Luận văn
QUÁ TRÌNH MỞ CỬA
KINH TẾ ĐỐI NGOẠI CỦA
TRUNG QUÔC TỪ NĂM
1978 ĐẾN NAY : THỰC
TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG 2
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU
PHẦN I KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NGOẠI THƯƠNG TRUNG QUỐC TRƯỚC KHI MỞ
CỬA <1978>
I . Tình hình hoạt động ngoại thương
II. Yêu cầu của việc mở cửa với bên ngoài
PHẦN II QUÁ TRÌNH MỞ CỬA CỦA TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1978 ĐẾN NAY
I . Nội dung của chính sách mở cửa
II. Tác động của chính sách mở cửa đối với hoạt động kinh tế đối ngoại của
Trung Quốc
1.Tình hình ngoại thương
a.Cơ cấu xuất khẩu
b.Cơ cấu nhập khẩu
c.Thị trường xuất nhập khẩu
2.Tình hình FDI
3.Tình hình du lịch
III. Những vấn đề đặt ra trong quá trình cải cách
1.Về chính sách
chính sách hoạt đông ngoại thương của Trung Quốc được điều chỉnh, bổ sung
sửa đổi nhiều lần nhằm phù hợp với từng thời kỳ, hoàn cành và điều kiện phát
triển riêng của đất nước. Trong một khoảng thời gian khá dài, thể chế và cơ cấu
ngoại thương của Trung Quốc được duy trì một cách ổn định theo phương thức
đồng bộ: Bộ máy ngoại thương trung ương lãnh đạo và quản lí hoạt động ngoại
thương trong cả nước theo phương châm chính sách và pháp quy của nhà nước.
Nhà nước thực hiện quyền hành chính thông qua các công ty ngoại thương
4
chuyên nghiệp, thực hiện kế hoạch trực tiếp và thu chi thống nhất đối với các đơn
vị, doanh nghiệp ngoại thương ttrong cả nước. Do vậy, đặc trưng cơ bản của thể
chế ngoại thương thời kỳ này là đã thích ứng với cơ sở kinh tế hiện vật và chế độ
công hữu đơn nhất trong thể chế kinh tế kế hoach hoá tập trung.
Trong bối cảch lịch sử lúc đó, thể chế này đã có tác dụng tích cực có lợi cho
việc phân phối, sử dụng các nguồn lực một cách có tập trung, điều hành việc xuất
nhập khẩu một cách thống nhât, bảo đảm cho các hoạt động kinh tế đối ngoại
thực hiện có trọng điểm, tập trung được các lực lượng đơn lẻ thành sức mạnh
tổng hợp nên đã vượt qua được nhiều thử thách trong cạnh tranh mậu dịch quốc
tế
Song cùng với sự phát triển của hoạt động ngoại thương đặc biệt vào những
năm 70, sau khi Trung Quốc đã khôi phục được chiếc ghế ở liên hợp quốc và
trước sự thay đổi mạnh của tình hình kinh tế trong nước và quốc tế, thể chế ngoại
thương trước đây đã bộc lộ những hạn chế và những nhược điểm nghiêm trọng
trong công tác ngoại thương từ lâu nay. Những hạn chế và nhược điểm đó biểu
hiện ở một số mặt sau:
Thứ nhất, trong một thời gian dài nhà nước duy trì chính sách kinh doanh độc
quyền, thống nhất chỉ thông qua các công ty ngoại thương chuyên nghiệp làm cho
tình trạng buôn bán luôn trong thế bị động , không thể phát huy được tình năng
động và sáng tạo trong kinh doanh ngoại thương. Sản xuất của các doanh nghiệp
ngoại thương bị tách hẳn với tiêu thụ tạo ra hình thức buôn bán đơn lẻ, tản mạn
Quốc, chỉ có CNXH mới phát triển được Trung quốc. Bản thân việc thực hiện mở
cửa đối ngoại không phải là mục đích mà chỉ là một biện pháp. Mục đích căn bản
của việc mở cửa đối ngoại là ở chỗ đẩy nhanh phát triển sức sản xuất xã hội, đẩy
nhanh việc thực hiện chiến lược hiện đại hoá, xây dựng CNXH mang màu sắc
Trung quốc một cách tốt hơn.
6
Bắt đầu từ hội nghị trung ương 3 khoá XI 1978 ĐCS Trung quốc,Trung quốc
đã xác lập đường lối lấy xây dựng kinh tế làm trọng tâm, thực hiện cải cách mở
cửa, phát triển kinh tế quốc dân, đẩy mạnh công cuộc xây dựng hiện đại hoá
XHCN và nền kinh tế Trung quốc đã dần dần chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung cao độ sang nền kinh tế thị trường XHCN từ đóng cửa nửa đóng cửa
sang mở cửa, dần dần hoàn thiện cục diệnmở cửa đối ngoại toàn phương vị nhiều
tầng nấc, mở rộng trên nhiều lĩnh vực
Nội dung mở cửa đối ngoại của Trung Quốc còn được nhấn mạnh trong các
báocáo chính trị ở các kì Đại hội tiếp theo.
Đại hội XIII 1987
Năm 1987 Đại hôi ĐCS Trung Quốc lần thứ XIII đưa ra mô hình “nhà nước điều
tiết thị trường thị trường dẫn dắt xí nghiệp” đã làm nổi bật tác dụng của thị trường
và có thể coi đó là giai đoạn quá độ từ thuyết kinh tế hàng hoá XHCN sang thuyết
kinh tế thị trường XHCN.
Do trong một thời gian dài nhà nước chưa quản lí thống nhất các hoạt động xuất
nhập khẩu trên phạm vi cả nước nên trong thời kì này Trung Quốc thực hiện việc
mở rộngcửa ra thế giới nhằm tranh thủ vốn và kĩ thuật.
Đại hội XIV 1992
Trung Quốc bắt đầu thí điểm việc thực hiện thu hút vốn vào ngành buôn bán lẻ ở
5 đặc khu kinh tế “ Thâm Quyến, Chu Hải ,Sán Đầu, Hạ Môn và Hải Nam” và 6
thành phố lớn ở Trung Quốc “Bắc Kinh , Thượng Hải, Thiên Tân,Quảng Châu,
Đại Liên, Thanh Đảo” với 14 công ty.
Trung Quốc đã ban hành chính sách nhằm mở rộng cửa hơn nữa đối với khu vực
đối ngoại ngành dịch vụ. Đưa vào pháp luật để bảo vệ quyền lợi của xí nghiệp có
8
vốn đầu tư nước ngoài. Thực hiện đãi ngộ quốc dân, tăng cường dẫn dắt, giám
sát, quản lí.
Khuyến khích đầu tư ra nước ngoài, có thể phát huy ưu thế tương đối của Trung
Quốc. Cần sử dụng tốt hơn hai thị trường , hai nguồn vốn trong và ngoài nước.
Hoàn thiện hơn nữa và thực thi pháp luật, pháp quy liên quan tới kinh tế buôn bán
đối ngoại.
Xử lí đúng mối quan hệ giữa mở cửa đối ngoại với độc lập tự chủ, tự lực cánh
sinh, bảo vệ an ninh kinh tế quốc gia.
Cần phải xây dựng đặc khu kinh tế và khu mới Phố Đông Thượng Hải tôt hơn
nữa. Khuyến khích các đặc khu này cần phải phát huy tác dụng: làm mẫu, lan toả
, lôi kéo đối với cả Trung Quốc, tiếp tục phát triển hơn nữa các mặt tạo ra thể chế
mới, nâng cấp ngành nghề,mở rộng cửa
II. TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH MỞ CỬA ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI
NGOẠI CỦA TRUNG QUỐC
1.Tình hình ngoại thương:
Tính đến cuối 1997 Trung Quốc đã có quan hệ buôn bán với 227 nước và khu
vực trên thế giới, tăng 177 nước và khu vực so với trước khi thực hiện cải cách
mở cửa. Năm 1978, tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc mới chỉ đạt
20,6 tỷUSD, đến 1984 đã vọt lên 50 tỷ USD, tăng gấp 2,5 lần so với năm 1978.
Bốn năm sau, năm 1988 tổng kim ngạch ngoại thương tăng gấp đôi năm 1984,
đạt 100 tỷ USD, năm 1994 ngoại thương Trung Quốc lại nêu kỉ lục mới, gấp đôi
năm 1988, đạt 200 tỷ USD, năm 1997, con số đạt tới 235,1 tỷ USD. Tính đến
năm đó mức tăng bình quân hàng năm của kim ngạch ngoại thương Trung Quốc
đạt 15,4 % trong thời kì mở cửa. Năm 1998 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
tài chính tiền tệ Châu á, ngoại thương Trung Quốc giảm nhẹ với mức 0.4 % so
với năm trước, tổng kim ngạch đạt 324 tỷ USD trong đó xuất khẩu đạt 283,8 tỷ
Có thể chia cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu của Trung Quốc thành 4 loại như
sau:
Các loại sản phẩm sơ cấp mà chủ yếu là nông sản và khoáng sản
Các sản phẩm công nghiệp nhẹ, bán thành phẩm sử dụng nhiều lao động
Sản phẩm công nghiệp của các ngành sử dụng vốn tập trung(công nghiệp
nặng, hoá chất )
Sản phẩm sử dụng kĩ thuật cao công nghệ tiên tiến (điện tử, máy vi tính )
Trước kia hàng xuất khẩu chủ yếu của Trung Quốc là nguyên liệu khô và các
thành phẩm sử dụng nhiều lao động(nhóm các hàng truyền thống loại 1 và 2) như
: than , dầu mỏ, quần áo, đồ chơi trẻ em, hàng đệt may và thủ công mỹ nghệ. Hiện
nay, Trung Quốc đã coi trọng và bắt đầu tăng nhanh xuất khẩu các thành phẩm có
hàm lượng kĩ thuật cao hơn(nhóm 2-loại 3 và 4) như các sản phẩm hóa chất, điện
tử, máy tính tỉ trọng các thành phẩm công nghiệp nói chung trong tổng xuất
khẩu đã tăng từ 40,5% năm 1978 lên gần 80% trong những năm đầu thập kỷ 90.
Về phương châm chiến lược, Trung Quốc chia chiến lược xuất khẩu của họ thành
3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: chuyển từ xuất khẩu các sản phẩm thô, sơ cấp sang xuất
khẩu các sản phẩm công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động.
Giai đoạn 2: chuyển từ xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nhẹ và
bán thành phẩm sử dụng nhiều lao động sang xuất khẩu các thành
phẩm công nghiệp cần nhiều vốn mà chủ yếu là các sản phẩm công
nghiệp nặng –hóa chất.
Giai đoạn 3: Tập trung vào coi trọng xuất khẩu các sản phẩm sử dụng
kĩ thuật cao, công nghệ tiên tiến.
Trong những năm tới cơ cấu hàng xuất khẩu của Trung Quốc vẫn là các sản phẩm
công nghiệp nhẹ , công nghiệp dệt và nguyên liệu. Tuy nhiên, xét theo khả năng
11
thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các cơ sở chế tạo máy, tỷ trọng may móc thiết
bị xuất khẩu sẽ tăng đáng kể.
hàng hoá xuất khẩu. Hoạt động này thu được kết quả trên cơ sở tăng lượng khai
thác và mở rộng thị trường buôn bán. Năm 1987, Trung Quốc đã xuất 27,2 triệu
tán dầu,13,5 triệu tấn than ,trong đó 80% là sang Nhật, 20%, sang Mỹ. Bên cạnh
đó, Trung Quốc còn xuất một số loại nông phẩm sang thị trường Mỹ .úc, Pháp
b.Về nhập khẩu: Trong những năm đầu thực hiện mở cửa, Trung Quốc không
thực hiện tự do nhập khẩu nhưng chính sách thương mại của Trung Quốc lại là
nhằm thúc đẩy tiến bộ KHKT và phát triển kinh tế trong nước tăng khả năng xuất
khẩu, tiết kiệm ngoại tệ nên TQ phải lựa chọn những khoản mục nhập khẩu phù
hợp, từ đó duy trì sự cân bằng thương mại.
Chính sách của TQ là ưu tiên nhập khẩu những laọi máy móc và kỹ thuật tiên tiến
phục vụ công cuộc hiện đại hoá nền kinh tế đặc biệt để đáp ứng các yêu cầu phát
triển về năng lượng, giao thông vận tải và xây dựng cơ sở hạ tầng. Ngoài ra
Trung Quốc cũng coi nhập khẩu các loại nhu yếu phẩm và những loại hàng hoá
mà thị trường trong nước thiếu hụt. Bên cạnh đó các chính sách thương mại cũng
thường xuyên được điều chình để thay đổi cơ cấu nhập khẩu, làm cho cơ cấu này
trở nên hợp lý hơn.
Trong những năm 70, cùng với sự phát triển của các mối quan hệ đối ngoại và
nhu cầu phát triển kinh tế quốc dân, khối lượng nhập khầu của Trung Quốc tăng
rất nhanh, đặc biệt trong ba năm liên tiếp 1977-1979.Tổng lượng nhập khẩu của
ba năm này bằng một nửa giá trị nhập khẩu trong cả thập kỷ 70. So với thập kỷ
60, tỷ lệ nhập khẩu tư liệu sản xuất tăng từ 71,6% lên 81%. Tương ứng tỷ lệ nhập
khẩu hàng tiêu dùng giảm từ 28,4% xuống còn 19%. Trong thời gian này, ngoài
máy móc thiết bị, TQ còn nhập nhiều loại nguyên vật liệu và hàng tiêu dùng khác
13
như: thép, nhôm, đồng, cao su,hoá chất công nghiệp, gạo, bông để phát triển
kinh tế phục vụ chương trình “ Bốn hiệ đại hoá”. Từ năm 1972 đến năm 1979,
TQ đã nhập khẩu 367 lại hang háo với tổng giá trị 13,56 tỷ USD.
Sang thập kỷ 80, cả nước TQ đắm mình trong công cuộc cải cách và xây
công ăn việclàm cho 17,5 triệu người, bằng 10% lao động trong khu vực phi nông
nhgiệp. Mặc dù tỷ lệ vốn đầu tư thực hiệnkhá cao ,gần 50%; có luật và chính sách
đầu tư nhất quán nên thu hút được vốn của người Hoa ở Hồng Kông, Ma cao,Đài
Loan lên tới 62% tổng vốn đầu tư nước ngoài và trên 64% vốn đầu tư thựchiện
trong cả thời kỳ 1979-1997. Tuy nhiên một số năm gần đây đầu tư nước ngoài
giảm sút. Năm 1998 FDI* chỉ đạt 54 tỷ USD. Theo tính toán và công bố của Bộ
ngoại thương và kinh tế đối ngoại, từ nay đến năm 2005 Trung Quốc dự tính cần
cầu đầu tư vào trong thiết bị khoảng 1000 tỷ USD để phát triển kinh tế. Đây là
một cơ hội để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Trung Quốc .
Các nhà đầu tư quốc tế nhận xét răng, cách đây 20 năm , Trung Quốc hoàn
toàn là một “mảnh đất hoang” về đầu tư quốc tế. Song nhờ cố gắng mở rộng
đường để thu hút vốn đầu tư nước ngoài đến nay Trung Quốc đã trở thành mảnh
đất mầu mỡ cho các nhà đầu tư ChâuÁvà thế giới. Từ năm 1979 đến năm 1997,
Trung Quốc đã thu hút được một lượng đầu tư từ bên ngoài đạt 348,35 tỷ USD.
Trong đó 63% là FDI , đạt trên 220 tỷ USD từ 100 nước và khu vực vào trên 20
ngành nghề. Năm 1998, dù có chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ
ChâuÁnhưng lượng đầu tư vào Trung Quốc vẫn tăng, tuy mức tăng không lớn
như mấy năm trước. Các hợp đồng trị giá 52,1 tỷ USD tăng 2/5 so với năm 1997;
mức sử dụng thực tế là 58,9 tỷ USD , trong đó FDI là 45,6 tỷ USD tăng 0,7%.
Nhờ những cố gắng trong thu hút vốn nước ngoài từ năm 1993 Trung Quốc trở
15
thành nước đứng đầu các nước đang phát triển, đứng thứ 2 sau Mỹ và giữ được vị
thế đó trong 6 năm liền.
Sử dụng cốn đầu tư trực tiếp đã trở thành một bộ phận quan trọng, gắn liền với
nềnkinh tế quốc dân của Trung Quốc. Nhất là từ sau 1992 tới nay, lĩnh vực thu
hút FDI ở Trung Quốc không ngừng được mở rộng, quy mô không ngừng được
gia tăng,trình độ khôngngừng được nâng cao. Từ năm 1993-1997 trong 5 năm
liền Trung Quốc là nước thu hút vốn FDi nhiều nhất trong các nước đang phát
triển và thứ hai toàn cầu sau Mỹ. Tính đến cuối năm 1998 đã có 324.712 xí
Trung Quốc đã từ một nước kém cỏi về mở cửa du lịch đã trở thành một nưcớ
đứng thứ 8 trên thế giới về thu nhập do du lịch mang lại, chỉ sau các nước: Mỹ,
Ý, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Đức, Áo.
Ngoài ra du lịch cũng là một trong những thành tựu về mở cửa đối ngoại của
Trung Quốc với chủ trương mở cửa đón khách du lịch nước ngoài để thu ngoại tệ.
Năm 1978 mới chỉ có 1,8 triệu lượt khách nhập cảnh vào du lịch Trung Quốc
nhưng đến năm 1997 đã lên tới 57,588 triệu lượt người, tăng 31 lần vớimức tăng
bình quân hàng năm là 20%. Năm 1998 mức doanh thu ngoại tệ từ ngành này đạt
12,6 tỷ USD, tăng 45 lần so với năm 1978, mức tăng trung bình hàng năm là
22,4%. Thời gian 1978-1998 thu ngoại tệ từ du lịch của TQ đã đứng hàng thứ 7
trên thế giới.
TQ cũng mở rộng cửa cho người Trung Quốc ra nước ngoài du lịch. Năm
1997 công dân Trung Quốc xuất cảnh đạt 8,1 triệu lượt người, tăng gấp 4 lầ so
với năm 1978.
Hiện nay ngành du lịch quốc tế Trung Quốc được liệt vào danh sách những
nước du lịch lớn của thế giới.Ví như, đón tiếp khách quốc tế của TQ đã đứng thứ
17
sáu thế giới, còn mức thu ngoại tệ từ du lịch đã từ thứ 41(1978) vươn lên vị trí số
8 trên thế giới.
Đi đôi với sự phát triển của nganh du lịch, trong cả nước đã xây dựng và đưa
vào hoạt động hơn 5.200 khách sạn với hơn 700 ngàn phòng, doanh thu đat trên
80 tỷ NDT(khoảng trên 10 tỷ USD) ngoài ra hàng năm số khách du lịch trong
nước cũng lên tới hàng chục triệu lượt người.
Hai mươi năm mở cửa đối ngoại ngành du lịch Trung Quốc đã trở thành một
trong những ngành phát triển sống động nhất của nền kinh tế quốc dân, trở
thành ngành mới tạo ra ngoại tệ cho Trung Quốc.
III Những vấn đề đạt ra trong quá trình cải cách:
1.Về chính sách:
có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là những công ty xuyên quốc gia; có
những sản phẩm của một số xí nghiệp vốn nước ngoài hầu như lũng đoạn
thị trường Trung Quốc. Khoảng từ 20-40% thị trường của một số ngành ở
Trung Quốc đã bị các nhãn hiệu vốn đầu tư nước ngoài chiếm lĩnh, các kĩ
thuật chủ yếu cũng bị các nhà buôn nước ngoài nắm giữ.
Với tình trạng nêu trên đã gây nên một áp lực lớn đối với những xí nghiệp
sở hữu nhà nước và xí nghiệp tư nhân ở Trung Quốc .
Thứ tư: Khi mở cửa , Trung Quốc lại bị bất lợi về quản lý, chưa hoàn thiện
đầy đủ những biện pháp và chính sách hữu quan.
Thời kỳ đầu cải cách – mở cửa còn tồn tại nhiều vấn đề như nhập khẩu mù
quáng, trùng lặp, kết cấu bât hợp lý về thu hút vốn nước ngoài phiền hà
về thủ tục hành chính, trật tự buôn bán xuất nhập khẩu hỗn loạn.
19
Một số biện pháp và chính sách của Trung Quốc còn có nhiều khoảng
cách xa so với thông lệ quốc tế, chưa thích hợp với nhu cầu phát triển mở
cửa đối ngoại.
Thứ năm: Sức cạnh tranh quốc tế của Trung Quốc còn thấp . Trong quá
trình cải cách mở cửa đối ngoại, sức cạnh tranh mang tính tổng hợp quốc
tế tuy được nâng cao hơn nhưng nhìn chung còn lạc hậu, có một số lĩnh
vực chưa có gì lạc quan ví như: sức cạnh tranh về xuất khẩu của Trung
Quốc xếp hàng 33 của thế giới, xếp thứ 30 về sức cạnh tranh mặt hàng hối
đoái, xếp 42 sức cạnh tranh quốc tế về hệ thông tài chính tiền tệ, xếp thứ
31 sức cạnh tranh mở cửa quốc tế. Nhìn chung sức cạnh tranh quốc tế của
Trung Quốc còn chưa cao.
* Các chính sách cơ bản:
Trong thời gian tới TQ sẽ tăng cường các hoạt động mở mang thị trường theo
nhiều phương vị, nhiều tầng nấc, nhiều phương thức mà trọng tâm là đa dạng hoá
thị trường với trọng điểm là khu vực kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương(APEC)
và các nước lân cận. Trước mắt Trung Quốc sẽ thực hiện các chính sách cơ bản
chịu những rủi ro nhất định.
Thế giới hiện nay đang phát triển theo xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá về
kinh tế là cho mỗi quốc gia có sự phát triển đan xen phức tạp hơn giữa trong nước
và ngoài nước .
Mặt trái của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam Á (1997) đã
mách bảo cho người Trung Quốc cần phải tăng cường phòng ngừa các loại rủi ro
từ bên ngoài đểduy trì an ninh kinh tế cho quốc gia. Xuất phất từ thực tiễn của hai
thập niên mở cửa kinh tế đối ngoại và sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế vĩ mô
của Trung Quốc để xem xét, thì TQ còn nhiều mặt chưa thích ứng với yêu cầu
phát triển của thị trường quốc tế. Cho nên Trung Quốc một mặt phải kiên trì mở
21
cửa đối ngoại, mặt khác phải tiếp tục kiên trì cải cách. Cải cách đòi hỏi phải tiếp
tục mở cửa và mở cửa cần phải tiếp tục cải cách.
Trung Quốc hoàn toàn có cơ sở để tin rằng, bước sang thế kỷ tới xu thế mở
cửa còn mở rộng hơn nữa để đi ra thế giới, hướng tới tương lai. Đây là lời kêu gọi
của thế kỷ mới- thế kỷ 21 và đây cũng là sự phát triển tất yếu của lịch sử.
KẾT LUẬN
Những thành tựu được ghi nhận của TQ trong thời kỳ cải cách – mở cửa, hiện
đại hoá đất nước đã thể hiện sức sống của CNXH, là một thực tế sinh động làm
tiêu tan ảo tưởng của những kẻ cho rằng “ chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung” sau
thất bại của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, bác bỏ luận điểm vũ đoán của những
người cho rằng CNXH không thể tạo ra tốc độ phát triển nhanh về kinh tế xã hội
bằng CNTB.
Tuy nhiên, xây dựng CNXH là một sự nghiệp mới mẻ, đòi hỏi sự sáng tạo
không ngừng và nỗ lực vượt bậc giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình
phát triển.
Hiện nay Trung Quốc đã hội tụ được những nhân tố phát triển ở mức chưa
từng có trong 50 năm qua.Trung Quốc đã chuẩn bị sẵn hành trang đi vào thế kỷ
21. Nhưng tuy vậy khó khăn và thách thức trên chặng đường đổi mới đối với
Thứ hai, việc quốc tế hoá về lao động và sản xuất đã thúc đẩy mối quan hệ qua lại
một cách chặt chẽ hơn giữa các nước và khu vực trên thế giới, xu hướng quốc tế
hoá và khu vực hoá kinh tế ngày càng tăng .
Thứ ba, để rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển,nhiều nước đang phát
triển đã tăng cường hợp tác, tránh xung đột lẫn nhau nhằm thúc đẩy sự phát triển
lành mạnh của quan hệ kinh tế quốc tế.
23
Thứ tư, gần đây, nhiều nước tư bản đã nới lỏng chính sách cấm vận kinh tế và
nhiều nước XHCN đã đổi mới về hợp tác quốc tế, khiến cho hợp tác quốc tế hiện
nay trở thành nhu cầu của nhiều nước.
Thứ năm, trong thời đại hiện nay, mỗi nước muốn phát triển phải dựa vào sự phát
triển của nền kinh tế thế giới, xu thế này buộc các nước phải đi vào thời kỳ mở
cửa.
Thứ sáu, cuối những năm 70 trở đi có xu hướngcải tổ và mở cửa ở nhiều nước
SHCN, nhằm chuyển đổi nền kinh tề từ tập trung sang nền kinh tế thị trường.
Thứ bảy, sau cách mạng văn hoá, Trung Quốc đã chú trọng đến mở cửa với bên
ngoài, chỉ tính riêng trong năm 1978 có tới 13 vị lãnh đạo cấp cao của Trung
Quốc với 21 lần đi thăm và khảo sát ở 51 nước trên thế giới, riêng Đặng Tiểu
Bình đã bốn lần thăm 8 nước.
Thông qua các chuyến tham quan và khảo sát đó, nhiều vị lãnh đạo Trung Quốc
đã có nhận thức mới về xu thế phát triển của thế giới như sau:
Trong thời đại hiện nay, mối quan hệ kinh tế quốc tếngày càng chặt chẽ, bất cứ
nước nào muốn phát triển đều cần phải mở cửa, xây dựng CNXH trên cơ sở còn
lạc hậu như Trung Quốc càng đòi hỏi phải chú trọng hơn nữa sự giao lưu và hợp
tác về kinh tế, kỹ thuật với bên ngoài, cố gắng thu hút thành quả văn minh của thế
giới, nhằm từng bước thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển, bế quan toả
cảng(đóng cửa) chỉ ngày càng lạc hậu hơn.
Tại Hội nghị TW 3 khoá XI(tháng 12-1978) TQ đưa ra chính sách làm cho nền
kinh tế sống động và mở cửa với bên ngoài nhằm thực hiện bốn hiện đại đất nưcớ
nước và vùng lãnh thổ phát triển cao về công nghiệp. Năm 1980, khu vực các
nước công nghiệp phát triển chiếm khoảng 55% doanh số ngoại thương của
Trung Quốc . Tỷ lệ này đang suy giảm dần: năm 1987 còn 50%, năm 1990 còn
45,6% bù vào đó là thị trường các nước đang phát triển.
25
Về mặt địa lý thị trường, hàng xuất khẩu của Trung Quốc chủ yếu được đưa sang
6 khu vựclà:
1. Hồng Kông, Ma Cao 4. Tây âu
2. Nhật Bản 5. SNG và Đông Âu
3. Bắc Mỹ 6. Đông Nam Á
Sáu khu vực này chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc .
Đứng đầu danh sách các bạn hàng buôn bán của Trung Quốc trong một thời gian
dài là Hồng Kông(khoảng 45% lượng hàng xuất khẩu của Trung Quốc năm
1994). Đây là cơ sở tái xuất khẩu cơ bản của TQ, trước hết sang Đài Loan, sau đó
là sang các thị trường : Mỹ và Châu Âu. Khoảng 60% lượng hàng xuất khẩu của
Trung Quốc sang Hồng Kông được tiêu thụ ở các nước khác.Khoảng 75% hàng
nhập từ Hồng Kông sang Trung Quốc được sản xuất ở các nước thứ ba. Hơn một
nửa hàng xuất nhập khẩu trong buôn bán Trung Quốc – Hồng Kông là liên kết
sản xuất trên cơ sở gia công- lắp ghép.
Từ năm 1993,bạn hàng lớn nhất của Trung Quốc là Nhật Bản( buôn bán hai chiều
đạt 39,34 tỷ USD). Thứ hai là Hồng Kông (32,54 tỷ USD) và tiếp theo là Hoa
Kỳ(27,65 tỷ USD). Buốn bán gián tiếp TQ- Đài Loan (14,39 tỷ USD) đứng thứ
tư.
Năm 1995, các bạn hàng lớn nhất của Tq vẫn là Nhật Bản , Hồng Kông,
Mỹ,EU,ASEAN, Đài Loan. Tổng kim ngạch thương mạu của Trung Quốc với 7
bạn hàng này lên tới 266,52 tỷ USD(1995) chiếm 94,9 % tổng kim ngạch thương
mại của Trung Quốc . Trong số này, Nhật bản là bạn hàng lớn nhất còn TQ là bạn
hàng quan trọng thứ hai của Nhật.Quan hệ thương mại Trung Quốc –Nhật lớn thứ
tư trên thế giới, sau các quan hệ Mỹ- Canada, Mỹ- Nhật,Pháp - Đức, với khối