LỊCH SỬ QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT - MỸ TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH ĐẾN NAY - Pdf 29

PHẦN MỞ BÀI
Sau chiến tranh lạnh, tình hình thế giới diễn biến phức tạp đầy biến động.
Trong tình hình đó nổi lên những xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế: Hoà
bình, ổn định và hợp tác để cùng phát triển, ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc
của các quốc gia và dân tộc trên thế giới; xu thế liên kết khu vực, liên kết quốc
tế về kinh tế, thương mại, chính trị ngày càng tăng, ý thức độc lập tự chủ, ý thức
về chủ quyền và bản sắc dân tộc ngày càng được nâng cao, nổi bật là xu thế vừa
hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình giữa các chế độ chính trị xã
hội khác nhau.
Trước xu thế như vậy, Tổng thống Bill - Clinton tuyên bố thiết lập quan hệ
ngoại giao với Việt Nam (11/7/1995) là phù hợp với xu thế phát triển của thế
giới hiện nay. Đó là một mốc quan trọng, chấm dứt 50 năm quan hệ bất bình
thường, mở ra một trang sử mới trong quan hệ hai nước.
Xuất phát từ nhận thức trên, việc nghiên cứu quan hệ Việt - Mỹ là rất cần
thiết vì đây là một vấn đề có ý nghĩa chính trị, thời sự quan trọng được khu vực
và thế giới quan tâm nghiên cứu. Qua đó làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt
ra trong quan hệ giữa hai nước, tiến tới đề xuất các kiến nghị, đóng góp vào
chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Mỹ.
Từ thực tiễn quan hệ Việt - Mỹ hơn 5 năm qua kể từ khi hai nước bình
thướng hoá quan hệ ngoại giao cho thấy sự lựa chọn đề tài này là phù hợp và
cần thiết.
Thời gian 5 năm cũng mới chỉ là giai đoạn đầu của quá trình lâu dài còn
đang tiếp tục tiếp diễn trong tương lai, nhiều vấn đề chưa bộc lộ hết còn đang
tiềm ẩn. Do vậy đề tài chỉ đánh giá quan hệ Việt - Mỹ 5 năm qua để thấy rõ
những biểu hiện cụ thể của hai nước. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cần thiết
và đưa ra những kiến nghị mới.
Chuyên đề được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của thầy
giáo Thái Văn Long - Viện quan hệ quốc tế - Học viện chính trị quốc gia.
Do hiểu biết và trình độ có hạn, bài viết khó tránh khỏi thiếu sót. Tác giả
rất mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô và các bạn.
1

(1)
Lưu Văn Lợi, Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam, NXB Công an nhân dân, năm 1998, tập 2, trang 268
2
bệnh và mất đột ngột tại Ma Cao, không hoàn thành được nhiệm vụ và cũng bỏ
lỡ cơ hội bang giao giữa hai nước.
Từ đó về sau, trong tình hình thâm nhập ngày càng sâu của Chủ nghĩa thực
dân Pháp ở Việt Nam, không có thêm cuộc tiếp xúc nào của Hoa Kỳ với Triều
đình Huế.
Nửa cuối thế kỷ XIX, trong lúc Thiên Hoàng Minh Trị đang đưa nước Nhật
Bản tiến mạnh mẽ vào con đường duy tân thì tình hình nước Việt Nam ngày
càng có nguy cơ mất nốt Trung Kỳ, Bắc Kỳ. Vua Tự Đức nhu nhược trước âm
mưu mở rộng xâm lược của thực dân Pháp, bác bỏ đề nghị cách tân của Nguyễn
Trường Tộ và nhiều nhà cách tân tâm huyết khác. Tuy vậy, ông vẫn muốn nắm
tình hình phương Tây để liệu điều chỉnh chính sách. Tháng 7/1873 Tự Đức cử
Bùi Viện, một nhà nho thức thời và năng động, đi ra nước ngoài, trước hết là tới
Hương Cảng. Do có sự giúp đỡ của Viện lãnh sự Mỹ tại Hương Cảng mà ông đã
làm quen. Bùi Viện đáp tàu sang Mỹ với hy vọng tìm được người bạn mới giúp
Việt Nam đánh Pháp. Tới Mỹ, ông được Tổng thống Ulysse Grant tiếp và hứa sẽ
giúp Việt Nam bảo vệ đất nước nhưng cần có quốc thư uỷ nhiệm chính thức của
Nhà nước Việt Nam. Khi Bùi Viện trở lại Mỹ, thực hiện chuyến công cán lần
hai vào năm 1875 với quốc thư của Vua Tự Đức trong tay, nhưng tình hình quan
hệ Mỹ - Pháp đã khác, Mỹ không còn muốn viện trợ cho Việt Nam chống Pháp
nữa vì lúc này Mỹ chưa có điều kiện cạnh tranh với thực dân Pháp.
Nếu trước đây Edmund Roberts hai lần tới Việt Nam mà đại sự không
thành thì Bùi Viện cũng hai lần sang Mỹ mà cũng trở về tay không, hai nước
vẫn chưa thiết lập được quan hệ ngoại giao. Khi nước Việt Nam trở thành thuộc
địa của Pháp, Mỹ đặt lãnh sự quán tại Sài Gòn và Hà Nội trong lúc đó họ cai trị
Philippin sau khi đánh bại Tây Ban Nha.
Cả hai cuộc tiếp cận lịch sử đều thất bại và từ đó Hoa Kỳ từ bờ Thái Bình
Dương đứng nhìn quá trình chủ nghĩa thực dân Pháp bóc lột nhân dân Việt Nam

số vũ khí, thuốc men bằng cách thả dù xuống khu căn cứ Việt Bắc hoặc đưa đến
Nam Ninh (Trung Quốc) để Việt Minh chuyển về nước. Đến tháng 8 thì nhóm
Thomas theo quân du kích của Hồ Chí Minh xuôi về Hà Nội, trở thành nhân
chứng của một trong những sự tích thần kỳ nhất trong lịch sử Việt Nam - ngày
Việt Nam tuyên bố độc lập.
Với cương vị Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, lại trực tiếp phục
trách công tác ngoại giao, Hồ Chí Minh đã thảo bản tuyên bố về chính sách
ngoại giao trong đó khẳng định chủ trương quan hệ hoà bình hữu nghị với tất cả
các nước trên thế giới, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền của
mỗi nước. Với Mỹ, Hồ Chí Minh tiếp tục duy trì những quan hệ đã có trong
chiến tranh. Nhân dân Chính phủ Việt Nam, Người đã gửi hàng chục bức thư,
điện, công hàm tới Tổng thống Truman, Chính phủ và Bộ Ngoại giao Mỹ. Nội
4
dung của các văn bản ấy xoay quanh vấn đề yêu cầu Mỹ ủng hộ nền độc lập của
Việt Nam, khẳng định sự hợp tác của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Tháng 10/1945 Tổng thống Truman ra tuyên bố 12 điểm về chính sách đối
ngoại của Mỹ, Hồ Chí Minh đã bày tỏ thái độ hoan nghênh và mong muốn
Chính phủ Mỹ sẽ thực hiện đúng tinh thần của Bản tuyên bố, ủng hộ chủ quyền
của các dân tộc nhược tiểu. Song lúc này Chính phủ Mỹ đã ngả hẳng sang chủ
trương ủng hộ Pháp trở lại Đông Dương. Những cố gắng trong quan hệ ngoại
giao chính thức với Mỹ đã không đạt kết quả. Tuy vậy, Việt Nam vẫn luôn chú ý
đến việc giữ tôn trọng của Chính phủ mình đối với vai trò của Mỹ trong đồng
minh, sự có mặt của đại diện phái bộ Mỹ trong các buổi lễ ký Hiệp định sơ bộ
ngày 6/3/1946 cũng như trong các văn bản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho
Chính phủ Mỹ đã nói lên điều đó.
Trong thời gian này, tuy quan hệ ngoại giao chính thức không thành công
nhưng quan hệ của Việt Nam với Chính phủ Mỹ vẫn có dấu hiệu khả quan thông
qua hình thức ngoại giao nhân dân mà điển hình là Hội hữu nghị Việt - Mỹ.
Ngày 2/9/1947, trong thư gửi Việt - Mỹ ái hữu hội, Hồ Chủ Tịch đã viết:
"Chúng ta không bao giờ quên sự hợp tác giúp đỡ thân ái của các bạn người Mỹ

có gì quí hơn độc lập tự do", nhân dân cả 2 miền đều đứng lên kiên quyết chống
Mỹ xâm lược.
Năm 1967 ta mở mặt trận ngoại giao phối hợp với mặt trận quân sự và mặt
trận chính trị cùng đánh Mỹ. Ta tăng cường đoàn kết với Liên Xô và Trung
Quốc cùng các nước xã hội chủ nghĩa khác, củng cố và phát triển mặt trận nhân
dân Đông Dương, đoàn kết với phong trào phản chiến ở Mỹ, kết hợp sức mạnh
dân tộc với sức mạnh thời đại.
Tuy nhiên, Nhà nước Việt Nam luôn luôn phân biệt rõ bạn - thù, phân biệt
rõ nhân dân Mỹ với những nhà cầm quyền của Mỹ theo đuổi chính sách chiến
tranh. Mục đích của nhân dân Việt Nam là đấu tranh để giành độc lập tự do, đem
lại hạnh phúc cho dân tộc và chung sống hoà bình với cộng đồng thế giới trên cơ
sở bình đẳng, hữu nghị. Vì vậy Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẵn sàng đàm
phán với điều kiện là quân Mỹ phải rút khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam. Với
mục đích đó, ta chủ trương buộc địch xuống thang từng bước, giành thắng lợi
từng phần. Sau thắng lợi tết Mậu Thân (1968), Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm
phán, mở cho ta cục diện vừa đánh vừa đàm, kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại
giao, tạo điều kiện cho thắng lợi sau này.
Sau bốn năm kiên trì đấu tranh, thương lượng, vào năm 1973, Mỹ phải ký
Hiệp định Paris, chịu rút quân Mỹ và đồng minh ra khỏi miền Nam trong lúc
quân miền Bắc vẫn ở lại miền Nam. Theo Hiệp định Paris 1973 thì "Hiệp định
này sẽ tạo điều kiện thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi giữa Việt
Nam dân chủ cộng hoà và Hoa Kỳ, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của
nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau".
6
Ngày 29/4/1975: sứ quán Mỹ đã rút hết số nhân viên và đóng cửa.
Ngày 30/4/1975 ta giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước mở ra một
chương mới trong lịch sử 4.000 năm của dân tộc Việt Nam. Cũng từ đó, sau khi
thua trên chiến trường, Mỹ lại quyết định lệnh cấm vận toàn Việt Nam. Việt
Nam và Mỹ cắt đứt quan hệ ngoại giao.
3. Quan hệ ngoại giao Việt - Mỹ từ năm 1976 - 1995

7
có cả việc phối hợp để chống Liên Xô
(4)
. Cuối 1978, Trung Quốc và Mỹ xúc
tiến đàm phán để bình thướng hoá quan hệ. Đối với Việt Nam, Tổng thống Mỹ
J.Carter đã quyết định xếp lại kế hoạch đàm phán. Vậy là cơ hội thiết lập quan
hệ ngoại giao Việt - Mỹ một lần nữa lại tuột khỏi tầm tay và bị bỏ lỡ.
Năm 1979 các cuộc đàm phán để bình thường quan hệ Việt - Mỹ ngừng trệ.
Vì phía Mỹ cho rằng Việt Nam đã vi phạm Luật quốc tế khi đưa quân vào
Campuchia để lập ra chính quyền Campuchia - Hiengxemrin. Mỹ đã lấy lý do
này để lôi kéo các nước ủng hộ những hành động chống phá Việt Nam dưới
danh nghĩa bảo vệ ổn định an ninh thế giới. Vấn đề Campuchia đã kéo theo sự
dính líu của nhiều nước và sự phân cực gay gắt trong nền chính trị khu vực. Từ
đó đánh dấu thời kỳ băng giá trong quan hệ Việt - Mỹ.
Tháng 1/1981, Tổng thống Mỹ Regan tuyên hệ nhậm chức. Dưới sức ép
mạnh mẽ về vấn đề MIA, ông đã hứa coi việc tìm kiếm người mất tích là ưu tiên
cao nhất của ông. Nhưng trong nhiệm kỳ đầu của ông, ngoại giao giữa hai nước
ít đạt được kết quả. Năm 1986, Việt Nam tiến hành đổi mới cải thiện vị thế của
mình trong khu vực và trên thế giới nên Mỹ bắt đầu thay đổi chính sách quan hệ
với Việt Nam.
Từ tháng 1 đến 3/8/1987 Tướng Vétxi đặc phái viên của Tổng thống Regan
thăm Việt Nam lần thứ nhất, thảo luận vấn đề nhân đạo mà 2 bên cùng quan
tâm.
Ngày 20/1/1988 Tổng thống Regan tuyên bố: Trong khung cảnh một giải
pháp cho vấn đề Campuchia bao gồm Việt Nam rút hoàn toàn quân đội ra khỏi
Campuchia, Mỹ sẵn sàng đi vào bình thường hoá quan hệ với Việt Nam trên cơ
sở tiến bộ trong vấn đề MIA trở lại trại cải tạo
(5)
.
Năm 1989, Tổng thống Bush đắc cử và đã quyết định thay đổi chính sách

Năm 1993, Bill Clinton đắc cử Tổng thống Mỹ. Chính quyền của Clintơn
cũng kế thừa chính sách "lộ trình" của chính quyền G.Bush, trong đó cốt lõi của
quá trình bình thường hoá quan hệ vẫn là "tốc độ và qui mô" của quá trình bình
thường hoá bị tác động bởi sự hợp tác của Việt Nam về vấn đề POW/MIA. Tuy
rằng lộ trình 4 giai đoạn cho quá trình bình thường hoá quan hệ với Việt Nam do
chính quyền Mỹ công bố tháng 4/1991 không chính thức được coi là bản chỉ dẫn
tuyệt đối cho việc cải thiện quan hệ 2 nước nhưng trên thực tế nhiều bước đi đã
diễn ra theo đúng lịch trình này. Ở giai đoạn 3, có 2 điều kiện Việt Nam phải
thực hiện là:
- Tiếp tục ủng hộ và khuyến khích sự ủng hộ của Chính phủ Phnôm Pênh
với Hiệp định hoà bình Campuchia, rút hết các cố vấn, lực lượng quân sự Việt
Nam ra khỏi Camuchia.
9
- Giải quyết các trường hợp POW/MIA không trùng khớp thông tin. Trên
thực tế, điều một Việt Nam đã hoàn thành và điều hai cũng được giải quyết tích
cực với sự giúp đỡ to lớn của Việt Nam. Phía Mỹ đã thực hiện đầy đủ các điều
ghi trong khoản 3: Huỷ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam
ngày 3/2/1994, mở văn phòng liên lạc và ngoại giao tại Hà Nội và mời Việt
Nam lập văn phòng tại Washingtơn cũng như ủng hộ các cơ quan hành chính
quốc tế viện trợ để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người ở Việt Nam.
Ở giai đoạn 4, không có đòi hỏi bổ xung yêu cầu Việt Nam thực hiện trong
giai đoạn này, Mỹ sẽ lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ với Việt Nam, xem xét
việc giành chế độ tối huệ quốc cho buôn bán với Việt Nam của Mỹ.
Ngày 28/1/1995, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Mỹ chính thức thông
báo mở cơ quan liên lạc ở thủ đô 2 nước.
Với nỗ lực và thiện trí của cả hai bên, 7/1995 chính thức bình thường
hoá quan hệ ngoại giao. Đây là một bước đi quan trọng đáp ứng nguyện
vọng của nhân dân hai nước, phù hợp với xu thế phát triển hiện nay của tình
hình quốc tế, đồng thời góp phần vào sự nghiệp hoà bình, ổn định và phát
triển ở Đông Nam Á.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status