1
z
LUẬN VĂN:
Giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát
triển từ sau chiến tranh lạnh đến nay -
Thực trạng và triển vọng
thời đặt ra nhiều vấn đề mới phức tạp trong phương thức lãnh đạo, tập hợp lực lượng
của các đảng cộng sản, công nhân quốc tế, nhất là ở các nước TBPT.
Không thể phủ nhận một sự thật là các nước TBPT chính là cái nôi mà gia cấp
công nhân (GCCN) đã ra đời và phát triển. Phong trào công nhân (PTCN) và công
đoàn ở các nước này có truyền thống lâu đời nhất, tích lũy được nhiều kinh nghiệm
thực tế phong phú trong đấu tranh để tồn tại, phát triển và hướng tới một xã hội tương
lai tốt đẹp - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng GCCN ở các
(1)
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX.,
Nxb CTQG, H. 2001, tr 64 3
nước TBPT từ những biến đổi cơ cấu giai cấp -xã hội, từ số lượng, chất lượng đến
những thay đổi trong nội dung, hình thức đấu tranh với giới chủ tư sản là những vấn đề
rất cần thiết và cấp bách cả về lý luận lẫn thực tiễn đối với các đảng cộng sản (ĐCS),
trong đó có Đảng ta. Việc phân tích những biến động của GCCN ở các nước TBPT sẽ
góp phần làm rõ và kiểm chứng tính khoa học và thực tiễn trong các nhận định đánh
giá và các giải pháp được Đảng ta đưa ra nhằm xây dựng GCCN Việt Nam tại Nghị
quyết Trung ương 6 - khóa X.
Nhằm phục vụ trực tiếp công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị và thực
tiễn về phong trào cộng sản và công nhân quốc tế (PTCS-CNQT) trong giai đoạn hiện
nay tại hệ thống Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, đồng thời góp
phần vào công tác tư tưởng lý luận của Đảng ta trong thời điểm Đảng đang tích cực
triển khai nghiên cứu bổ sung, phát triển Cương lĩnh và chuẩn bị các văn kiện cho Đại
hội lần thứ XI, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Giai cấp công nhân ở các nước tư
bản phát triển từ sau chiến tranh lạnh đến nay - Thực trạng và triển vọng” làm đề
tài khoa học cấp bộ năm 2009.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tháng 11-2004, tạp chí “Động thái lý luận nước ngoài” của Trung Quốc đăng
bài của Maicơnhepsi (Mỹ) với tiêu đề “Giai cấp công nhân vẫn là lực lượng chính trị
quan trọng nhất”. Tác giả phân tích nguyên nhân cơ bản của những tiêu cực trong
phong trào công nhân (PTCN) ở các nước phương Tây, đặc biệt là ở Mỹ, đồng thời chỉ
rõ GCCN vẫn là giai cấp lãnh đạo phong trào có thể làm thay đổi, thậm chí lật đổ chủ
nghĩa tư bản (CNTB). Trong bài “Chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội trong thiên niên kỷ
mới” của Tedgrant và Robsewell (www.marxist.com) nêu rõ, sức mạnh của GCCN cả
về số lượng và tình đoàn kết quốc tế đang gánh trên vai định mệnh của xã hội và tương
lai của nhân loại.
Tác giả An Viễn Triệu với bài “Cách mạng khoa học kỹ thuật với giai cấp công
nhân” đăng trên tạp chí “Trào lưu tư tưởng đương đại Trung Quốc”, số 1-2003 nhấn
mạnh, trong xã hội đương đại, khoa học - kỹ thuật (KHKT) càng phát triển lành mạnh
thì càng có lợi cho việc thực hiện quyền lợi kinh tế, chính trị, văn hóa của GCCN. Phát
triển lành mạnh KHKT và vứt bỏ sự tha hóa của KHKT là điều kiện căn bản để cuối 5
cùng xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập xã hội hoàn toàn mới, thực hiện triệt để giải
phóng GCCN.
Trong bài viết “Sự chuyển biến mang tính lịch sử về hình thái tổ chức của đảng
cộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa” đăng trên tạp chí “Nghiên cứu chủ nghĩa xã
hội” (Trung Quốc), số 6- 2007, giáo sư Nhiếp Văn Lân nêu rõ: từ những năm 70 của
thế kỷ XX, đặc biệt khi Liên Xô tan rã, lý luận và thực tiễn của ĐCS ở các nước tư bản
có thay đổi to lớn và sâu sắc. Sự chuyển biến về hình thái tổ chức của ĐCS là có tính
lịch sử và quan trọng nhất: từ chính đảng đội tiên phong chuyển thành chính đảng
mang tính quần chúng hiện đại. Ngoài ra có thể kể đến một số công trình khác như:
“G8 và hơn tỷ người nghèo trên thế giới” của Paul Collier
(http://www.internationalepolitik.de); “Chủ nghĩa xã hội dân chủ: ý thức hệ của giai
cấp công nhân châu Âu” của Tào á Hùng, Trương Phượng Quyên (tạp chí “Nghiên
cứu chủ nghĩa xã hội” (Trung Quốc), số 3-2007);“Nền kinh tế mới và phong trào công
Việt Nam, Tin Phong trào công nhân công đoàn quốc tế, số 11+12/2006); “Việc làm ở
Pháp: một số vấn đề đặt ra” (Lệ Thuý, Những vấn đề chính trị - xã hội, Viện Thông
tin khoa học, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, số 16/2007); “Các tổ chức công đoàn
trên thế giới” (Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội 1999) v.v
Trên các báo, tạp chí và website hiện nay cũng có những bài viết phân tích,
đưa tin về GCCN và công đoàn ở một số nước TBPT. Đây là một trong những nguồn
tư liệu quan trọng để khái quát, tổng hợp cho các nội dung lý luận trong đề tài. Thông
tin mới, cập nhật về GCCN ở các nước TBPT hiện nay chỉ có thể tìm được trên các
trang website của các tổ chức công đoàn ngay tại các nước đó. Ngoài ra, có thể thu
thập các thông tin thời sự liên quan đến GCCN các nước TBPT trên Tin tham khảo đặc
biệt của Thông tấn xã Việt Nam, các trang quốc tế của báo Nhân dân, báo Quân đội
nhân dân, trang tin của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, v.v
Xét một cách tổng quát, kết quả của tất cả công trình nghiên cứu trên là nguồn
tài liệu quan trọng và cần thiết, có thể khai thác, kế thừa và tham khảo cho việc thực
hiện đề tài “Giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển từ sau chiến tranh
lạnh đến nay - Thực trạng và triển vọng”.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu đối tượng chính là giai cấp
công nhân - giai cấp những người lao động ở các nước TBPT. 7
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được giới hạn nghiên cứu chủ yếu về giai cấp
công nhân ở 7 nước TBPT thuộc nhóm G7, ngoài ra còn nghiên cứu về GCCN Bắc Âu
và Nam Âu với những nội dung chính là:
+ Sự biến động cơ cấu GCCN trong điều kiện kinh tế tri thức và TCH.
+ Sự biến động về số lượng và chất lượng.
+ Sự thay đổi về mục tiêu, nội dung, phương pháp đấu tranh của GCCN với
giới chủ và chính phủ tư sản hiện hành.
+ Về thời gian: được giới hạn từ sau chiến tranh lạnh đến nay. Phần thứ nhất
bối cảnh mới của thời đại ảnh hưởng đến giai cấp công nhân ở các nước tư bản
phát triển
I. Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp công nhân
Khi đề cập đến giai cấp công nhân, Mác và Ăngghen đã sử dụng nhiều thuật
ngữ khác nhau như những cụm từ đồng nghĩa, có nội hàm giống nhau để chỉ giai cấp
này như: "giai cấp vô sản", "vô sản đại cơ khí", "vô sản đại công nghiệp", "giai cấp
những người lao động làm thuê của thế kỷ XIX", "giai cấp vô sản hiện đại", "giai cấp 9
công nhân hiện đại" Các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học không chỉ
dừng lại ở việc chỉ ra giai cấp vô sản, giai cấp công nhân là gì, mà quan trọng hơn, giai
cấp này phải làm gì để tự giải phóng mình? Giai cấp vô sản là gì? vấn đề này đã được
C.Mác, Ph.Ănghen đề cập trong nhiều tác phẩm, và hai ông đã nêu nhiều thuộc tính
của giai cấp vô sản.
Trong tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen- lời nói
đầu”, Mác đã chỉ ra nguồn gốc kinh tế, xã hội, xu hướng phát triển của giai cấp vô sản
(GCVS), và Mác nêu rõ: ở Đức GCVS chỉ mới bắt đầu hình thành nhờ sự phát triển của
công nghiệp. Giai cấp vô sản ra đời gắn với công nghiệp, nó là sản phẩm của công
nghiệp. Về mặt xã hội, GCVS nảy sinh và hình thành trong quá trình tan rã của xã hội
phong kiến chuyển lên chế độ TBCN, do sự phân rã của tất cả các đẳng cấp, trước hết là
sự phân rã của đẳng cấp trung gian. Xu hướng phát triển của GCVS là đi tới chỗ xóa bỏ
nó với tư cách là một giai cấp
(2)
liên quan trực tiếp với mối quan hệ của họ với công nghiệp
(4)
.
Trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”, Ănghen định
nghĩa giai cấp vô sản như sau: “ Giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ
sống dựa vào việc bán lao động của mình, chứ không phải sống dựa vào lợi nhuận của
bất cứ số nhà tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết,
toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình
chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh
tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, GCVS hay giai cấp của những người vô sản
là giai cấp lao động trong thế kỷ XIX … Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công
nghiệp sản sinh ra”
(5)
.
Lần đầu tiên, Mác và Ăngghen đã trình bày khái niệm GCVS tương đối đầy đủ
trên các phương diện trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và có thể khái quát lại với
một số điểm chủ yếu là: Thứ nhất, về nguồn gốc kinh tế, GCVS ra đời gắn với đại
công nghiệp, là sản phẩm của chính bản thân nền đại công nghiệp, nền sản xuất xã hội
hoá ngày càng cao. Thứ hai, về nguồn gốc xã hội, GCVS được tuyển mộ từ tất cả các
giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Thứ ba, những đặc trưng chủ yếu của GCVS hiện đại
bao gồm: không có tư liệu sản xuất; về lợi ích cơ bản, đối lập trực tiếp với GCTS;
GCVS là hiện thân của phương thức sản xuất (PTSX) tiên tiến; có tính quốc tế, tinh
thần quốc tế vô sản, tính tiên phong, tinh thần cách mạng triệt để, đoàn kết giai cấp,
tính tổ chức kỷ luật cao. Thứ tư, bản chất quốc tế của GCVS được quy định bởi quá
trình quốc tế hoá sản xuất công nghiệp ; đồng thời GCVS có bản sắc dân tộc, gắn với
mỗi dân tộc cụ thể, trở thành "giai cấp dân tộc" và chịu trách nhiệm trước hết với dân
tộc mình
(6)
. Thứ năm, quá trình đấu tranh giữa GCVS với GCTS dẫn đến sự phân hoá
nhau về địa vị của họ trong hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau
về quan hệ của họ (thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa
nhận) đối với TLSX, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và về phần của
cải xã hội ít hay nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập
đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác. Do chỗ các tập đoàn đó địa
vị khác nhau trong chế độ kinh tế - xã hội nhất định.
Về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: Có thể diễn đạt khái quát nhất
những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin về sứ mệnh lịch sử của GCCN là
tiến hành sản xuất hiện đại và đấu tranh cách mạng để giải phóng con người. Sứ mệnh
lịch sử đó biểu hiện qua những nội dung cơ bản sau:
Một là, thường xuyên và trực tiếp nhất gắn với quá trình tổ chức, phát triển sản
xuất xã hội với trình độ KHKT ngày càng hiện đại. Tách rời sản xuất hiện đại, GCCN 12
không còn sứ mệnh lịch sử với những nội dung tiếp theo. Đó là một nhận thức khoa
học rút ra từ thực tế lịch sử hình thành, phát triển GCCN. Sứ mệnh lịch sử của GCCN
không chỉ bắt đầu với nội dung "giành chính quyền", mà trái lại có nội dung rộng lớn
hơn kể cả trước khi giành chính quyền. Từ nội dung sản xuất hiện đại và đấu tranh
cách mạng mới dẫn đến nội dung "giành chính quyền".
Hai là, thông qua Đảng tiên phong của mình, GCCN lãnh đạo và tổ chức quá
trình giành chính quyền về tay mình và nhân dân lao động xoá bỏ chế độ tư bản chủ
nghĩa (và các chế độ tư hữu, áp bức bóc lột), xoá bỏ GCTS (và các giai cấp bóc lột),
giải tán chính quyền Nhà nước của các chế độ cũ, thành lập chính quyền của GCCN và
nhân dân lao động, do Đảng của GCCN nhân lãnh đạo.
Ba là, GCCN thông qua Đảng của mình lãnh đạo, tổ chức thực hiện quá trình
củng cố, bảo vệ chính quyền, bảo vệ đất nước và đồng thời xây dựng đất nước theo
định hướng XHCN trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, con người ,
để từng bước hình thành xã hội XHCN và cộng sản chủ nghĩa trên thực tế ở mỗi nước
và trên toàn thế giới. Đây là nội dung cơ bản, quyết định nhất trong sứ mệnh lịch sử
CNTB (trong đó có trí thức, đại bộ phận là người lao động bị bóc lột "chất xám") thì
chính GCCN luôn được bổ sung một lực lượng trí thức và những người lao động khác,
giác ngộ, gia nhập GCCN; thậm trí một số trí thức giác ngộ đã giúp GCCN hình thành
hệ tư tưởng, hiểu về sứ mệnh lịch sử của mình, tiến tới hình thành Đảng tiên phong để
lãnh đạo phong trào. Đó cũng là sự quy định khách quan đối với sứ mệnh lịch sử của
GCCN mà không giai cấp - tầng lớp nào có được. Thứ tư, tính quy định khách quan,
cơ bản nhất và mang ý nghĩa tổng hợp cả về địa vị kinh tế lẫn về chính trị - xã hội đối
với sứ mệnh lịch sử của GCCN là: Ngay từ trong chế độ TBCN đã nẩy sinh mâu thuẫn
cơ bản nhất, đó là mâu thuân về mặt kinh tế, giữa LLSX xuất phát triển, với trình độ xã
hội hoá, quốc tế hoá ngày càng cao với quan hệ sản xuất (QHSX) dựa trên chế độ
chiếm hữu tư nhân TBCN về TLSX mâu thuẫn đó biểu hiện về mặt chính trị - xã hội là
mâu thuẫn giữa GCCN với GCTS. Cả hai mặt của mâu thuẫn cơ bản này không thể
giải quyết triệt để trong khuôn khổ chế độ tư bản chủ nghĩa, nên tất yếu dẫn tới cách
mạng XHCN như một yêu cầu khách quan để giải quyết triệt để mâu thuẫn cơ bản ấy
cho kinh tế, xã hội tiếp tục phát triển cao hơn chế độ TBCN. Lãnh đạo và tổ chức quá
trình cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, chủ nghĩa cộng sản, chỉ có thể là sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và Đảng của nó. Ph.Ăngghen khẳng định: Hoàn
thành được kỳ công ấy, đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại. Còn Lênin
chỉ rõ: "điều chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử 14
toàn thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa"
(7)
.
Như vậy, những đặc trưng của GCVS mà Mác, Ăngghen đã nêu và Lênin tiếp
tục phát triển, khẳng định là phù hợp với điều kiện lịch sử ngày ấy. Những đặc trưng
cơ bản đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Nó là cơ sở phương pháp luận khoa học để
cho chúng ta nghiên cứu giai cấp công nhân hiện đại trong điều kiện lịch sử mới.
II. Sự phát triển của cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại
chiếm khoảng 2%, công nghiệp - chế tạo chiếm khoảng 30 - 40%, khoảng 60% thuộc
về ngành dịch vụ. Cơ cấu nội bộ sản xuất công nghiệp và dịch vụ thay đổi theo hướng
các ngành công nghiệp cổ điển (khai thác nguyên, nhiên liệu, sơ chế ) giảm dần tỷ
trọng và ý nghĩa; cỏc ngành sản xuất, dịch vụ dựa trờn cụng nghệ cú hàm lượng khoa
học kỹ thuật cao ngày càng có vị trí đáng kể. Ngày nay mục tiêu không dừng ở tái sản
xuất mà là lao động sáng tạo để tạo ra giá trị gia tăng cao, nhằm tăng khả năng cạnh
tranh.
Thứ ba: Sự thay đổi cơ cấu kinh tế đó dẫn đến thay đổi cơ cấu nghề nghiệp và
cơ cấu giai cấp trong xó hội, trong đó có cơ cấu của GCCN. Nếu như trong những năm
50 của thế kỷ XX, công nhân công nghiệp “cổ xanh” là thành phần xó hội lớn nhất
trong GCCN ở tất cả các nước TBPT (ở Mỹ công nhân “cổ xanh” chiếm tới 2/5 lực
lượng lao động), thỡ đến thập niên 90, nhóm công nhân này ngày càng giảm sút về số
lượng (ở Mỹ chỉ cũn chiếm ớt hơn 20% lực lượng lao động, thậm chí đến năm 2000
cũn chưa tới 10%). Trong đội ngũ GCCN, có đến 60 - 70% là những người có trỡnh độ
KHKT, là nhân viên trong hệ thống tin học, là người quản lý, nhà giỏo, cỏc nhà khoa
học tạo thành mụ hỡnh cụng nhõn tri thức, người ta cũn gọi họ là tầng lớp trung gian
mới.
Bản thân GCTS cũng biến đổi. Các nhà tư bản gia tộc truyền thống vẫn tiếp tục
tồn tại, nhưng tỷ trọng dần giảm xuống. Địa vị quyết định trong xó hội của giai cấp
chủ sở hữu tư bản cổ điển ngày càng giảm dần. Các công ty ngày nay thường phải huy
động vốn qua hỡnh thức cổ phần hoỏ. Số lượng chủ sở hữu tập thể tăng lên, trong đó
có cả cổ đông thuộc các tầng lớp lao động, trung lưu kể cả những người có vốn là sở
hữu trí tuệ. Số cổ đông lập hội đồng quản trị điều hành công ty chứ không phải các
ông chủ lớn như trước. Một số tầng lớp mới xuất hiện như chủ tịch hội đồng quản trị,
tổng giám đốc, uỷ viên ban giám đốc, giám đốc, nhân viên quản lý và nhõn viờn đại
lý. Họ nắm giữ quyền quyết sách và quyền quản lý kinh doanh của cụng ty, đảm nhận
chức vị cao trong chính phủ, gây ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách của nhà
nước, có vai trũ ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, xó hội của cỏc
nhu cầu đối với người lao động có trỡnh độ cao. Hiện nay, các doanh nghiệp đều cần 17
những lao động biết học tập và biết thích nghi với sự biến đổi của cơ chế thị trường.
Trỡnh độ học vấn cao là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là người lao động phải làm
chủ được tri thức, nhanh chóng áp dụng có hiệu quả những tri thức mà mỡnh đó học
vào sản xuất. Điều đó cần có sự vững vàng trước những biến động của xó hội, cần có
khả năng thích nghi và sáng tạo - cả hai yêu cầu này rất quan trọng để tạo vị thế cho
người lao động có trỡnh độ học vấn cao đứng vững trong cơ chế thị trường. Được
chuẩn bị tốt về mặt trí tuệ và về thái độ nghề nghiệp để tiếp thu công nghệ ngày một
tiên tiến, đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật có trỡnh độ học vấn cao ngày càng thể
hiện là khâu then chốt, là nũng cốt của nguồn nhõn lực, quyết định sự phát triển đất
nước nhanh và bền vững. Thêm vào đó, xu hướng hiện nay là đa năng, tức là kết hợp
giữa năng lực kỹ thuật, khả năng quản lý và tài năng doanh nghiệp (ở đây muốn nói
đến khả năng thích nghi và kỹ năng ứng xử trong xó hội), ba yếu tố này tạo nờn mụ
hỡnh của người lao động mới.
Thứ sáu: Mức độ xó hội húa lao động và tư bản nhanh. Sự phát triển các ngành
kộo theo sự tớch tụ và tập trung vốn, quỏ trỡnh cổ phần húa và xó hội húa tư bản từ đó
cũng phát triển. Cùng với quá trỡnh này, một tầng lớp trung gian hữu sản được hỡnh
thành, xúa nhũa ranh giới cụ thể giữa lao động và tư bản cổ điển. Lao động được xó
hội húa thụng qua việc tổ chức sản xuất trực tiếp giữa cỏc đơn vị làm ra sản phẩm
trong xó hội.
Tuy nhiên, những hậu quả do không đáp ứng và chưa kịp thích nghi với những
biến đổi của KHCN cũng hết sức gay gắt:
Một là, số lượng thất nghiệp của lao động khụng lành nghề trong xó hội mới sẽ
tăng lên vỡ khụng đáp ứng được đũi hỏi của cụng nghệ. Trong xó hội hiện đại, nhân
lực, việc làm không chỉ là vấn đề số lượng mà là vấn đề chất lượng. Mỗi quốc gia
không lường được sự biến đổi và đáp ứng được yêu cầu này của công nghệ sẽ dẫn đến
"khủng hoảng" thừa và thiếu về nhân lực.
Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng KHCN trên thế giới đó thỳc đẩy
mạnh mẽ quá trỡnh TCH. Sự bùng nổ của công nghệ sản xuất hiện đại và kỹ thuật
thông tin đa quốc gia góp phần tạo ra nền sản xuất chung và thị trường chung của thế
giới. Các công ty đa quốc gia (TNCs) đó tổ chức phõn cụng lao động và tổ chức sản
xuất vượt qua biên giới quốc gia. Các công ty này có thể chi phối cả các chính phủ 19
riêng biệt, có cả ngoại giao đoàn và cơ quan tỡnh bỏo cụng nghiệp. Cùng với các thiết
chế quốc tế như ngân hàng liên quốc gia, thị trường chứng khoán liên quốc gia, các
công ty đa quốc gia này đó đẩy nhanh xu hướng gắn chặt hữu cơ nền kinh tế các nước
trên quy mô quốc tế. Sự hỡnh thành một thị trường toàn cầu về việc làm, vốn, công
nghệ và đặc biệt là thông tin đó và đang trở thành hiện thực.
Kết quả của quỏ trỡnh TCH, với việc mở rộng hoạt động và thiết chế quản lý
của cỏc TNCs ra quy mụ toàn cầu là, lao động của hàng triệu công nhân được hợp nhất
một cách trực tiếp về mặt cụng nghệ vào một quỏ trỡnh sản xuất liờn tục thống nhất.
Trong khi ở những giai đoạn trước đây, lao động của họ chỉ được hợp nhất một cách
gián tiếp bởi thị trường mà thôi. Như vậy, CNTB thế giới đó tạo ra khụng chỉ một hệ
thống toàn thế giới thực sự của quỏ trỡnh tỏi sản xuất và lợi nhuận, mà cũn cả “người
công nhân tổng thể toàn thế giới”.
Đồng thời, quá trỡnh này cũng dẫn tới sự phõn cụng lao động quốc tế ngày một
mạnh mẽ, gia tăng sự luân chuyển nguồn nhân lực giữa các quốc gia, khu vực. Điều
này đồng nghĩa với việc, người lao động có cơ hội lớn hơn trong lựa chọn nơi, địa
điểm làm việc. Về lý thuyết, giờ đây người lao động có thể đến làm việc ở bất cứ nơi
đâu, cho bất cứ công ty, xí nghiệp nào trên thế giới. Và thực tế cho thấy, không ít công
ty, xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh thu hút lao động từ rất nhiều quốc gia, khu
vực khác nhau. Cùng với đó, TCH tạo cơ hội cho người lao động của các nước khác
nhau trực tiếp cùng nhau làm việc trong một dây chuyền, xí nghiệp sản xuất nhất định.
Thực tế này giúp cho công nhân, người lao động mang quốc tịch khác nhau, với những
giá trị văn hóa, tín ngưỡng khác nhau không chỉ nhận thức sâu sắc hơn, mà cũn trải
(8)
. Theo thống kê năm 1998 của
IMF, khoảng 12,9 triệu người thuộc tầng lớp có học thức đó di cư từ các nước kém
phát triển hơn sang các nước OECD, trong đó có 7 triệu người đến Mỹ và 5,9 triệu
người cũn lại chủ yếu đến châu Âu
(9)
.
Dũng lao động di cư và nạn chảy máu chất xám ảnh hưởng mạnh mẽ đến cả
nước xuất xứ lẫn nước tiếp nhận. Đối với nước tiếp nhận, dũng người lao động nhập
cư giúp bù đắp nguồn lao động thiếu hụt, tiết kiệm chi phí đào tạo. Bên cạnh đó, lao
động nhập khẩu cũn giỳp đáp ứng nhu cầu về lao động ở những lĩnh vực có tiền công
rẻ mạt hoặc công việc nặng nhọc, nguy hiểm ở các nước phát triển mà người dân bản
xứ không muốn làm như xây dựng, khai thác mỏ và đồn điền, v.v… Nhờ đó, nước tiếp
(8)
The Economist, ngày 28/9/2002.
(9)
Maassey, World in Motion: Understanding Internationale Migration at the
End of the Millennium, Oxford University Press, 1998.
21
nhận lao động nhập cư có thể tiết kiệm được chi phí đầu vào, giữ vững lợi thế cạnh
tranh. Tuy nhiên, lao động nhập cư, nhất là qua con đường bất hợp pháp, cũng gây ra
những tác động tiêu cực nhất định cho nước tiếp nhận. Những nước có số lượng người
nhập cư lớn thường phải chịu sự quá tải về gánh nặng phúc lợi xó hội. Tỡnh trạng
người nhập cư sống tập trung quá mức ở một số vùng nhất định tạo ra sức ép lớn đối
với vấn đề nhà ở, giao thông và các dịch vụ công cộng khác.
Với sự phát triển của TCH, quỏ trỡnh dịch chuyển sản xuất và lao động từ các
nghiệp, nông nghiệp, nếu được cải tạo bằng công nghệ cao, mà giá trị do tri thức mới,
công nghệ mới đem lại chiếm trên hai phần ba tổng giá trị, thỡ những ngành ấy cũng là
ngành kinh tế tri thức. Nền kinh tế gồm chủ yếu các ngành kinh tế tri thức gọi là kinh
tế tri thức.
Những đặc trưng của kinh tế tri thức là thị trường chất xám, mà con người là
vốn quý nhất, nhiều hoạt động kinh tế đó được số hoá và vận hành trên các xa lộ thông
tin, sự chu chuyển thông tin trên các mạng máy tính sẽ trở thành nguồn sống của sự
tăng trưởng kinh tế đối với tất cả các nước. KHCN sẽ thúc đẩy LLSX phát triển lên
một tầm cao mới, kéo theo QHSX cũng thay đổi, quan niệm về sở hữu cũng thay đổi
(trước kia chúng ta quan niệm sở hữu là sở hữu vật chất về TLSX, nay là cả sở hữu trí
tuệ), làm thay đổi cả quan niệm về quản lý (trước kia là quản lý theo thứ bậc, nay là cả
quản lý theo mạng). Trong kinh tế tri thức, nguồn lực con người là yếu tố chủ yếu cạnh
tranh trên thị trường, ưu thế về tri thức ở mỗi quốc gia sẽ dần dần thay thế cho quan
niệm ưu thế về vốn, nguồn nguyên liệu và nhân công rẻ.
Kinh tế tri thức làm biến đổi căn bản cuộc cách mạng công nghiệp. Tức là đồng
thời với việc nâng cao hàm lượng tri thức trong các sản phẩm hàng hoá là một loạt các
thay đổi về LLSX và QHSX mới. Nếu so sỏnh với nền kinh tế cụng nghiệp thỡ cuộc
cỏch mạng cụng nghiệp trong thời kỳ kinh tế tri thức được thể hiện chủ yếu là cách
mạng tri thức, chứ không phải đơn thuần chỉ có cách mạng công nghệ. Công nghiệp
dựa trên cơ sở của cuộc cách mạng tri thức làm cho nội dung và hỡnh thức của cỏc
ngành cụng nghiệp phải chuyển hướng. Các ngành kinh tế chủ yếu sẽ được thay thế
bằng các ngành công nghiệp với hàm lượng tri thức cao. Cơ cấu kinh tế lỳc này khụng
chỉ cú ba khu vực nụng nghiệp, cụng nghiệp và dịch vụ mà thờm một lĩnh vực cụng
nghiệp phần mềm hay cũn gọi là cụng nghiệp tri thức (ngành cụng nghiệp cú hàm
lượng tri thức cao). Đến lúc đó, tỷ trọng trong nông nghiệp và công nghiệp chỉ chiếm
một phần rất nhỏ so với tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp phần mềm trong kinh tế tri 23
thức. Và cơ cấu lao động cũng phải chuyển đổi cho phù hợp với cơ cấu của nền kinh tế
24
không được quyết định bởi những nhân tố tĩnh và có sẵn như tài nguyên thiên nhiên
mà dựa trên sức mạnh của tri thức không có sẵn, phải nỗ lực đầu tư để tạo ra. Tri thức
trở thành nguồn duy nhất tạo ra lợi thế so sánh dài hạn. Công nghệ đổi mới rất nhanh,
vũng đời công nghệ và vũng đời sản phẩm rút ngắn, ngắn hơn vũng đời của thiết bị,
máy móc. Do đó, sự phát triển, sự chiến thắng trong cạnh tranh, chủ yếu phải dựa vào
cái mới (hay đổi mới cái hiện có). Do đó thường xuyên xuất hiện những công ty mới,
những ngành mới và nhiều công ty cũ phải tỡm cỏch chuyển hướng sản xuất linh hoạt
hoặc bị phá sản hoặc phải sát nhập vào các công ty mạnh. Sự chuyển đổi cơ cấu kinh
tế và cơ cấu đầu tư đó làm mất nhiều chỗ làm việc của lao động giản đơn, nhưng lại
tạo ra nhiều việc làm cho lao động trí óc, cho những người lành nghề.
Đối với lĩnh vực phân phối: Trí tuệ trở thành nguồn lực hàng đầu của sản xuất.
Những doanh nghiệp đi đầu trong ứng dụng công nghệ mới tạo ra sản phẩm mới sẽ thu
được tỷ suất lợi nhuận cao hơn mức trung bỡnh. Những ngành kinh tế tri thức, nhất là
ngành cụng nghệ thụng tin thu được lợi nhuận cao hơn những ngành khác. Những
người “siêu giàu” của CNTB trong nền kinh tế công nghiệp là những ông vua thép,
vua dầu hỏa, tức là những người nắm những ngành sản xuất và lưu thông hàng hoá chủ
yếu, cũn những người “siêu giàu” trong thời đại kinh tế tri thức lại là những ông vua
chế tạo máy vi tính, các phần mềm, các chủ hóng viễn thụng, phỏt thanh truyền hỡnh,
tức là những người nắm những ngành sản xuất và lưu thông tri thức. Rừ ràng lợi nhuận
từ cỏc nguồn lực truyền thống ngày càng ớt đi, của cải và lợi nhuận chủ yếu bây giờ
được tạo ra từ thông tin và tri thức.
Những công nhân tri thức cũng được hưởng tiền lương và tiền thưởng tuỳ theo
trỡnh độ tri thức và kỹ năng của mỡnh, tuỳ theo tài sỏng tạo, phỏt minh của mỡnh và
thu nhập cao hơn công nhân cổ xanh và lao động tạp vụ rất nhiều. Hệ thống tiền lương
và tiền thưởng mang nặng tính chất bỡnh quõn sẽ trở ngại cho việc khuyến khớch tớnh
năng động sáng tạo, không phù hợp với kinh tế tri thức.
Cú thể thấy, kinh tế tri thức hỡnh thành và phỏt triển đó làm thay đổi định
hướng phát triển kinh tế từ chỉ vỡ lợi nhuận chuyển sang định hướng phát triển đồng
thuận giữa kinh tế- xó hội- môi trường. Tác động về mặt xó hội thể hiện sự xoỏ bỏ dần
Giai cấp tư sản đó điều chỉnh các quan hệ kinh tế và sở hữu theo hướng xó hội
húa (biểu hiện rừ nhất là cho cụng nhõn được tham gia quản lý thông qua đại biểu
trong hội đồng xí nghiệp theo “chế độ tham dự” và “chế độ ủy nhiệm”; cho người lao