ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ MINH TRANG
VIỆN TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC CỦA NHẬT
BẢN CHO CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á TỪ SAU CHIẾN
TRANH LẠNH ĐẾN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH QUỐC TẾ HỌC HÀ NỘI-2007
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
nay” đã được hoàn thành.
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ, chỉ
dẫn quý báu của các thầy cô giáo Khoa Quốc tế học – Trường đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn. Cho phép tôi được bày tỏ sự cảm ơn chân thành đối với thấy giáo PGS. TS Vũ Văn
Hà, Phó Tổng biên tập Báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, người đã tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành bài luận văn này.
Do điều kiện về thời gian và kiến thức còn hạn chế, bài luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và
những người quan tâm tới đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã tích cực động viên và giúp đỡ để tôi có
thể hoàn thành bài luận văn này.
DANH MỤC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT ADB (Asian Development Bank): Ngân hàng phát triển Châu Á
ASEAN (Association of Southeast asian Nation): Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á
DAC (Development assistance Committee): Uỷ ban hỗ trợ phát triển
EU (European Union): Liên minh Châu Âu
FDI (Foreign Direct Investment): Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
GNP (Gross National Product): Tổng sản phẩm quốc dân
IMF (International Monetary Fund): Quỹ Tiền tệ quốc tế
JBIC (Japan Bank for Internatinal Cooperation): Ngân hàng Hợp tác
quốc tế Nhật Bản
JICA (Japan Internatonal Cooperation Agency): Cơ quan Hợp tác quốc
tế Nhật Bản
12
1.1.4. Nguồn cung cấp ODA chủ yếu
29
1.2 Vài nét về ODA Nhật Bản
31
1.3.Vai trò của ODA đối với các nước đang phát
triển
37
1.3.1. ODA giúp các nước đang phát triển bổ sung nguồn vốn
37
1.3.2. ODA với vấn đề nâng cao kinh nghiệm quản lý, đổi mới công
nghệ
39
1.3.3. ODA hỗ trợ các nước đang phát triển đào tạo nguồn nhân lực,
cải cách thể chế, góp phần xoá đói giảm nghèo
40
Chương 2: ODA CỦA NHẬT BẢN CHO ĐÔNG NAM Á: CHÍNH
SÁCH VÀ THỰC TRẠNG 42
2.1. Sự điều chỉnh ODA của Nhật Bản
2.3.1. Tình hình thu hút ODA Nhật Bản tại Việt Nam
80
2.3.2. Vấn đề sử dụng ODA Nhật Bản tại Việt Nam
84
Chương 3: XU HƯỚNG ODA NHẬT BẢN TRONG KHU VỰC
ĐÔNG NAM Á
94
3.1. Nhu cầu ODA của các nước Đông Nam Á và khả năng đáp
ứng của Nhật Bản
94
3.2. Xu hướng ODA Nhật Bản trong khu vực
98
3.2.1. Giảm tổng lượng ODA nhưng tỷ lệ ODA dành cho các nước
Đông Nam Á vẫn cao
98
3.2.2. ODA Nhật Bản hướng tới phát triển cơ sở hạ tầng mềm
99
3.2.3. Điều kiện cung cấp ODA của Nhật Bản chặt chẽ hơn
100
+ Đánh giá vai trò và hiệu quả sử dụng ODA Nhật Bản đối với sự phát
triển kinh tế khu vực Đông Nam Á, rút ra các kinh nghiệm.
+ Đánh giá kết quả và những khó khăn, bất cập đặt ra trong quá trình
thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA của Việt Nam.
b. Ý nghĩa
* Ý nghĩa khoa học
Nguồn vốn ODA nói chung, ODA Nhật Bản nói riêng đã được đề cập
tới trong nhiều công trình, tài liệu nghiên cứu nhưng không đi sâu vào những
nội dung chính, chính sách tập trung đối với khu vực Đông Nam Á. Một số
công trình nghiên cứu về chính sách ODA Nhật Bản dành cho Đông Nam Á
nhưng chủ yếu trong giai đoạn chiến tranh lạnh. Từ sau chiến tranh lạnh tới
nay, các tài liệu về ODA Nhật Bản trong khu vực tản mạn, không tập trung.
Vì vậy, luận văn là sự tổng hợp, nghiên cứu có hệ thống về chính sách ODA
2
Nhật Bản đối với Đông Nam Á từ sau chiến tranh lạnh tới nay, giai đoạn bối
cảnh quốc tế, quan hệ giữa các nước có nhiều sự thay đổi sâu sắc nhằm mang
lại cái nhìn tổng quát về hình thức viện trợ ODA của Nhật Bản, nhà tài trợ lớn
nhất trên thế giới hiện nay đối với sự phát triển khu vực Đông Nam Á.
* Ý nghĩa thực tiễn
- Nguồn vốn ODA có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển:
+ Cung cấp nguồn vốn cho nước nhận viện trợ xây dựng cơ sở hạ tầng,
giao thông, đường sá…
+ Tạo điều kiện nâng cao trình độ nhân lực thông qua các chương trình
đào tạo nhân lực, góp phần phát triển các vùng kinh tế khó khăn, chậm phát
triển tại nước nhận viện trợ.
+ Thu hẹp khoảng cách kinh tế giữa các vùng, giữa miền núi và đồng
bằng.
đến ODA. Do vậy, luận văn sẽ tập trung phân tích các khía cạnh chính sách
ODA của Nhật cho các nước Đông Nam Á. Hơn nữa quan hệ trên cũng được
khẳng định qua qui mô, cơ cấu và thời gian thực hiện ODA, vì vậy luận văn
sẽ đi sâu xem xét việc cung cấp và thực hiện nguồn vốn này ở Đông Nam Á.
- Trong quá trình phân tích quan hệ trong lĩnh vực tài trợ ODA, luận
văn cũng sẽ mở rộng ở mức độ nhất định sang các khía cạnh thương mại và
đầu tư để so sánh phân tích, lý giải, góp phần làm rõ bản chất và nguyên nhân
của sự thay đổi dòng vốn ODA.
- ODA của Nhật Bản dành cho các nước Đông Nam Á được thực hiện
từ những thập kỷ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Tuy nhiên, phạm vi
nghiên cứu của luận văn được giới hạn từ những năm 1990 đến nay. Đây là
thời kỳ bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều thay đổi, kéo theo sự thay đổi
trong chính sách ODA của Nhật Bản cho Đông Nam Á. 4
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
- ODA không đơn thuần chỉ là nguồn vốn mà ODA chính là sự thể hiện
chính sách của các quốc gia trong quan hệ quốc tế, là lợi ích của các quốc gia,
các nhà kinh doanh. Nói cách khác, ODA không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn
là vấn đề an ninh chính trị. Chính vì vậy, ODA là chủ đề được giới nghiên
cứu quan tâm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này trong nước
và trên phạm vi quốc tế. Trong nước, có một số công trình như: "Quan hệ
Nhật Bản - ASEAN: Chính sách và tài trợ" của Trung tâm nghiên cứu Nhật
Bản (1999). Trong đó, các tác giả tập trung đề cập chính sách ODA của Nhật
thời kỳ chiến tranh lạnh là chính, đồng thời mô tả nguồn gốc vốn ODA của
Nhật Bản cho từng nước ASEAN. Bài viết "Điều chỉnh chính sách ODA của
trạng.
- Chương 3: Xu hướng ODA Nhật Bản trong khu vực Đông Nam Á 5. Nguồn tài liệu
- Các sách về ODA.
- Các bài đánh giá của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
- Các báo và tạp chí.
- Một số trang Website.
6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ODA
1.1. KHÁI NIỆM ODA
1.1.1. Lịch sử hình thành ODA
Thế giới hiện đang tồn tại hơn 100 nước được coi là chậm và đang phát
triển, dân số ở các nước này chiếm tới 80% dân số thế giới, tập trung nhiều ở
Châu Á, Châu Phi. Thực trạng của các nước này là nền kinh tế kém phát triển:
thu nhập bình quân theo đầu người rất thấp và trong tình trạng thiếu vốn
nghiêm trọng. Để thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, các nước này
không còn con đường nào khác là phải nhanh chóng tiến hành quá trình công
nghiệp hoá đất nước. Muốn vậy, mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong kế hoạch
phát triển kinh tế của mỗi nước là phải tạo mức tăng trưởng kinh tế cao.
Các nguồn vốn cần có cho việc đầu tư và phát triển được huy động
trước hết từ các khoản tiền tiết kiệm trong nước. Ngoài ra còn phải nhờ đến
phẩm được dùng để viện trợ khẩn cấp. Việc vay mượn không còn đơn giản
chỉ là sự đồng ý giữa hai bên và số tiền từ bên cho vay sẽ chuyển thẳng sang
bên nhận mà bây giờ phải trải qua hàng loạt các công đoạn. Các công đoạn
này cần nhiều thời gian và điều kiện làm hạn chế số lượng tiền mà các nước
nghèo nhận được.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước bị tàn phá nặng nề, nhất là
về kinh tế, đặc biệt là các nước Châu Âu. Trong khi đó, Mỹ, nước cũng tham
gia vào thế chiến II lại không bị tổn thất nặng nề do chiến tranh không tới
được nước Mỹ, đã nhanh chóng giàu lên và chiếm vị trí mạnh nhất thế giới.
Với sức mạnh mọi mặt, nổi bật nhất là về kinh tế, Mỹ đã đưa ra kế hoạch
Marshall vào năm 1947 nhằm vừa trợ giúp các nước Châu Âu nhưng cũng
vừa chi phối, kiểm soát các nước này.
Để được tiếp nhận nguồn viện trợ từ kế hoạch Marshall, các nước Châu
Âu đã đưa ra chương trình phục hồi kinh tế và thành lập Tổ chức hợp tác kinh
8
tế Châu Âu, sau trở thành Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization
for Economic Cooperation and Development – OECD) vào ngày 14/12/1960.
Tổ chức này có những đóng góp quan trọng trong việc cung cấp ODA song
phương và đa phương. Trong khuôn khổ hợp tác và phát triển, các nước
OECD đã lập ra các Uỷ ban chuyên môn, trong đó có Uỷ ban Hỗ trợ phát
triển (Development Asistance Committee – DAC) nhằm mục đích giúp các
nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư. Thành
viên ban đầu của DAC gồm 18 nước: Australia, Áo, Ai xơ len, Bỉ, Canada,
Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Tây Đức, Italia, Nhật Bản, Hà Lan, Niu Di lân,
Na Uy, Thuỵ Điển, Thuỵ Sỹ, Anh và Mỹ. Ngoài ra, OECD còn có thêm Uỷ
ban Cộng đồng Châu Âu. Hiện nay, DAC có thêm Bồ Đào Nha, Luc xem bua
và Tây Ban Nha.
Theo Uỷ ban viện trợ phát triển (DAC), viện trợ phát triển chính thức là
nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho
vay với các điều kiện ưu đãi; ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các
nước đang và kém phát triển (và các tổ chức nhiều bên), được các cơ quan
chính thức của các chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan
thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính
phủ tài trợ. Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, một
địa phương, một ngành được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam
kết tài trợ, thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai
bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp định quốc tế hỗ trợ này chỉ được chi phối
bởi công pháp quốc tế.
Theo định nghĩa của Nhật Bản, một loại viện trợ muốn là ODA phải có
đủ 3 yếu tố:
- Do Chính phủ hoặc cơ quan thực hiện của Chính phủ cấp.
10
- Có mục đích góp phần phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho
nước nhận viện trợ.
- Tính ưu đãi (grant element) phải trên 25%.
Trong đó, tính ưu đãi là một chỉ số tổng hợp từ 3 yếu tố: lãi suất, thời
hạn trả nợ và thời gian hoãn trả nợ (thời gian ân hạn trong tương quan so sánh
với các yếu tố tương tự của ngân hàng thương mại. Ví dụ, viện trợ không
hoàn lại trong ODA có tính ưu đãi là 100%, còn tính ưu đãi chung cho ODA
của Nhật năm 1994 là 76,6% [23, 11]).
Theo PGS. TS Nguyễn Quang Thái (Viện chiến lược phát triển), hỗ trợ
phát triển chính thức ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay
với điều kiện ưu đãi (về lãi suất, thời gian ân hạn và trả nợ) của các cơ quan
chính phủ thuộc các nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ
nước này.
Dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng ODA có những đặc điểm chính là:
- Do Chính phủ của một nước hoặc các tổ chức quốc tế cấp cho các cơ
quan chính thức của một nước.
- Không cấp cho những chương trình, dự án mang tính chất thương
mại, mà chỉ nhằm mục đích nhân đạo, giúp phát triển kinh tế, khắc phục khó
khăn về tài chính hoặc nâng cao lợi ích kinh tế – xã hội của nước nhận viện
trợ.
- Tính ưu đãi chiếm trên 25% giá trị của khoản vốn vay.
Quá trình cung cấp ODA mang lại lợi ích cho cả hai phía: bên các nước
đang và kém phát triển có thêm khối lượng lớn nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài
để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, cải thiện điều kiện sống của người dân.
Phía còn lại cũng đạt được những lợi ích trong các điều kiện bắt buộc kèm
theo các khoản viện trợ cho vay, đồng thời gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động của các công ty của mình khi thực hiện đầu tư tại các nước
nhận viện trợ.
12
Mặt khác, viện trợ ODA mang tính nhân đạo, thể hiện nghĩa vụ đồng
thời là sự quan tâm giúp đỡ của các nước giàu đối với các nước nghèo, tăng
cường thúc đẩy mối quan hệ đối ngoại tốt đẹp giữa các quốc gia với nhau,
giữa các tổ chức quốc tế với các quốc gia.
1.1.3. Phân loại ODA
Tuỳ theo tính chất, mục đích, điều kiện… mà ODA được phân chia
thành các loại khác nhau. Việc phân loại này hết sức cần thiết nhất là đối với
nước được nhận. Việc xem xét, phân đúng loại ODA sẽ giúp cho việc sử dụng
chúng đúng mục đích và có hiệu quả cao hơn.
a. Phân loại theo phương thức hoàn trả, theo tính chất: ODA có 3
+ Hỗ trợ kỹ thuật: các tổ chức tài trợ thực hiện việc chuyển giao công
nghệ hoặc truyền đạt những kinh nghiệm xử lý, bí quyết kỹ thuật… (thông
qua các chuyên gia quốc tế) cho nước nhận ODA.
+ Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: các nước tiếp nhận ODA dưới hình
thức hiện vật như lương thực, vải, thuốc chữa bệnh có khi là vật tư cho
không… Những khoản viện trợ này nếu không được yêu cầu từ phía tiếp nhận
thì thường là những vật phẩm được đóng góp tự nguyện từ quần chúng hoặc
từ các tổ chức từ thiện của bên cung cấp.
- Viện trợ có hoàn lại (còn gọi là tín dụng ưu đãi): là các khoản cho vay
ưu đãi, tức là cho vay với những điều kiện thuận lợi, dễ dàng hơn như: lãi suất
thấp, thời gian vay kéo dài… Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản
tiền (tuỳ theo quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi (chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số vốn ODA trên thế giới) là nguồn thu phụ thêm (nhà
nước phải đi vay) để bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước. Vì vậy, nó chỉ
được sử dụng dưới hình thức tín dụng đầu tư cho các mục đích có khả năng
thu hồi vốn, hoàn trả lại cho nhà nước cả vốn và lãi để trả nợ nước ngoài.
Tín dụng ưu đãi không sử dụng cho nhu cầu tiêu dùng xã hội mà
thường được sử dụng để ưu tiên đầu tư thực hiện các chương trình quốc gia,
14
đặc biệt là các dự án và chương trình xây dựng hoặc cải tạo cơ sở hạ tầng kinh
tế xã hội thuộc các lĩnh vực: năng lượng, giao thông vận tải, nông nghiệp,
thuỷ lợi, thông tin liên lạc để làm nền tảng vững chắc cho ổn định và tăng
trưởng kinh tế, thúc đẩy đầu tư của tư nhân trong và ngoài nước; bù đắp thâm
hụt trong cán cân thanh toán quốc tế do nhập siêu… để Chính phủ các nước
tiếp nhận có thể quản lý tốt hơn ngân sách trong giai đoạn cải cách hệ thống
tài chính hay chuyển đổi hệ thống kinh tế (điều chỉnh cơ cấu) hoặc dùng để
xoá đói giảm nghèo, tạo điều kiện thuận lợi cho nước nhận ODA phát triển
Mỹ ngày càng giảm đi: năm 1999 – 2000, Mỹ chỉ dành 0,1% GND cho viện
trợ nước ngoài - mức thấp nhất so với các nước Canada, EU và Nhật Bản,
mặc dù Mỹ là nước giàu có nhất.
Bảng 1: LƯỢNG ODA TỪ CÁC NƯỚC OECD (Triệu USD).
(Xếp theo thứ tự nước cung cấp nhiều nhất trong năm 1990)
TT
Nước cung cấp
1975
1980
1985
1987
1988
1989
1990
1
Mỹ
4.161
7.138
9.403
9.115
10.141
7.676
11.394
2
Pháp
2.093
4.162
3.995
6.525
6.865
Anh
904
1.854
1.530
1.871
2.645
2.587
2.638
7
Hà Lan
608
1.630
1.136
2.094
2.231
2.094
2.592
8
Canada
880
1.075
1.631
1.885
2.347
2.320
2.470
9
Thuỵ Điển
566
962
1.020
995
13
Bỉ
378
595
440
687
601
703
889
14
Phần Lan
48
110
211
433
608
706
846
15
Thuỵ Sỹ
104
253
302
547
617
558
750
Nguồn: World Development Report 1992 [23, 16]
Trong thời kỳ Liên Xô và Đông Âu, các nước thuộc Hội đồng tương
trợ kinh tế (Khối SEV) cũng là những nước cung cấp các khoản viện trợ quan
trọng. Các khoản này được chuyển tới các nước xã hội chủ nghĩa từ năm 1947
đến năm 1980 là hơn 21 tỷ USD. Nếu so sánh với các nước tư bản chủ nghĩa
trong OECD đóng góp, số này chỉ đạt một tỷ lệ khiêm tốn (khoảng 10%)
nhưng cũng thể hiện sự cố gắng giúp đỡ lẫn nhau của các nước trong cùng hệ
thống xã hội chủ nghĩa trong điều kiện lúc đó nền kinh tế các nước này vẫn
còn gặp rất nhiều khó khăn. Từ sau khi khối SEV giải thể, các nước hội viên
SEV không còn vai trò gì đáng kể trong việc đóng góp cung cấp ODA.
Vào giữa những năm 70, một nguồn viện trợ khác: Quỹ Phát triển
kinh tế Ả rập của Kuwait xuất hiện cùng với sự phát triển của các nước sản
xuất dầu mỏ Trung Đông. Đặc biệt là Ả rập Xê út, Angieri, Kuwait, Iraq,
Quatar… Từ năm 1947 đến năm 1980, lợi tức dầu lửa từ các nước này được
sử dụng cho các khoản viện trợ đã lên đến hơn 35 tỷ USD. Phần lớn khoản
viện trợ này được chuyển tới các nước ở Châu Phi và Châu Á.
Ngoài ra còn có các nước công nghiệp phát triển không nằm trong
DAC và một số nước đang phát triển như Trung Quốc cũng tham gia vào đội
ngũ các nhà tài trợ quốc tế.
ODA song phương là nguồn vốn chuyển trực tiếp giữa hai chính phủ
với nhau nên thủ tục tiến hành cung cấp và tiếp nhận so với nguồn ODA đa
phương đơn giản hơn, thời gian ký kết viện trợ cũng nhanh hơn. Song các
nước cung cấp yêu cầu nội dung của các khoản viện trợ phải rất chi tiết và cụ
thể.
17
Tuy nhiên, viện trợ song phương lại có những ràng buộc về điều kiện
cho vay. Chẳng hạn, bên viện trợ sẽ đảm nhận việc đào tạo chuyên gia, cố vấn
+ Ràng buộc về điều kiện kinh tế – chính trị: nước cấp ODA đưa ra
những điều kiện nhằm mục đích tác động đến chính sách kinh tế – xã hội của
nước nhận theo hướng mà bên cung cấp mong muốn. Đó là:
i. Nước nhận phải cam kết phát triển kinh tế theo mô hình kinh tế thị
trường.
ii. Nước nhận nguồn vốn ODA phải dành một phần nhất định trong
nguồn ODA cho phát triển kinh tế tư nhân.
iii. Nước nhận ODA phải ưu tiên cho các công ty của nước cung cấp
ODA một số địa bàn hay lĩnh vực kinh tế cụ thể.
Tuy nhiên, tuỳ theo từng quốc gia viện trợ ODA mà các điều kiện
ràng buộc có những nội dung cụ thể khác nhau. Chẳng hạn, viện trợ ODA của
Thuỵ Sỹ đòi hỏi đối tác phải ký kết Hiệp định hoặc Bản ghi nhớ trong đó cụ
thể hoá những mục tiêu hoạt động và nguồn tài chính cung cấp cho từng giai
đoạn hoặc Tây Ban Nha cung cấp viện trợ không hoàn lại trong khoảng từ
36% đến 80% trong tổng ODA tuỳ theo quốc gia và dự án được tài trợ.
Vài ví dụ về các ràng buộc kinh tế – chính trị trong nhận ODA:
* Cuối năm 1998, một nhóm các nước giàu gặp nhau tại Anh và đề
nghị viện trợ cho Myanmar 1 tỷ USD nếu nước này chấp nhận “cải cách dân
chủ”, tức là phải có những cải cách chính trị nhằm vào việc kết thúc chế độ
quân sự và phải chấm dứt cấm đoán phe đối lập Liên minh dân tộc vì dân chủ.
Trước đó, năm 1997, Mỹ và EU đã áp đặt lệnh cấm vận đối với
Myanmar và cấm tất cả đầu tư của Mỹ vào đất nước này. Tháng 11/1999, WB
cũng công bố một báo cáo chê trách nền kinh tế của Myanmar và khuyến cáo
rằng nước này cần có những cải tổ chính trị trước khi nhận được bất kỳ khoản
viện trợ nào.
19
* Năm 2000, nước Anh ra thông báo chuẩn bị cho một chính sách mới