Giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển từ sau chiến tranh lạnh đến nay thực trạng và triển vọng - Pdf 13


Học viện chính Trị-hành chính Quốc Gia Hồ Chí Minh Báo cáo
Tổng hợp kết quả nghiên cứu
đề tài khoa học cấp bộ năm 2009
Msố: B09-12

giai cấp công nhân ở các nớc t bản
phát triển từ sau chiến tranh lạnh
đến nay- Thực trạng và triển vọng Cơ quan chủ trì: viện quan hệ quốc tế

Chủ nhiệm đề tài : PGS,TS Nguyễn thị quế
Th ký đề tài : ThS Nguyễn Minh Thảo 9100
Hà nội - 12/2009

6. Công nhân quốc tế CNQT
7. Cộng sản chủ nghĩa CSCN
8. Đảng cộng sản - Công nhân ĐCS - CN
9. Đảng cộng sản công nhân quốc tế ĐCSCNQT
10. Giai cấp công nhân GCCN
11. Giai cấp tư sản GCTS
12. Giai cấp vô sản GCVS
13. Hiện đại hoá HĐH
14. Khoa học công nghệ KHCN
15. Khoa học kỹ thuật KHKT
16. Lực lượng sản xuất LLSX
17. Phong trào công nhân PTCN
18. Phong trào cộng sản PTCS
19. Phong trào cộng sản công nhân quốc tế PTCSCNQT
20. Phương thức sản xuất PTSX
21. Quan hệ sản xuất QHSX
22. Tư bản chủ nghĩa TBCN
23. Tư bản phát triển TBPT
24. Tư liệu sản xuất TLSX
25. Toàn cầu hóa TCH
26. Xã hội chủ nghĩa XHCN Mục lục

Trang
Mở đầu
1
Phần thứ nhất:
bối cảnh mới của thời đại ảnh hởng đến giai

67
Phần thứ ba:
Đặc trng cơ bản và triển vọng của giai cấp
công nhân ở các nớc t bản phát triển trong hai thập
niên tới

91
I. Đặc trng cơ bản của giai cấp công nhân ở các nớc t bản phát triển
và một số vấn đề lý luận đặt ra
91
II. Triển vọng của giai cấp công nhân ở các nớc t bản phát triển trong
hai thập niên tới
111
III. Một số ý nghĩa đối với việc xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam
rút ra từ nghiên cứu giai cấp công nhân ở các nớc t bản phát triển
121
Kết luận
141
Tài liệu tham khảo
143 1
Mở ĐầU 1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại bớc sang thế kỷ XXI với những diễn biến quốc tế phức tạp,
khó lờng đã và đang tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp đổi mới, công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của Vit Nam. Đảng ta nhận định: Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có

(1)
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX., Nxb CTQG, H. 2001, tr 64

2
tiễn đối với các đảng cộng sản (CS), trong đó có Đảng ta. Việc phân tích
những biến động của GCCN ở các nớc TBPT sẽ góp phần làm rõ và kiểm chứng
tính khoa học và thực tiễn trong các nhận định đánh giá và các giải pháp đợc
Đảng ta đa ra nhằm xây dựng GCCN Việt Nam tại Nghị quyết Trung ơng 6 -
khóa X.
Nhằm phục vụ trực tiếp công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị
và thực tiễn về phong trào cộng sản và công nhân quốc tế (PTCS-CNQT) trong
giai đoạn hiện nay tại hệ thống Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh, đồng thời góp phần vào công tác t tởng lý luận của Đảng ta trong thời
điểm Đảng đang tích cực triển khai nghiên cứu bổ sung, phát triển Cơng lĩnh và
chuẩn bị các văn kiện cho Đại hội lần thứ XI, chúng tôi quyết định chọn đề tài:
Giai cấp công nhân ở các nớc t bản phát triển từ sau chiến tranh lạnh đến
nay - Thực trạng và triển vọng làm đề tài khoa học cấp bộ năm 2009.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ nhiều năm nay, việc nghiên cứu GCCN ở các nớc TBPT trong điều
kiện cách mạng KHCN và TCH đợc các cơ quan, viện nghiên cứu, các học giả
trong và ngoài nớc quan tâm với quy mô và mức độ khác nhau.
ở ngoài nớc: Các công trình nghiên cứu tổng thể về cơ cấu giai cấp về
số lợng, chất lợng GCCN thờng do các tổ chức công đoàn tiến hành theo thời
gian, ngành và với những mục đích rất cụ thể. Do đó, hầu nh không tìm thấy
một cuốn sách nào đề cập sâu và hệ thống về vấn đề này, mà chủ yếu chỉ là các
báo cáo và bài nghiên cứu. Ví dụ, báo cáo: Tiến tới xã hội thông tin, cơ cấu việc
làm của các nớc G7 của M. Castells và Yokoao Yama là hai chuyên gia của
Ngân hàng Thế giới đa ra vào năm 1995 đã tập trung phân tích sự biến động
của cơ cấu GCCN các nớc công nghiệp phát triển nhất (G7) trớc sự biến động
của cơ cấu việc làm khi các nớc này bớc sang nền kinh tế tri thức.

triển lành mạnh thì càng có lợi cho việc thực hiện quyền lợi kinh tế, chính trị,
văn hóa của GCCN. Phát triển lành mạnh KHKT và vứt bỏ sự tha hóa của KHKT
là điều kiện căn bản để cuối cùng xóa bỏ chế độ t hữu, thiết lập xã hội hoàn
toàn mới, thực hiện triệt để giải phóng GCCN.
Trong bài viết Sự chuyển biến mang tính lịch sử về hình thái tổ chức của
đảng cộng sản ở các nớc t bản chủ nghĩa
đăng trên tạp chí Nghiên cứu chủ
nghĩa xã hội (Trung Quốc), số 6- 2007, giáo s Nhiếp Văn Lân nêu rõ: từ
những năm 70 của thế kỷ XX, đặc biệt khi Liên Xô tan rã, lý luận và thực tiễn
của CS ở các nớc t bản có thay đổi to lớn và sâu sắc. Sự chuyển biến về hình
thái tổ chức của CS là có tính lịch sử và quan trọng nhất: từ chính đảng đội tiên
phong chuyển thành chính đảng mang tính quần chúng hiện đại. Ngoài ra có thể
kể đến một số công trình khác nh: G8 và hơn tỷ ngời nghèo trên thế giới của
Paul Collier (http://www.internationalepolitik.de); Chủ nghĩa xã hội dân chủ: ý
thức hệ của giai cấp công nhân châu Âu của Tào á Hùng, Trơng Phợng
Quyên (tạp chí Nghiên cứu chủ nghĩa xã hội (Trung Quốc), số 3-2007);Nền

4
kinh tế mới và phong trào công nhân của M.D Yates, http://www.monthlyre-
view.org/0607/yates.htm; Nớc Pháp năm 2006: Cải cách hay là cách mạng
của G Skorov (tạp chí Kinh tế thế giới và các quan hệ quốc tế (Nga), số 11-
2006); Nợ nớc ngoài và nghèo đói ở Mỹ latinh của Manuel Lopez (http:
//www.communist.ru, 19-5-2007); Quan niệm mới về giai cấp những ngời lao
động trong xã hội t bản hiện đại của A Xakhnin (http://www.cprf.ru, 10-7-
2006); Thực trạng cuộc sống của ngời lao động Mỹ của Michel Parenty trích
từ cuốn sách Nền dân chủ cho thiểu số (Democracy for the Few, Nxb
Generation, New York 2006); Hệ thống thị trờng lao động Nhật Bản: Còn
nhiều việc phải làm của tạp chí The Economist (Anh), số ra ngày 1/12/2007;
Phong trào công đoàn ở châu Âu trong bối cảnh toàn cầu hoá của Cố Hân,
Phạm Dậu Khánh, năm 2007; Cơ sở xã hội của những ngời cánh tả của

đó. Ngoài ra, có thể thu thập các thông tin thời sự liên quan đến GCCN các nớc
TBPT trên Tin tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam, các trang quốc tế
của báo Nhân dân, báo Quân đội nhân dân, trang tin của Tổng Liên đoàn lao
động Việt Nam, v.v
Xét một cách tổng quát, kết quả của tất cả công trình nghiên cứu trên là
nguồn tài liệu quan trọng và cần thiết, có thể khai thác, kế thừa và tham khảo cho
việc thực hiện đề tài Giai cấp công nhân ở các nớc t bản phát triển từ sau
chiến tranh lạnh đến nay - Thực trạng và triển vọng.
3. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu đối tợng chính là
giai cấp công nhân - giai cấp những ngời lao động ở các nớc TBPT.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài đợc giới hạn nghiên cứu ch yu về giai cấp
công nhân ở 7 nớc TBPT thuộc nhóm G7, ngoài ra còn nghiên cứu về GCCN
Bắc Âu và Nam Âu với những nội dung chính là:
+ Sự biến động cơ cấu GCCN trong điều kiện kinh tế tri thức và TCH.
+ Sự biến động về số lợng và chất lợng.
+ Sự thay đổi về mục tiêu, nội dung, phơng pháp đấu tranh của GCCN
với giới chủ và chính phủ t sản hiện hành.
+ Về thời gian: đợc giới hạn từ sau chiến tranh lạnh đến nay.
4. Mục tiêu của đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ thực trạng của
giai cấp công nhân ở các nớc TBPT (G7), ngoài ra còn nghiên cứu giai cấp công
nhân Bắc Âu và Nam Âu từ sau chiến tranh lạnh đến nay, đồng thời nêu những
dự báo xu hớng biến đổi của giai cấp công nhân ở các nớc này trong hai thập
niên tới. Trên cơ sở đó rút ra một số ý nghĩa đối với việc xây dựng GCCN Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Nhiệm vụ: Từ mục tiêu nêu trên, đề tài có các nhiệm vụ chính là:

6
+ Phân tích những biến động của GCCN ở các nớc TBPT thuộc G7, Bắc

7
Phần thứ nhất
bối cảnh mới của thời đại ảnh hởng đến giai cấp
công nhân ở các nớc t bản phát triển I. Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp công nhân
Khi đề cập đến giai cấp công nhân, Mác và Ăngghen đã sử dụng nhiều
thuật ngữ khác nhau nh những cụm từ đồng nghĩa, có nội hàm giống nhau để
chỉ giai cấp này nh: "giai cấp vô sản", "vô sản đại cơ khí", "vô sản đại công
nghiệp", "giai cấp những ngời lao động làm thuê của thế kỷ XIX", "giai cấp vô
sản hiện đại", "giai cấp công nhân hiện đại" Các nhà kinh điển của chủ nghĩa
xã hội khoa học không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra giai cấp vô sản, giai cấp công
nhân l gì, mà quan trọng hơn, giai cấp này phải làm gì để tự giải phóng mình?
Giai cấp vô sản là gì? vấn đề này đã đợc C.Mác, Ph.Ănghen đề cập trong nhiều
tác phẩm, và hai ông đã nêu nhiều thuộc tính của giai cấp vô sản.
Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen- lời
nói đầu, Mác đã chỉ ra nguồn gốc kinh tế, xã hội, xu hớng phát triển của giai
cấp vô sản (GCVS), và Mác nêu rõ: ở Đức GCVS chỉ mới bắt đầu hình thành nhờ
sự phát triển của công nghiệp. Giai cấp vô sản ra đời gắn với công nghiệp, nó là
sản phẩm của công nghiệp. Về mặt xã hội, GCVS nảy sinh và hình thành trong
quá trình tan rã của xã hội phong kiến chuyển lên chế độ TBCN, do sự phân rã của
tất cả các đẳng cấp, trớc hết là sự phân rã của đẳng cấp trung gian. Xu hớng
phát triển của GCVS là đi tới chỗ xóa bỏ nó với t cách là một giai cấp
(2)
.
Trong tác phẩm Gia đình thần thánh, C.Mác, Ph.Ănghen phân tích mối
quan hệ giữa GCVS và chế độ t hữu. Hai ông chỉ ra rằng, GCVS là sản phẩm
của chế độ t hữu và cũng là điều kiện tồn tại của chế độ t hữu. Chế độ t hữu
muốn duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của bản thân nó, thì nó phải duy trì sự tồn tại

lợi nhuận của bất cứ số nhà t bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau
khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao
động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào
những sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại,
GCVS hay giai cấp của những ngời vô sản là giai cấp lao động trong thế kỷ
XIX Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra
(5)
.
Lần đầu tiên, Mác và Ăngghen đã trình bày khái niệm GCVS tơng đối
đầy đủ trên các phơng diện trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và có thể
khái quát lại với một số điểm chủ yếu là: Thứ nhất, về nguồn gốc kinh tế, GCVS
ra đời gắn với đại công nghiệp, là sản phẩm của chính bản thân nền đại công
nghiệp, nền sản xuất xã hội hoá ngày càng cao. Thứ hai, về nguồn gốc xã hội,
GCVS đợc tuyển mộ từ tất cả các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Thứ ba, những
đặc trng chủ yếu của GCVS hiện đại bao gồm: không có t liệu sản xuất; về lợi
ích cơ bản, đối lập trực tiếp với GCTS; GCVS là hiện thân của phơng thức sản
xuất (PTSX) tiên tiến; có tính quốc tế, tinh thần quốc tế vô sản, tính tiên phong,
tinh thần cách mạng triệt để, đoàn kết giai cấp, tính tổ chức kỷ luật cao. Thứ t, ( 3)
C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tr.56
(4)
C.Mác, Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, Hà nội 1995, tr 348-349, 353-354
(5)
C.Mác, Ph. Ăngghen: Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội 1995, tr. 456-457
9

Về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: Có thể diễn đạt khái quát
nhất những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin về sứ mệnh lịch sử của
GCCN là tiến hành sản xuất hiện đại và đấu tranh cách mạng để giải phóng con
ngời. Sứ mệnh lịch sử đó biểu hiện qua những nội dung cơ bản sau: (6)
C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 1995, t.4, tr. 611-624.

10
Một là, thờng xuyên và trực tiếp nhất gắn với quá trình tổ chức, phát triển
sản xuất xã hội với trình độ KHKT ngày càng hiện đại. Tách rời sản xuất hiện
đại, GCCN không còn sứ mệnh lịch sử với những nội dung tiếp theo. Đó là một
nhận thức khoa học rút ra từ thực tế lịch sử hình thành, phát triển GCCN. Sứ
mệnh lịch sử của GCCN không chỉ bắt đầu với nội dung "giành chính quyền",
mà trái lại có nội dung rộng lớn hơn kể cả trớc khi giành chính quyền. Từ nội
dung sản xuất hiện đại và đấu tranh cách mạng mới dẫn đến nội dung "giành
chính quyền".
Hai là, thông qua Đảng tiên phong của mình, GCCN lãnh đạo và tổ chức
quá trình giành chính quyền về tay mình và nhân dân lao động xoá bỏ chế độ t
bản chủ nghĩa (và các chế độ t hữu, áp bức bóc lột), xoá bỏ GCTS (và các giai
cấp bóc lột), giải tán chính quyền Nhà nớc của các chế độ cũ, thành lập chính
quyền của GCCN và nhân dân lao động, do Đảng của GCCN nhân lãnh đạo.
Ba là, GCCN thông qua Đảng của mình lãnh đạo, tổ chức thực hiện quá
trình củng cố, bảo vệ chính quyền, bảo vệ đất nớc và đồng thời xây dựng đất
nớc theo định hớng XHCN trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội, con ngời , để từng bớc hình thành xã hội XHCN và cộng sản chủ nghĩa
trên thực tế ở mỗi nớc và trên toàn thế giới. Đây là nội dung cơ bản, quyết định
nhất trong sứ mệnh lịch sử của GCCN. Vì thế, chủ nghĩa Mác - Lê nin đã luận
giải một cách khoa học rằng: Đó là những quá trình cải biến cách mạng căn bản,

đợc bổ sung một lực lợng trí thức và những ngời lao động khác, giác ngộ, gia
nhập GCCN; thậm trí một số trí thức giác ngộ đã giúp GCCN hình thành hệ t
tởng, hiểu về sứ mệnh lịch sử của mình, tiến tới hình thành Đảng tiên phong để
lãnh đạo phong trào. Đó cũng là sự quy định khách quan đối với sứ mệnh lịch sử
của GCCN mà không giai cấp - tầng lớp nào có đợc. Thứ t, tính quy định
khách quan, cơ bản nhất và mang ý nghĩa tổng hợp cả về địa vị kinh tế lẫn về
chính trị - xã hội đối với sứ mệnh lịch sử của GCCN là: Ngay từ trong chế độ
TBCN đã nẩy sinh mâu thuẫn cơ bản nhất, đó là mâu thuân về mặt kinh tế, giữa
LLSX xuất phát triển, với trình độ xã hội hoá, quốc tế hoá ngày càng cao với
quan hệ sản xuất (QHSX) dựa trên chế độ chiếm hữu t nhân TBCN về TLSX
mâu thuẫn đó biểu hiện về mặt chính trị - xã hội là mâu thuẫn giữa GCCN với
GCTS. Cả hai mặt của mâu thuẫn cơ bản này không thể giải quyết triệt để trong
khuôn khổ chế độ t bản chủ nghĩa, nên tất yếu dẫn tới cách mạng XHCN nh
một yêu cầu khách quan để giải quyết triệt để mâu thuẫn cơ bản ấy cho kinh tế,
xã hội tiếp tục phát triển cao hơn chế độ TBCN. Lãnh đạo và tổ chức quá trình
cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, chủ nghĩa cộng sản, chỉ có thể là sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và Đảng của nó. Ph.Ăngghen khẳng định:
Hoàn thành đợc kỳ công ấy, đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại.
Còn Lênin chỉ rõ: "điều chủ yếu trong học thuyết của Mác là ở chỗ nó làm sáng
tỏ vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản là ngời xây dựng xã hội xã
hội chủ nghĩa"
(7)
. (7)
V.I Lênin - C.Mác - Ph. Ăngghen, Chủ nghĩa Mác, Nxb Tiến bộ, Matxcơva 1976, tr 61

12
Nh vậy, những đặc trng của GCVS mà Mác, Ăngghen đã nêu và Lênin

c cu kinh t cỏc nc t bn phỏt trin cú nhng thay i r
t c bn, theo
hng tng t trng khu vc dch v v gim t trng nụng nghip, cụng nghip.
Trong GDP, nụng nghip ch chim khong 2%, cụng nghip - ch to chim
khong 30 - 40%, khong 60% thuc v ngnh dch v. C cu ni b sn xut
cụng nghip v dch v thay i theo hng cỏc ngnh cụng nghip c in
(khai thỏc nguyờn, nhiờn liu, s ch ) gim d
n t trng v ý ngha; cỏc ngnh
sn xut, dch v da trờn cụng ngh cú hm lng khoa hc k thut cao ngy

13
càng có vị trí đáng kể. Ngày nay mục tiêu không dừng ở tái sản xuất mà là lao
động sáng tạo để tạo ra giá trị gia tăng cao, nhằm tăng khả năng cạnh tranh.
Thứ ba: Sự thay đổi cơ cấu kinh tế đã dẫn đến thay đổi cơ cấu nghề
nghiệp và cơ cấu giai cấp trong xã hội, trong đó có cơ cấu của GCCN. Nếu như
trong những năm 50 của thế k
ỷ XX, công nhân công nghiệp “cổ xanh” là thành
phần xã hội lớn nhất trong GCCN ở tất cả các nước TBPT (ở Mỹ công nhân “cổ
xanh” chiếm tới 2/5 lực lượng lao động), thì đến thập niên 90, nhóm công nhân
này ngày càng giảm sút về số lượng (ở Mỹ chỉ còn chiếm ít hơn 20% lực lượng
lao động, thậm chí đến năm 2000 còn chưa tới 10%). Trong đội ngũ GCCN, có
đến 60 - 70% là những người có trình độ KHKT, là nhân viên trong hệ thống tin
học, là người qu
ản lý, nhà giáo, các nhà khoa học tạo thành mô hình công
nhân tri thức, người ta còn gọi họ là tầng lớp trung gian mới.
Bản thân GCTS cũng biến đổi. Các nhà tư bản gia tộc truyền thống vẫn
tiếp tục tồn tại, nhưng tỷ trọng dần giảm xuống. Địa vị quyết định trong xã hội
của giai cấp chủ sở hữu tư bản cổ điển ngày càng giảm dần. Các công ty ngày
nay thường ph
ải huy động vốn qua hình thức cổ phần hoá. Số lượng chủ sở hữu

hiếu tiêu dùng của từng nhóm khách hàng riêng biệt. Lối sống của con người
ngày nay cũng chịu ảnh hưởng đáng kể của những biến đổi công nghệ. Với sự
phát triển dịch vụ tại gia, với những công cụ cơ khí hoá và tự động hoá, với
mạng lưới thông tin thông qua máy tính công việc nội trợ ngày nay đã được
giảm nh
ẹ đi rất nhiều. Người ta dành nhiều thời gian rỗi cho việc giải trí, sinh
hoạt xã hội, v.v
Thứ năm: Ở các nước TBPT, công nghệ thông tin và viễn thông đang trở
nên ngày càng phổ biến, được áp dụng trong tất cả các ngành công nghiệp và
dịch vụ. Cơ cấu việc làm cũng có những thay đổi sâu sắc theo hướng sử dụng
lao động có trí tuệ cao ngày càng tăng. Có nhiều việc làm mất đi do đổi mớ
i
công nghệ và sắp xếp lại sản xuất, nhưng lại có nhiều công việc mới được tạo ra
do xuất hiện một số ngành sản xuất mới có hàm lượng trí tuệ cao. Vị trí làm việc
“ảo” ra đời, không cần phải tiếp xúc trực tiếp trong công việc và giao dịch. Tuy
chưa phổ biến nhưng rồi hình thức làm việc này sẽ mở rộng trong tương lai, đòi
hỏi các phẩm chấ
t mới - cơ động và chủ động ở người lao động trong tương lai.
Công nghệ mới và các hình thức tổ chức lao động mới kéo theo sự thay
đổi về nhu cầu đối với người lao động có trình độ cao. Hiện nay, các doanh
nghiệp đều cần những lao động biết học tập và biết thích nghi với sự biến đổi
của cơ chế thị trường. Trình độ học vấn cao là cần thiế
t, nhưng quan trọng hơn
là người lao động phải làm chủ được tri thức, nhanh chóng áp dụng có hiệu quả
những tri thức mà mình đã học vào sản xuất. Điều đó cần có sự vững vàng trước
những biến động của xã hội, cần có khả năng thích nghi và sáng tạo - cả hai yêu
cầu này rất quan trọng để tạo vị thế cho người lao động có trình độ học vấn cao
đứng v
ững trong cơ chế thị trường. Được chuẩn bị tốt về mặt trí tuệ và về thái
độ nghề nghiệp để tiếp thu công nghệ ngày một tiên tiến, đội ngũ cán bộ khoa

n hoá , việc làm, gia đình, giới tính, tư tưởng, giáo dục luôn
luôn nổ ra và rất khó kiểm soát. Các hiện tượng sa đoạ đồi truỵ, bạo lực, tội
phạm gia tăng. Bất công xã hội có xu hướng ngày một tăng…
Ba là, những tiến bộ KHCN, đặc biệt trong lĩnh vực thông tin, đòi hỏi
trình độ của nguồn nhân lực phải cao hơn và năng động hơn. Người lao động có
được tính độc lậ
p cá nhân trong tổ chức làm việc, nhưng lại cần có một tri thức
tương đối rộng để có thể hội nhập với thị trường lao động quốc tế. Điều này có
tác động hai mặt: một mặt, nó tăng cường vai trò của yếu tố con người trong quá
trình sản xuất, nhưng mặt khác,nó làm cho họ rất dễ tổn thương trước những
thay đổi trong tổ chức lao động, vì h
ọ là một cá nhân đơn lẻ đối mặt với một
mạng lưới hết sức phức tạp.
Đối với công nhân trực tiếp sản xuất, họ chịu ảnh hưởng của việc phát
triển công nghệ mới và các hình thức tổ chức lao động mới. Có rất nhiều công
việc truyền thống sử dụng cơ bắp dần dần được thay thế bằng máy móc, nên

16
việc làm tương ứng giảm xuống, kéo theo một số người lao động không có việc
làm. Việc phân cực việc làm theo trình độ đang ngày càng gia tăng: một bên là
các hoạt động có hàm lượng tri thức và thông tin cao với mức lương cao, còn
bên kia là các hoạt động có hàm lượng cơ bắp cao, mức lương thấp. Trong hệ
thống sản xuất mới, người công nhân vừa trực tiếp sản xuất vừa đảm nhận các
chứ
c năng của nhà phân tích, nhà quản lý, do đó, đòi hỏi khả năng trí tuệ của họ
ở mức cao hơn nhiều so với chức năng khi họ chỉ là người thừa hành. Điều đó
đòi hỏi người công nhân phải có trình độ hơn, nắm bắt thông tin tốt hơn.
III. xu thÕ toµn cÇu hãa
Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng KHCN trên thế giới đã thúc đẩy
mạnh mẽ quá trình TCH. Sự bùng nổ của công nghệ sản xuất hiện đại và kỹ

một dây chuyền, xí nghiệp sản xuất nhất định. Thực tế này giúp cho công nhân,
người lao động mang quốc tịch khác nhau, với những giá trị văn hóa, tín ngưỡng
khác nhau không chỉ nhận thức sâu sắc hơn, mà còn trải nghiệm cái chung về lợi
ích, cái chung về địa vị xã hội của giai cấp mình, từ đó họ đoàn kết chặt chẽ h
ơn,
hành động nhất quán hơn trong cuộc đấu tranh bảo vệ lợi ích chung, vì mục tiêu
chiến lược chung.
Nếu như trước kia, mối liên kết quốc gia cho phép nhà nước đóng vai trò
phân phối lại nhằm giảm bớt sự bất bình đẳng xã hội và tránh rạn nứt xã hội, thì
từ khi diễn ra quá trình TCH, việc làm này đã bị giảm thiểu đáng kể, vì bất kỳ
chính sách phân phối lại nào cũng đều có thể
có hậu quả xấu đến tính cạnh
tranh. Do vậy, thu nhập thực tế của tầng lớp dưới ở các nước TBPTđang giảm
xuống một cách đáng kể.
Toàn cầu hóa, một mặt thúc đẩy sự phát triển, nhưng mặt khác cũng làm
gia tăng hố ngăn cách giàu nghèo và sự bất bình đẳng ở các nước TBPT giữa
một bên là lớp người có trình độ học vấn cao, được hưởng lươ
ng cao, còn bên
kia là những người không được học hành, hay nói đúng hơn là không có cơ hội
để được học, đang phải hứng chịu mọi hậu quả cạnh tranh trong thị trường lao
động. Sự gia tăng của tiến bộ công nghệ, nhất là trong lĩnh vực công nghệ thông
tin, đòi hỏi phải thích ứng thật nhanh chóng với mọi thay đổi và phát triển của
xã hội. Bên cạnh đó, TCH đòi hỏi từng cá nhân phả
i năng động, linh hoạt, có
khả năng làm việc theo êkíp, hoà hợp được với những người có tâm tính và quy
tắc xử sự khác nhau. Bên cạnh sự tương phản giàu nghèo, TCH đưa đến sự thất
nghiệp, tồn tại hố ngăn cách giữa những người có việc làm được trả lương cao
và những người bị gạt ra khỏi các nhà máy, xí nghiệp, đẩy người lao động không
có việc làm vào cảnh sống cùng quẫn.
D

nhất là qua con đường bất hợp pháp, cũng gây ra nh
ững tác động tiêu cực nhất
định cho nước tiếp nhận. Những nước có số lượng người nhập cư lớn thường
phải chịu sự quá tải về gánh nặng phúc lợi xã hội. Tình trạng người nhập cư
sống tập trung quá mức ở một số vùng nhất định tạo ra sức ép lớn đối với vấn đề
nhà ở, giao thông và các dịch vụ công cộng khác.
Vớ
i sự phát triển của TCH, quá trình dịch chuyển sản xuất và lao động từ
các nước TBPT đến các nước đang phát triển, cũng như tình trạng nhập cư tăng
mạnh đã khiến cho một bộ phận công nhân ở các nước này có xu hướng phát
triển theo xu hướng cánh hữu và sô vanh. Họ đấu tranh chống lại công nhân ở
các nước khác và chống lại người lao động nhập cư. Cuộc cạnh tranh tư bản
toàn cầu bị biến thành cuộc cạnh tranh của người lao động chống lại người lao
động. Điều này có nguyên do của nó: TCH càng đi vào chiều sâu càng thúc đẩy
các nhà đầu tư chuyển vốn ra nước ngoài, đồng thời với nó là làn sóng chuyển
công ăn việc làm ra ngoài lãnh thổ của các nước phát triển. Hậu quả của xu thế
này là không chỉ người lao động bị mất việc làm, mà hàng loạt tổ chức công
nhân ở các cơ s
ở, xí nghiệp ở các nước phát triển bị đóng cửa cũng buộc phải
giải tán. Cùng với đó là thái độ kỳ thị với lao động nhập cư. Mặc dù những năm
gần đây thái độ này đã có chuyển biến tích cực, song trong nội bộ GCCN ở các
nước TBPT, trong ý thức, tư tưởng của một bộ phận không nhỏ người lao động
vẫn chưa phải đ
ã loại bỏ được hoàn toàn quan niệm, thái độ thiếu thiện chí, phân
biệt chủng tộc với bộ phận những người lao động nhập cư. (9)
Maassey, World in Motion: Understanding Internationale Migration at the End of the Millennium, Oxford
University Press, 1998.

về sở hữu cũng thay đổi (trước kia chúng ta quan niệm sở hữu là sở hữu vật chất
về TLSX, nay là cả sở hữu trí tuệ), làm thay đổi cả quan niệm về quản lý (trước
kia là quản lý theo thứ bậc, nay là cả quản lý theo mạng). Trong kinh t
ế tri thức,
nguồn lực con người là yếu tố chủ yếu cạnh tranh trên thị trường, ưu thế về tri
thức ở mỗi quốc gia sẽ dần dần thay thế cho quan niệm ưu thế về vốn, nguồn
nguyên liệu và nhân công rẻ.
Kinh tế tri thức làm biến đổi căn bản cuộc cách mạng công nghiệp. Tức là
đồng thời với việc nâng cao hàm lượng tri thức trong các sản phẩ
m hàng hoá là
một loạt các thay đổi về LLSX và QHSX mới. Nếu so sánh với nền kinh tế công
nghiệp thì cuộc cách mạng công nghiệp trong thời kỳ kinh tế tri thức được thể
hiện chủ yếu là cách mạng tri thức, chứ không phải đơn thuần chỉ có cách mạng
công nghệ. Công nghiệp dựa trên cơ sở của cuộc cách mạng tri thức làm cho nội

20
dung và hình thức của các ngành công nghiệp phải chuyển hướng. Các ngành
kinh tế chủ yếu sẽ được thay thế bằng các ngành công nghiệp với hàm lượng tri
thức cao. Cơ cấu kinh tế lúc này không chỉ có ba khu vực nông nghiệp, công
nghiệp và dịch vụ mà thêm một lĩnh vực công nghiệp phần mềm hay còn gọi là
công nghiệp tri thức (ngành công nghiệp có hàm lượng tri thức cao). Đến lúc đó,
tỷ trọng trong nông nghiệp và công nghiệp chỉ chiếm mộ
t phần rất nhỏ so với tỷ
trọng dịch vụ và công nghiệp phần mềm trong kinh tế tri thức. Và cơ cấu lao
động cũng phải chuyển đổi cho phù hợp với cơ cấu của nền kinh tế mới này.
Kinh tế tri thức dựa trên cơ sở KHCN tiên tiến và mạng xa lộ thông tin
hiện đại, trong đó tri thức và công nghệ trở thành yếu tố quyết định nhất của sả
n
xuất, quan trọng hơn so với vốn, tài nguyên và lao động. Nhiều khái niệm đã
thay đổi, nhiều quy tắc hoạt động kinh tế trước đây không còn phù hợp nữa; đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status