồng rừng, khai thác và chế biến lâm sản, đây cũng là thế mạnh và đem lại hiệu quả
kinh tế cao của tỉnh.
Ngành thuỷ sản
Năm 1997, giá trị sản xuất của ngành này (kể cả dịch vụ thuỷ sản) chiếm 2,43%, năm 2000 chiếm
2,02%, năm 2005 chiếm 2,08%, năm 2010 chiếm 2,16% giá trị sản xuất toàn ngành Nông – Lâm – Thuỷ sản
tỉnh. Sản xuất thuỷ sản Thái Nguyên chủ yếu là hoạt động nuôi trồng. Sản phẩm chủ yếu là cá các loại. Kết
quả đó cho thấy, tỉnh Thái Nguyên chưa khai thác hết tiềm năng của ngành Thuỷ sản, nên chưa có sự đóng
góp tích cực vào việc nâng cao cơ cấu GDP trong ngành.
2.3.1.3. Ngành Dịch vụ
Trong cơ cấu ngành Dịch vụ, chiếm tỉ trọng cao nhất vẫn là ngành Thương mại, năm 2000 chiếm
85,78%; năm 2005 tăng lên 88,17%, năm 2010 chiếm 89,63%. Đứng thứ hai là khách sạn, nhà hàng, năm
13
2000, chiếm 12,96% giá trị sản xuất của ngành, nhưng có xu hướng giảm xuống còn 6,81% năm 2010. Từ
năm 1997 đến năm 2010, trải qua 13 năm nhưng tỉ trọng cả các nhóm ngành trong toàn ngành hầu như không
thay đổi. Thực trạng này đã phần nào nói lên mức độ phát triển của ngành du lịch còn yếu. Để thúc đẩy quá
trình CNH, HĐH và phát triển kinh tế, tỉnh Thái Nguyên cần phải đầu tư phát triển các ngành dịch vụ như
thương mại, tài chính, ngân hàng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, du lịch
2.3.1.4. Cơ sở hạ tầng kĩ thuật
Kết cấu cơ sở hạ tầng là yếu tố tất quan trọng. Bởi sự chuyển dịch theo hướng tích cực trong cơ cấu
QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN XÃ HỘI
CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
Đây là một trong 2 phần trọng tâm của đề tài, với 42 trang, trong chương này, chúng tôi trình bày về
những chuyển biến trên mọi lĩnh vực xã hội của tỉnh Thái Nguyên từ sau khi tái lập tỉnh đến năm 2010.
3.1. Cơ cấu dân cư
Quy mô dân số
Tính đến năm 2010, dân số trung bình của tỉnh Thái Nguyên là 1.131.278 người. So với cả nước, dân số
Thái Nguyên đứng thứ 33, đứng thứ 3 sau tỉnh Bắc Giang và Phú Thọ trong vùng trung du, miền núi phía Bắc.
Sau 13 năm (1997 – 2010), dân số Thái Nguyên tăng thêm 97.157 người. Mật độ dân cư trung bình 320
người/km
2
(cao hơn mức trung bình cả nước là 260 người/km
2
), phân bố không đều, vùng cao và vùng núi rất
thưa thớt, trong khi đó ở thành thị và đồng bằng dân cư lại quá đông đúc.
Cơ cấu dân số
Dân số
Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi phía Bắc với dân số gần 1,2 triệu người. Trên địa
bàn tỉnh có 8 dân tộc có số dân từ 1.000 người trở lên là Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Mông, Sán Chay, Hoa và
Dao. Thái Nguyên có kết cấu dân số trẻ, nhóm tuổi lao động từ 15 đến 60 là 779.261 người, chiếm 69,4%
16
tổng dân số. Nhóm tuổi dưới 15 có 249.001 người, chiếm 22,2% tổng dân số, nhóm người trên 60 tuổi có
94.854 người, chiếm 8,4%. Số lao động được tạo việc làm trong năm 2010 là 16.150 người.
Tôn giáo
Trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 85.000 tín đồ các tôn giáo, trên 200 tổ chức cơ sở đạo Phật, đạo
Công giáo và 30 điểm nhóm thuộc 5 tổ chức hệ phái đạo Tin lành. Thái Nguyên có khoảng 100 chùa, gần 50
đền và khoảng 100 đình.
3.2. Cơ cấu lao động, việc làm
Trong những năm 1997 - 2000, toàn tỉnh đã thu hút tạo việc làm mới cho 188.942 lao động, mỗi năm
giải quyết thêm được khoảng 10.000 lao động có việc làm, hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị, nâng
3.7. Vấn đề chăm sóc sức khoẻ và bảo vệ môi trường
Y tế
Đến năm 2010, toàn tỉnh Thái Nguyên có 539 cơ sở y tế (trong đó có 21 bệnh viện (có 1 bệnh viện
điều dưỡng), 25 phòng khám đa khoa khu vực, 1 trại phong, 2 nhà hộ sinh, 180 trạm y tế xã, phường), với
3.956 giường bệnh và 3.710 cán bộ y tế (trong đó có 940 bác sĩ, 512 y sĩ và kĩ thuật viên, 1.838 y tá, hộ lí và
nữ hộ sinh). Cùng thời điểm này, có 91,1% thôn bản, cụm dân cư trên địa bàn tỉnh đã có cán bộ y tế. Công
tác khám chữa bệnh cho người nghèo và nhân dân các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa được quan tâm, kịp thời
phát hiện và ngăn chặn các bệnh dịch. Hệ thống tổ chức dân số - kế hoạch hóa gia đình được kiện toàn đến
thôn bản. Tuy nhiên, có sự khác biệt lớn giữa khu vực nông thôn và thành thị trong tỉnh về các chỉ tiêu này.
Các huyện Phổ Yên, Phú Lương, Đại Từ, Phú Bình có tỉ lệ bác sĩ và cán bộ y tế tính bình quân trên 1 vạn
dân thấp hơn nhiều so với các huyện khác.
Môi trường
Thái Nguyên là tỉnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú (đất, nước, rừng, khoáng sản, du lịch và
dịch vụ ), nếu biết khai thác, sử dụng một cách hợp lí, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển toàn diện
kinh tế, xã hội.
19
Tuy nhiên, trên thực tế, một nguyên nhân không nhỏ ảnh hưởng xấu đến vệ sinh môi trường tỉnh, đó là
sự tập trung dân cư, lượng rác thải ra ngày càng lớn, không có hệ thống thùng rác; ý thức của một bộ phận
nhân dân chưa cao
3.8. Hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục - thể thao
Bao gồm: Báo chí và phát thanh truyền hình; Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa; Hoạt động thư
viện; Hoạt động biểu diễn nghệ thuật; Hoạt động thể dục - thể thao
3.9. Vấn đề quốc phòng, an ninh
Trong quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, tỉnh Thái Nguyên đặc biệt coi
trọng công tác giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh và đạt được
những kết quả nhất định.
3.10. Vấn đề cải cách hành chính
Trong 13 năm (1997 – 2010), cải cách hành chính (CCHC) đã được triển khai khá toàn diện trên cả
bốn nội dung và đạt được nhiều kết quả về cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; xây dựng
và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công. Tuy nhiên, so với các mục tiêu